ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
==============================
VŨ THỊ MƢỜI
ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
1
HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
==============================
VŨ THỊ MƢỜI
ĐẢNG BỘ TỈNH NINH BÌNH LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN TRỌNG PHÖC
2 - 2012
1.1.3. Điều kiện văn hóa – xã hội
17
1.2. CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tạo tiền đề xây dựng NTM tại
Ninh Bình.
20
1.2.1. Các Nghị quyết của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
20
1.2.2. CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Ninh Bình (1992 - 2000) 25
1.3. Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo xây dựng NTM (2001 – 2005)
33
1.3.1. Quan điểm của Đảng và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình về
xây dựng NTM
33
1.3.2. Kết quả bước đầu về xây dựng NTM của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
40
CHƯƠNG II: ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH
NINH BÌNH TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010
103
3.3.1. Cần nhận thức xây dựng NTM là sự nghiệp của chính nông dân, vì
nông dân với sự hướng dẫn, hỗ trợ của Nhà nước
103
3.3.2. Biết huy động, tranh thủ các nguồn lực của địa phương đồng thời sử
dụng có hiệu quả nguồn đầu tư của Nhà nước trong xây dựng NTM.
107
3.3.3. Các cấp ủy, chính quyền phải bám sát đặc điểm, tình hình địa phương
để đề ra các biện pháp, tiêu chí phù hợp đồng thời giải quyết đồng bộ vấn đề
nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
110
3.3.4. Xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức và trách nhiệm, có
trình độ chuyên môn, năng lực thực tiễn là nhân tố ảnh hưởng lớn đến kết
quả xây dựng NTM ở tỉnh Ninh Bình.
113
KẾT LUẬN
116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
nông thôn là một trong những nội dung quan trọng, ảnh hưởng lớn đến thành
quả chung của toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng. Chính vì vậy, Nghị
quyết Đại hội đại biểu lần thứ VII của Đảng năm 1991 đã xác định: “Phát
triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện
kinh tế NTM là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định kinh tế, xã hội” [22,
tr.63]. Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng
nhấn mạnh: “Hiện nay và trong nhiều năm tới đây vấn đề nông nghiệp, nông
dân, nông thôn có tầm chiến lược quan trọng” [29, tr.190], “Xây dựng hoàn
chỉnh các quy hoạch phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Thực hiện
chương trình xây dựng mới nhằm xây dựng các làng, xã, ấp, bản có cuộc sống
ấm no, văn minh, sạch đẹp, gắn với việc hình thành các khu dân cư đô thị hóa.
Phát huy dân chủ, xây dựng nếp sống văn minh, bài trừ các tệ nạn xã hội ở
nông thôn” [29, tr.195 – 196].
Mặc dù chủ trương xây dựng và phát triển nông thôn được Đảng ta đưa
ra khá sớm nhưng kết quả thực hiện xây dựng và phát triển NTM trong cả
nước nói chung, của Ninh Bình nói riêng còn tồn tại nhiều vấn đề cần quan
tâm và tập trung giải quyết. Đó là tỷ lệ thất nghiệp có xu hướng gia tăng
(nhiều thanh niên bỏ nông thôn ra các thành thị tìm kiếm việc làm và sinh
sống dẫn đến tình trạnh ở nông thôn thiếu lao động trầm trọng cho việc phát
triển kinh tế - xã hội, nhất là trong giai đoạn thực hiện CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn, thiếu lực lượng thanh niên là thiếu nguồn cơ bản để xây
dựng và phát triển tổ chức cơ sở Đảng); đời sống vật chất, tinh thần của vùng
nông thôn gặp nhiều khó khăn, nhất là trình độ dân trí còn thấp, khoảng cách
giữa nông thôn và thành thị càng ngày càng xa. Hơn thế nữa, ở nông thôn còn
4
chứa đựng nhiều tư tưởng bảo thủ, trì trệ, là rào cản khá lớn cho quá trình
thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
các công trình khoa học liên quan đến nông nghiệp, nông thôn và công cuộc
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Liên quan đến đề tài đã có một số công
trình sau:
- Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng” do tác giả GS. TS
Nguyễn Đình Phan; PGS.TS Trần Minh Đạo; TS Nguyễn Văn Phúc biên
soạn. Trong công trình các nhà nghiên cứu đề cập đến nhiều nội dung song
đáng chú ý nhất là các tác giả tập trung làm rõ một số vấn đề lí luận về CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn; các yếu tố tác động đến nông nghiệp, nông
thôn nói chung và đồng bằng sông Hồng nói riêng.
- “Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”
của tác giả PGS.TS Chu Hữu Quý, PGS.TS Nguyễn Kế Tuấn, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2001.
- Trong các công trình khoa học này, các nhà nghiên cứu làm rõ các
vấn đề như: Một số vấn đề lí luận về CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn
theo yêu cầu rút ngắn; nghiên cứu thực trạng thực hiện CNH, HĐH nông
nghiệp và nông thôn; các tác giả cũng đưa ra con đường, bước đi và các giải
pháp chiến lược đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn.
- “Nông nghiệp, nông thôn của Việt Nam - 20 năm đổi mới và phát
triển” do tác giả Đặng Kim Sơn biên soạn, Nxb Chính trị Quốc gia, năm
2007. Cuốn sách đánh giá thực trạng nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trước
khi đổi mới; nghiên cứu quá trình đổi mới thể chế, đổi mới chính sách, quá
trình chuyển dịch cơ cấu và phát triển nông nghiệp, nông thôn, khái quát
thành tựu và một số vấn đề rút ra từ quá trình đổi mới; những thách thức đối
với phát triển nông nghiệp, nông thôn và một số vấn đề đặt ra trong thời gian
tới.
6
- Nhiệm vụ:
Trình bày có hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt
Nam về xây dựng NTM và vận dụng thực hiện của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình.
Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo xây dựng NTM
những năm 2001 đến năm 2010.
Khẳng định những thành tựu bước đầu và một số kinh nghiệm xây
dựng NTM ở tỉnh Ninh Bình.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn.
- Đối tượng: Phân tích vai trò của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình trong quá
trình lãnh đạo xây dựng và phát triển NTM.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình xây
dựng nông thôn mới của Ninh Bình từ năm 2001 đến năm 2010.
5. Cơ sở lí luận và phƣơng pháp nghiên cứu.
- Cơ sở lí luận: Luận văn đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác –
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững và vận dụng sáng tạo những quan
điểm của Đảng qua các Văn kiện từ năm 2001 đến năm 2010, từ đó rút ra
những căn cứ khoa học trong nghiên cứu, đánh giá các nội dung của luận văn.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn kết hợp phương pháp của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với sử dụng tổng hợp các phương
pháp nghiên cứu chuyên ngành như phương pháp luận lịch sử, phương pháp
logic, phân tích và tổng hợp số liệu khảo sát, so sánh, trừu tượng hóa, khái
quát hóa.
6. Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn.
- Ý nghĩa lí luận: Luận văn một mặt góp phần làm sáng tỏ, minh chứng
cho những chủ trương đúng đắn, phù hợp của Đảng đối với việc xây dựng
NTM mặt khác làm căn cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối xây dựng
và phát triển NTM của Đảng trong thời gian tới.
8
Nằm cách thủ đô Hà Nội hơn 90km, trên tuyến đường giao thông
xuyên Bắc Nam. Cả hai tuyến đường ô tô và đường sắt đều chạy qua tỉnh lị
Ninh Bình là cầu nối giao lưu kinh tế - văn hóa giữa hai miền Bắc - Nam.
Ninh Bình có biển, hệ thống sông ngòi, có sông thông ra biển và cảng sông
công suất 2 triệu tấn lưu thông hàng hóa/năm, thuận lợi cho vận tải đường
sông, đường biển đến các địa phương trong nước và quốc tế. Ninh Bình nằm
trong vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Bắc Bộ rộng lớn, dồi dào năng
lượng và giàu tiềm năng du lịch, có nhiều khu vực phát triển năng động với
tốc độ tăng trưởng nhanh. Đó là tiền đề quan trọng để phát triển kinh tế xã hội
của tỉnh.
Ninh Bình cũng như các tỉnh khác thuộc đồng bằng sông Hồng, có khí
hậu mang tính đặc thù của khí hậu nhiệt đới, gió mùa, có mùa đông lạnh
nhưng còn nhiều ảnh hưởng của khí hậu ven biển, vùng núi so với điều kiện
trung bình cùng vĩ tuyến.
10
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 230C, nhiệt độ trung bình thấp
nhất khoảng 13 - 150C và cao nhất (tháng 7) khoảng 29 - 300C. Tổng số giờ
nắng trung bình trên 1100 giờ. Lượng mưa trung bình trên 1.800mm, nhưng
phân bố không đều, tập trung 70% lượng mưa trên vào mùa hạ, trung bình có
125 - 157 ngày mưa. Mưa thường tập trung vào tháng 5 đến tháng 10 chiếm
tới 86 - 91%, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa vào mùa
này ít hơn khoảng 10% lượng mưa cả năm. Nhìn chung khí hậu và thời tiết ở
Ninh Bình thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi sinh trưởng và phát triển. Tuy
nhiên do lượng mưa phân bố không đều thường tập trung vào tháng 8, tháng 9
cùng với địa hình không bằng phẳng nên thường xảy ra hạn hán vào mùa khô
và lũ lụt vào mùa mưa, nhất là các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Yên Mô.
Hệ thống sông ngòi ở Ninh Bình dày đặc, phân bố khá đều trên địa bàn
[14, tr.21]. Sản xuất nông nghiệp có vị trí trọng yếu trong nền kinh tế, tác
động các mặt đời sống nhân dân nhất là địa bàn nông thôn trên toàn tỉnh.
Trước hết là quỹ đất, toàn tỉnh 67.881 ha đất sử dụng vào sản xuất nông
nghiệp, trong đó tổng diện tích đất canh tác là 55.566ha, trong tổng diện tích
đất canh tác thì diện tích trồng lúa là 49.209 ha (số liệu 1 – 10 - 2001) [14,
tr.22]. Tuy nhiên với địa hình phức tạp, có nhiều vùng trũng như đã nêu ở
trên, những năm qua tỉnh đã tập trung đầu tư cho công tác tu bổ đê điều,
khoanh vùng, xây dựng hệ thống kênh mương, xây mới và sửa chữa các trạm
bơm nên đã nâng hệ số lần trồng đối với cây lúa từ 1,3 năm 1992 lên 1,7 năm
2001 [15, 23] đó là kết quả đáng khích lệ.
Để khai thác tiềm năng của đất, một trong những giải pháp hàng đầu
cần được quan tâm giải quyết đó là hệ thống thủy lợi bởi vì chính yếu tố này
đã làm thay đổi thực trạng đất nông nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh: tăng diện
tích, tăng vụ… Những năm vừa qua việc mở rộng diện tích gieo trồng, tăng
vụ ở Ninh Bình đã góp phần tích cực sản xuất đất nông nghiệp phát triển nhất
12
là trong lĩnh vực sản xuất lương thực, góp phần tích cực làm thay đổi bộ mặt
nông thôn trong những năm đổi mới. Cơ sở vật chất kĩ thuật hiện có của Ninh
Bình tuy chưa đủ mạnh để biến tiềm năng thành hiện thực nhưng so với
những năm cao trào của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp thì có bước phát
triển, chuyển biến mạnh mẽ. Các công trình thủy lợi lớn, trung bình đã và
đang được xây dựng, củng cố và hoàn thiện; hệ thống kênh mương tưới tiêu
thủy lợi nội đồng hiện có đã và đang phát huy tác dụng, có thể chủ động, đảm
bảo cho khâu tưới, tiêu nước trên diện rộng.
Nhờ thực hiện vốn đầu tư, trong 10 năm qua (1992 - 2001) cơ sở vật
chất kĩ thuật của ngành nông nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh được tăng cường.
Công tác thi công các công trình đều đảm bảo tiến độ và chất lượng. Các công
phẩm công nghiệp có mối quan hệ với sản xuất nông nghiệp đã đạt mức khá.
Đồng thời, các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cũng tăng nhanh, đã
thu hút lực lượng lao động khá lớn trong xã hội vào làm việc: khu công
nghiệp thị xã Ninh Bình, cụm công nghiệp Cầu Yên, khu công nghiệp Tam
Điệp, các làng nghề, làng nghề truyền thống ở các địa phương. Lực lương sản
xuất công nghiệp tập trung ở các khu trung tâm, các cụm công nghiệp… nên
có ảnh hưởng và thu hút lao động đều khắp trong tỉnh nhất là vùng ven phụ
cận.
Trong thời kì đổi mới, do được quan tâm đúng mức và đầu tư kịp thời,
nên cơ sở vật chất kĩ thuật của ngành điện đã được cải thiện đáng kể. Đến nay
về cơ bản lưới điện đã được đầu tư cải tạo và xây dựng, đủ đáp ứng các nhu
cầu kinh tế xã hội của tỉnh nhất là nhu cầu phát triển sản xuất của ngành nông
nghiệp. Theo tổng kết quả điều tra nông nghiệp, nông thôn và thủy sản 1 - 10
- 2001 toàn tỉnh có 127 xã (nông thôn), số xã có trạm biến thế là 84 chiếm
66,1% tổng số xã, với 239 trạm hạ thế điện, bình quân mỗi xã có 2,8 trạm [14,
tr.29]
Với điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất kỹ thuật của Ninh Bình cùng với
sự lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể, chú trọng phát triển nông nghiệp đã tạo điều kiện
cho những năm qua tỉnh nhà không ngừng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là đời
sống nhân dân được nâng cao đáng kể, khu vực nông thôn thay đổi từng ngày,
14
đó là quá trình đầu tiên trong chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM
mà Nhà nước đang phát động và Ninh Bình là một tỉnh hưởng ứng rất rầm rộ
và có nhiều kết quả tốt.
1.1.3. Điều kiện văn hóa – xã hội
Tỉnh Ninh Bình đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS
từ tháng 12/2002; có 7/8 huyện, thị xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học
số tham gia luyện tập TDTT thường xuyên; 12% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình
thể thao, có 320 câu lạc bộ TDTT hoạt động thường xuyên; tại Đại hội TDTT
toàn quốc lần thứ IV, đoàn vận động viên của Ninh Bình được xếp thứ 24/64
đoàn tham gia [5, tr.205]. Việc thực hiện các chính sách xã hội đã có nhiều cố
gắng, trong 2 năm qua, tỉnh đã đào tạo, truyền nghề cho 58.000 người; giải
quyết việc làm cho 38.625 lượt người, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo bình
quân mỗi năm được 1,8% [5, tr.206].
Hoạt động văn hóa, thông tin phát triển ngày càng đa dạng, nội dung và
hình thức có nhiều đổi mới góp phần đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa,
nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Phong trào “Toàn dân đoàn kết
xây dựng lối sống văn hóa” từng bước đi vào chiều sâu. Nhiều giá trị văn hóa
truyền thống được đề cao và phát huy. Đến nay có 81,5% gia đình, 58,5%
làng, 57% cơ quan đạt tiêu chuẩn văn hóa [33, tr.41].
Công tác báo chí, phát thanh - truyền hình, văn học nghệ thuật có nhiều
tiến bộ, đã kịp thời tuyên truyền các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước, biểu dương, cổ vũ các điển hình tiên tiến trong
phong trào thi đua yêu nước, đồng thời ngăn ngừa, khắc phục những lệch lạc,
nhất là những biểu hiện suy thoái, xa rời tôn chỉ, mục đích.
Những thành tựu đạt được trên lĩnh vực văn hóa - xã hội có ảnh hưởng
sâu sắc đến quá trình thực hiện chính sách tam nông của Đảng và lãnh đạo
xây dựng NTM trong giai đoạn tiếp theo, làm cho hiệu quả tuyên truyền, phổ
16
biến các chủ trương, chính sách về xây dựng và phát triển NTM đạt được cao
hơn, người dân nhận thức tốt hơn về ý nghĩa việc thực hiện chủ trương này.
Cùng với những kết quả đạt được trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, Ninh
Bình là một vùng đất giàu truyền thống lịch sử. Những di chỉ khảo cổ học cho
thấy các quần cư của người Việt Cổ đã tồn tại cách đây hàng ngàn năm. Cuộc
kinh tế chậm phát triển, cơ cấu kinh tế lạc hậu, nông nghiệp chiếm tỷ trọng
lớn, tốc độ phát triển kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của
một tỉnh đồng bằng có điều kiện phát triển kinh tế toàn diện. Đời sống nhân
dân còn gặp nhiều khó khăn nhất là nhân dân các xã miền núi, miền ven biển,
nhân dân vùng đồng bào dân tộc, cơ sở vật chất chưa đáp ứng được hết nhu
cầu trong tình hình mới cần được quan tâm đầu tư và xây dựng. Đời sống văn
hóa ở cơ sở chưa đồng đều. Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin, báo chí
chưa đáp ứng được nhu cầu cuộc sống; một số tập tục lạc hậu, mê tín và các
tệ nạn xã hội khác có chiều hướng phát triển. Trong một số bộ phận cán bộ,
đảng viên và nhân dân còn mang nặng tư tưởng bảo thủ, trì trệ; tình trạng
thiếu việc làm và việc làm hiệu quả thấp còn phổ biến.
Với những điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội như trên là một
lí do, một động lực mới cho Ninh Bình xây dựng thành công mô hình NTM,
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân đặc biệt là cư dân nông
thôn, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo
hướng CNH, HĐH.
1.2. CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tạo tiền đề xây dựng NTM tại
Ninh Bình.
1.2.1. Các Nghị quyết của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông
thôn.
Ở Việt Nam, nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò rất quan
trọng trong suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Trong gần 30 năm
qua, nông nghiệp, nông dân, nông thôn lại đi trước mở đường trong quá trình
18
đổi mới, tạo điều kiện để đất nước vươn lên. Chính vì vậy mà Đảng và Nhà
nước ta luôn có những chính sách hỗ trợ, xây dựng và phát triển nông nghiệp,
nông dân, nông thôn một cách có hiệu quả và bền vững.
chặng đường đầu tiên của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, ngày 5/4/1988, Bộ Chính trị (khóa VI) ra
nghị quyết 10 - NQ/TW về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp. Quan
điểm cơ bản của Đảng về quản lý nông nghiệp là coi HTX như đơn vị kinh tế
tự quản, hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ, nhận khoán với HTX.
Bộ chính trị chỉ rõ: Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp nhằm khắc phục các
nhược điểm, sai lầm trong các chính sách lớn đối với nông nghiệp. Nghị
quyết 10 của của Bộ Chính trị chủ trương sắp xếp và tổ chức lại sản xuất nông
nghiệp theo hướng chuyên môn hóa kết hợp với kinh doanh tổng hợp, gắn
trồng trọt với chăn nuôi; gắn nông - lâm - ngư ngiệp với công nghiệp chế biến
và các ngành tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn…Đây chính là bước đột phá
mở đầu cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng
sản xuất hàng hóa.
Tháng 3/1989, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khóa VI) khẳng định những chuyển biến quan trọng trong chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ chính trị, đồng
thời bổ sung làm rõ thêm tư tưởng đổi mới, thể hiện ở ba quan điểm lớn: 1)
Mọi tổ chức sản xuất kinh doanh do người lao động tự góp vốn, góp sức và
quản lý theo nguyên tắc dân chủ, không phân biệt quy mô, trình độ kĩ thuật,
mức độ tập thể hóa là hợp tác xã; 2) Hợp tác xã và tập đoàn sản xuất là các
đơn vị kinh tế hợp tác với nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất; 3) Gia
đình xã viên đã trở thành đơn vị sản xuất kinh tế tự chủ, ngoài việc nhận
khoán sử dụng ruộng đất, thực hiện các hợp đồng với hợp tác xã, còn chủ
động phát triển sản xuất kinh doanh dưới nhiều hình thức, khuyến khích xã
20
viên làm giàu đồng thời có chính sách, biện pháp cụ thể để giúp các hộ nghèo
có thêm điều kiện để vươn lên làm ăn tốt.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
VII (tháng 6/1993) đã xác định một hệ thống quan điểm đồng bộ về ba vấn đề
lớn: nông nghiệp, nông thôn và nông dân, gắn phát triển sản xuất nông
nghiệp, xây dựng NTM với nâng cao đời sống của nông dân.
Cũng trong giai đoạn này Nhà nước cũng ban hành luật đất xác định
những quan điểm cơ bản của Đảng về vấn đề đất đai. Các hộ tư nhân được
đầu tư phát triển giống cây, khai thác đất trống đồi núi trọc ở các vùng trung
du miền núi, bãi bồi ven biển, nuôi trồng và khai thác thủy sản, xây dựng các
nông - lâm - ngư trại với quy mô thích hợp. Điều này chứng tỏ rằng, Nhà
nước đã trao thêm cho các tổ chức kinh tế, cá nhân người lao động và hộ nông
dân trách nhiệm và quyền tự chủ sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông lâm - ngư nghiệp, trong đó có mô hình kinh tế phát triển theo xu hướng trang
trại. Cùng với luật đất đai, Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp được quốc hội
thông qua (tháng 7/1993) có vị trí quan trọng đối với sự phát triển của các
thành phần kinh tế, nhất là kinh tế hộ gia đình, khuyến khích hộ gia đình sử
dụng có hiệu quả đất đai và đảm bảo công bằng, hợp lý sự đóng góp của hộ
gia đình sử dụng đất nông nghiệp và ngân sách của Nhà nước. Các đạo luật
trên là cơ sở pháp lý rất quan trọng, tạo nền tảng cho kinh tế hộ, kinh tế trang
trại phát triển.
Tháng 7/1994, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa VII ra Nghị quyết “Phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng giai cấp công
nhân trong giai đoạn mới” [24, tr.29]. Nghị quyết xác định ba chủ trương lớn
về phát triển kinh tế công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong năm tới
là: CNH, HĐH và kinh tế nông thôn, phát triển toàn diện nông - lâm - ngư
22
nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển mạnh công nghiệp sản xuất
hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ ở