ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
––––––––––––––––––
ĐẶNG XUÂN QUỲNH
ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
––––––––––––––––––
ĐẶNG XUÂN QUỲNH
ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2014
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Đình Lê
1.2.3. Tình hình văn hóa - xã hội ở nông thôn Phú Thọ trước khi xây dựng
nông thôn mới.................................................................................................. 24
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1.................................................................................. 27
Chƣơng 2. ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI (2008 - 2014) ............................................................... 29
2.1. Chủ trƣơng của Đảng về xây dựng nông thôn mới............................. 29
2.2. Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo thực hiện xây dựng nông thôn mới
(2008 – 2014) .................................................................................................. 37
2.2.1. Khái quát về Đảng bộ tỉnh Phú Thọ ..................................................... 37
2.2.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về xây dựng nông thôn mới ........... 38
2.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ .................... 43
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2.................................................................................. 70
Chƣơng 3. NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHỈ ĐẠO CHỦ
YẾU................................................................................................................. 72
3.1. Nhận xét chung ....................................................................................... 72
3.1.1. Về thành tựu .......................................................................................... 72
3.1.2. Về hạn chế ............................................................................................. 77
3.2. Một số kinh nghiệm chỉ đạo .................................................................. 79
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3.................................................................................. 84
KẾT LUẬN .................................................................................................... 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 89
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Bản đồ hành chính tỉnh Phú Thọ
Bảng 1.2: Giá trị sản xuất công nghiệp của Phú Thọ (2005 – 2007)
TP
: Thành phố
THCS
: Trung học cơ sở
THPT
: Trung học phổ thông
UBND
: Ủy ban nhân dân.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc Việt Nam nông dân, nông thôn là
chủ thể của quá trình dựng nƣớc và giữ nƣớc. Hơn hai mƣơi năm đổi mới vừa
qua, nông dân, nông thôn và nông nghiệp lại tiếp tục đi trƣớc mở đƣờng, tạo
nền tảng vững chắc để đất nƣớc vƣơn mình đi lên. Nông nghiệp là bộ phận
quan trọng của nền kinh tế - xã hội, góp phần quan trọng cho tăng trƣởng kinh
tế, ổn định chính trị, và đảm bảo cho sự phát triển của đất nƣớc trong suốt quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Nông
nghiệp tạo cơ sở đảm bảo an ninh lƣơng thực cho quốc gia, thu nhập cao cho
nông thôn, và là thị trƣờng lớn cho kinh tế cả nƣớc. Kinh tế nông thôn phát
triển tạo ra việc làm và thu nhập cho phần lớn dân cƣ, là nguồn thu ngoại tệ
quan trọng để phát triển kinh tế. Nông dân có việc làm và thu nhập là nền tảng
hạn chế trong quá trình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ tỉnh
Phú Thọ mới có cơ sở khoa học, căn cứ thực tiễn để xác định nhiệm vụ, giải
pháp hữu hiệu, nhằm thực hiện tốt hơn nữa công cuộc xây dựng nông thôn
mới ở Phú Thọ trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nƣớc hiện nay và trong tƣơng
lai. Xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của vấn đề đó, tôi quyết
định chọn: “Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm
2008 đến năm 2014” làm luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử, chuyên ngành
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề nông nghiệp, nông thôn là vấn đề quan trọng trong suốt quá
trình phát triển đất nƣớc, bởi vậy đã có không ít công trình nghiên cứu của các
tác giả về vấn đề này. Liên quan đến đề tài có một số công trình sau: “Con
đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn” của tác giả
PGS.TS Chu Hữu Quý, PGS.TS Nguyễn Kế Tuấn, Nxb Chính trị Quốc gia
Hà Nội, 2001. Trong công trình khoa học của mình, tác giả đã làm rõ: Một số
vấn đề lý luận về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn theo yêu cầu rút ngắn;
2
nghiên cứu thực trạng thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn; đƣa
ra con đƣờng, bƣớc đi và các giải pháp chiến lƣợc đẩy nhanh quá trình CNH,
HĐH nông nghiệp và nông thôn.
Công trình “Nông nghiệp, nông thôn của Việt Nam – 20 năm đổi mới
và phát triển” do tác giả Đặng Kim Sơn biên soạn, Nxb Chính trị Quốc gia,
năm 2007. Và cuốn “Nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam hôm nay
và mai sau” cũng do tác giả Đặng Kim Sơn biên soạn. Các công trình đã đánh
giá thực trạng nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trƣớc khi đổi mới, nghiên
cứu quá trình đổi mới thể chế, đổi mới chính sách, quá trình chuyển dịch cơ
cấu và phát triển nông nghiệp, nông thôn; nêu lên những thành tựu đạt đƣợc,
những khó khăn còn tồn tại và đƣa ra một số kiến nghị, đề xuất đối với nông
đoạn 2010 – 2013” của Trần Thị Phƣơng Oanh, Khoa Báo chí học, Trƣờng
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn năm 2013. Có thể thấy vấn đề nông
nghiệp, nông thôn đã đƣợc nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ,
khía cạnh với mục đích, phƣơng pháp khác nhau. Qua đó, chúng ta có thể
hiểu đƣợc một cách sâu sắc chủ trƣơng của Đảng đối với phát triển nông
nghiệp, nông thôn đất nƣớc, đặc biệt là quá trình CNH, HĐH. Tuy nhiên, đối
với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đang đƣợc thực
hiện trên quy mô cả nƣớc, vì là chƣơng trình mới nên vẫn còn nhiều những
bất cập, khó khan, những thành công ở một số xã thí điểm xây dựng nông
thôn mới trên cả nƣớc mới chỉ là bƣớc đầu của quá trình, do vậy vấn đề này
chƣa có cơ hội đƣợc quan tâm nhiều. Dƣới góc độ lịch sử Đảng, vấn đề xây
dựng nông thôn mới ở địa phƣơng còn ít công trình nghiên cứu một cách cụ
thể, hệ thống, đặc biệt chƣa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về quá trình
Phú Thọ xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến hiện tại. Vì vậy, luận văn
hi vọng đóng góp một phần cái nhìn đối với thực tiễn thực hiện chƣơng trình
xây dựng nông thôn mới của địa phƣơng nói chung và của tỉnh Phú Thọ nói
riêng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nƣớc.
4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu chủ trƣơng về nông nghiệp, nông thôn của
Đảng, và thực tiễn xây dựng nông thôn mới của đất nƣớc, luận văn nghiên
cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chƣơng trình
xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2014 nhằm xác định giải pháp
xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn tiếp theo.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Trình bày hệ thống quan điểm, chủ trƣơng của Đảng Cộng sản Việt
các sách đã xuất bản, các công trình khoa học, tạp chí, sách báo nghiên cứu về
vấn đề nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới.
- Tài liệu lƣu trữ tại: Thƣ viện Đại học Quốc gia Hà Nội, Sở Nông
nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ, Chi cục Phát triển nông thôn
tỉnh Phú Thọ, Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ, UBND các xã trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phƣơng pháp nghiên cứu chuyên ngành:
phƣơng pháp luận lịch sử, phƣơng pháp logic, tổng hợp và phân tích số liệu
khảo sát, so sánh, khái quát hóa.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những chủ trƣơng của Đảng đối với
việc xây dựng nông thôn mới; cũng góp phần làm căn cứ khoa học cho việc
hoạch định đƣờng lối xây dựng và phát triển nông thôn mới của Đảng trong
thời gian tới.
Luận văn góp phần làm cơ sở vận dụng, đẩy mạnh nâng cao hiệu quả
công cuộc xây dựng nông thôn mới của tỉnh Phú Thọ nói riêng và đất nƣớc
nói chung.
Luận văn góp phần cung cấp thêm tƣ liệu cho công tác nghiên cứu trên
lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn nói chung, xây dựng nông thôn mới nói
riêng, và công tác giảng dạy lịch sử ở địa phƣơng.
6
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm có ba chƣơng:
Chƣơng 1: Những điều kiện để thực hiện chƣơng trình xây dựng nông
thôn mới ở Phú Thọ
Chƣơng 2: Quá trình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ
Nội – Việt Trì – Lào Cai sang Vân Nam (Trung Quốc). Ngoài ra, với hệ thống
đƣờng sông, đƣờng sắt các tỉnh phía Tây Bắc đều quy tụ về Phú Thọ rồi mới
đi Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh, thành phố khác trong cả nƣớc. Đây là điều
kiện hết sức thuận lợi để tỉnh Phú Thọ giao lƣu, hợp tác kinh tế với bên ngoài.
8
Địa hình
Phú Thọ có địa hình rất đặc biệt: Là một tỉnh miền núi, nhƣng địa hình
vừa có tính chất miền núi, trung du, lại vừa có tính chất đồng bằng. Đoạn
sông Hồng chảy qua Phú Thọ (sông Thao) đã chia Phú Thọ thành hai tiểu
vùng có những đặc điểm khác nhau và hình thành nên địa hình mang ba tính
chất trên.
Tiểu vùng miền núi: chiếm tới hai phần ba diện tích toàn tỉnh, gồm đất
đai các huyện Thanh Sơn, Yên Lập, Thanh Thủy, Tam Nông, Sông Thao và
một phần huyện Hạ Hòa. Vùng chủ yếu là đồi núi nên rất có tiềm năng để
phát triển lâm nghiệp, khai thác khoáng sản và phát triển kinh tế trang trại.
Tiểu vùng trung du đồng bằng: bao gồm các huyện Đoan Hùng, một
phần đất huyện Hạ Hòa, Thanh Ba, Phù Ninh, Lâm Thao, Tam Nông, Thanh
Thủy, thành phố Việt Trì, và thị xã Phú Thọ. Địa hình có nhiều gò đồi nối tiếp
nhau, bị chia cắt nhiều, xen kẽ là đồng ruộng và dải đồng bằng ven sông
Hồng, sông Lô. Nhờ nằm ven sông Hồng, sông Lô nên miền này hàng năm
đƣợc phù sa bồi đắp, đất tốt rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp với
nhiều cánh đồng lớn, vựa lúa lớn của tỉnh nhƣ để trồng các loại cây công
nghiệp, phát triển cây lƣơng thực và chăn nuôi
Khí hậu
Phú Thọ nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông
khô và lạnh. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 230C, lƣợng mƣa trung bình
khoảng 1600 – 1800 mm/năm. Độ ẩm trung bình khoảng 85% - 87%. Nhìn
chung, khí hậu Phú Thọ thuận lợi cho việc sinh trƣởng và phát triển các loại
riêng có, Phú Thọ còn có nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú, hỗ trợ
cho phát triển nông nghiệp, điển hình là nguồn tài nguyên đất. Hiện nay, tỉnh
mới sử dụng đƣợc khoảng 54,8% tiềm năng đất nông – lâm nghiệp, đất chƣa
sử dụng còn 81,2 nghìn ha, trong đó đồi núi có 57,86 nghìn ha. Theo tài liệu
thổ nhƣỡng trƣớc đây và kết quả điều tra bổ sung những năm gần đây, Phú
Thọ có 13 loại đất nằm trong 7 nhóm đất: Đất phù sa, đất lầy, đát xám, đất đỏ
vàng, đất mùn, đất thung lũng, đất xói mòn trơ sỏi đá.
10
Diện tích tự nhiên của khu vực nông thôn ở tỉnh là 342.591,52 ha,
chiếm 96,98% diện tích tự nhiên toàn tỉnh (bao gồm cả xã Tân Đức). Trong
đó: chủ yếu là đất nông nghiệp (chiếm 77,79% tổng diện tích tự nhiên), đất
phi nông nghiệp chiếm 13,57% tổng diện tích tự nhiên và đất chƣa sử dụng
chiếm 8,67% tổng diện tích tự nhiên [70, tr.51].
Cơ cấu sử dụng đất chung của vùng đã có sự chuyển dịch theo hƣớng
hợp lý, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của vùng trong những
năm qua. Diện tích đất chƣa sử dụng giảm dần, tỷ lệ đất phi nông nghiệp
trong cơ cấu sử dụng đất tăng là những nhân tố tích cực trong việc phát triển
kinh tế xã hội của vùng. Sau hơn mƣời năm thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây
trồng nói chung và cơ cấu sử dụng đất nói riêng, thu nhập của ngƣời dân đƣợc
tăng lên đáng kể, an ninh lƣơng thực đƣợc đảm bảo. Cơ sở hạ tầng nông thôn
phát triển khá, bộ mặt nông thôn ngày một khởi sắc.
1.1.2. Kinh tế, văn hóa - xã hội tỉnh Phú Thọ trước năm 2008
Sau khi tái lập tỉnh (1/1/1997), theo chủ trƣơng đổi mới toàn diện của
Đảng, trong thời kỳ CNH, HĐH đất nƣớc, Phú Thọ đã ra sức phấn đấu, kiên
trì vƣợt qua mọi khó khăn, thách thức để nhằm phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh, đƣa Phú Thọ phát triển sánh cùng với các tỉnh bạn trong khu vực.
Tăng trưởng kinh tế
Tổng GDP của tỉnh năm 2007 (theo giá năm 2000) đạt 5.469 tỷ đồng,
7.054
8.174
1.Quốc doanh
”
3091
3298
3.139
- Trung ƣơng
”
2714
2936
2.874
- Địa phƣơng
”
378
Sơn La… Từ năm 2001 đến năm 2007, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ phát triển khá nhanh. Các thành phần kinh tế đã có những đóng góp
quan trọng về giá trị sản xuất và tăng trƣởng kinh tế, góp phần làm thay đổi,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trên địa bàn tỉnh theo hƣớng
CNH, HĐH. Điều đó có gây ảnh hƣởng ít nhiều tới khu vực và ngành kinh tế
khác, trong đó có kinh tế nông nghiệp và khu vực nông thôn.
12
Ngành dịch vụ
Năm 2007, tổng giá trị sản xuất ngành dịch vụ đạt 2.792 tỷ đồng, tăng
15,1% so với năm 2006 (2.529 tỷ đồng), đặc biệt ngành xuất, nhập khẩu đã có
bƣớc đột phá (tăng mạnh từ 132,3 triệu USD lên 220,7 triệu USD năm 2006 –
2007) [69, tr.25]. Phú Thọ có vị trí địa lý rất thuận lợi cho việc giao lƣu kinh
tế với các khu vực lân cận. Đây là động lực để tỉnh mạnh dạn xuất khẩu các
mặt hàng nông nghiệp, thủ công nghiệp. Các mặt hàng xuất khẩu chính của
tỉnh nhƣ: chè khô, hàng dệt may, hàng thủ công mỹ nghệ.v.v.. góp phần tăng
trƣởng kinh tế của tỉnh nói chung và hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp
nói riêng.
Nguồn nhân lực
Phú Thọ có nguồn lao động dồi dào, 817,3 nghìn lao động với tổng dân
số 1.350.565 ngƣời (chiếm 60,51% dân số toàn tỉnh năm 2007). Trong đó, số
ngƣời trong độ tuổi lao động chiếm đa số (với 795,8 nghìn ngƣời năm 2007)
[13, tr.44].
Số ngƣời đang làm việc trong các ngành kinh tế là 661,2 nghìn ngƣời
(năm 2005, tăng lên 679,7 nghìn ngƣời năm 2007). Năm 2008, số lao động
đang làm việc trong các ngành kinh tế tăng lên 690 nghìn lao động, cao hơn
so với một số tỉnh lân cận nhƣ: Vĩnh Phúc (597,4 nghìn lao động), Yên Bái
(390,5 nghìn lao động), Sơn La (583,0 nghìn lao động)... Trong đó, lao động
tăng nhanh, thu hút lực lƣợng lao động khá lớn trong xã hội vào làm việc: khu
công nghiệp Thụy Vân, Trung Hà; cụm công nghiệp làng nghề Phƣợng Lâu;
cụm làng nghề Vân Phú (thành phố Việt Trì); cụm công nghiệp làng nghề
Sông Thao (Cẩm Khê).v.v.. và các làng nghề truyền thống ở các địa phƣơng.
Sản xuất công nghiệp có sự ổn định và bƣớc đầu có sự phát triển góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trên địa bàn tỉnh theo hƣớng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong thời kì đổi mới, do đƣợc Nhà nƣớc quan tâm đúng mức và đầu tƣ
kịp thời, nên cơ sở vật chất kĩ thuật trong tỉnh đƣợc cải thiện đáng kể. Điển
14
hình nhƣ mạng lƣới điện đã đƣợc đầu tƣ cải tạo và xây dựng, đủ đáp ứng nhu
cầu kinh tế xã hội của tỉnh, nhất là nhu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp.
Hệ thống giao thông tỉnh với tổng chiều dài 11.483 km đƣờng bộ, 248 km
đƣờng sông, 90 km đƣờng sắt, đang ngày càng đƣợc chú ý xây dựng, phân bố
tƣơng đối hợp lý, thuận tiện cho việc lƣu thông hàng hóa, hành khách.v.v..
Với điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất kỹ thuật của Phú Thọ cùng với sự
lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể của các cấp, ban, ngành đã tạo điều kiện cho tỉnh nhà
không ngừng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt đời sống nhân dân đƣợc nâng cao
đáng kể, khu vực nông thôn thay đổi từng ngày. Đó là bƣớc đầu tiên trong
chƣơng trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới mà Nhà nƣớc đang
phát động và Phú Thọ là một tỉnh hƣởng ứng và có nhiều kết quả tốt.
Tình hình văn hóa – xã hội tỉnh Phú Thọ
Điều kiện văn hóa – xã hội cũng là nền tảng cho sự phát triển nền kinh
tế của tỉnh Phú Thọ, là bƣớc tạo đà cho việc triển khai kế hoạch thực hiện
chƣơng trình MTQG xây dựng nông thôn mới của tỉnh.
Xác định giáo dục là sự nghiệp “trồng ngƣời” bởi vậy đây là lĩnh vực
luôn đƣợc tỉnh quan tâm xây dựng. Quy mô và mạng lƣới trƣờng, lớp học
phát triển hợp lý, theo hƣớng đa dạng hóa và từng bƣớc xã hội hóa, đáp ứng
giải quyết việc làm cho 74.130 ngƣời lao động. Công tác xóa đói giảm nghèo
đƣợc đẩy mạnh, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 5%. [29,tr.49]. Chính sách xã hội
với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đƣợc thực hiện đầy đủ, kịp thời.
Cùng với những kết quả đạt đƣợc trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, Phú
Thọ là một vùng đất giàu truyền thống lịch sử. Phú Thọ vừa là vùng đất Tổ,
vừa là vùng đất Cổ, cái nôi của nền văn hóa Lạc Việt. Trên mảnh đất này còn
lƣu giữ rất nhiều di sản văn hóa, đặc biệt là di sản văn hóa gắn với các thời
đại Vua Hùng. Đặc trƣng cơ bản nhất của hệ thống di sản văn hóa phi vật thể
ở Phú Thọ là gắn với tín ngƣỡng thờ các Vua Hùng và các tƣớng lĩnh thời
Hùng Vƣơng dựng nƣớc và giữ nƣớc. Phú Thọ có thể phát triển nhiều loại
16
hình du lịch có sức hấp dẫn du khách nhƣ tham quan, du lịch sinh thái tại các
khi du lịch tự nhiên nhƣ Đầm Ao Châu, Ao Giời – Suối Tiên (huyện Hạ Hòa),
Rừng Quốc gia Xuân Sơn (Tân Sơn).v.v.. Công tác quản lý nhà nƣớc trên các
lĩnh vực văn hóa đƣợc tăng cƣờng; Tỉnh đã chỉ đạo và tổ chức thành công các
hoạt động văn hóa lễ hội lớn mang đậm bản sắc văn hóa lịch sử truyền thống
nhƣ: Giỗ tổ Hùng Vƣơng – Lễ hội Đền Hùng, tổ chức chƣơng trình Lễ tôn
vinh, đón bằng công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là
di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công về kinh tế - xã hội, Phú Thọ vẫn
còn là một tỉnh nghèo, có điểm xuất phát thấp, tốc độ phát triển kinh tế chƣa
tƣơng xứng với tiềm năng và thế mạnh của một tỉnh có điều kiện phát triển
kinh tế toàn diện. Đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là các
huyện miền núi, nhân dân vùng đồng bào dân tộc, cơ sở vật chất vẫn chƣa đáp
ứng đƣợc hết nhu cầu trong tình hình mới cần đƣợc quan tâm đầu tƣ và xây
dựng. Cùng với đó khí hậu, thời tiết diễn biến rất phức tạp. Những năm gần
đây các hiện tƣợng mƣa đá, lốc xoáy, hay lũ quét vẫn thƣờng xuyên xảy ra.
Đời sống văn hóa ở cơ sở chƣa thực sự đồng đều; cùng với đó là tình trạng
dần (thu nhập bình quân/ngƣời của vùng nông thôn năm 2007 bằng 58,78%
so với bình quân chung của toàn tỉnh). Thu nhập bình quân của vùng nông
thôn chỉ 2.369.000đồng/ngƣời/năm trong khi đó toàn tỉnh đạt 4.052.000
đồng/ngƣời/năm [70, tr.12].
Xét về cơ cấu kinh tế có thể nói kinh tế nông thôn Phú Thọ còn lạc hậu.
Nông nghiệp nông thôn còn chiếm tới 47,08%, công nghiệp mới có 20,77%
và thƣơng mại dịch vụ 32,15% (năm 2007). Trong khi đó tỷ trọng ngành nông
nghiệp trong cơ cấu kinh tế của toàn tỉnh chỉ chiếm 26,21% [70, tr.11]
Sản xuất nông nghiệp
Đây là ngành chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu kinh tế nông thôn
(chiếm 42,73% năm 2007). Năm 2008, năng suất lúa bình quân cả năm đạt
khá 48,9 tạ/ha (cả nƣớc 52,2 tạ/ha), cao hơn so với một số tỉnh lân cận nhƣ
18