LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG bộ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH đạo xây DỰNG NÔNG THÔN mới từ năm 2006 đến năm 2014 - Pdf 38

MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1. CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH

01

VĨNH PHÚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TỪ
NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2014

1.1. Yêu cầu khách quan của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo
xây dựng nông thôn mới (2006 - 2014)
1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về xây dựng nông
thôn mới (2006 - 2014)
1.3. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc chỉ đạo xây dựng nông thôn mới
(2006 - 2014)
Chương 2. NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
2.1. Nhận xét quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây
dựng nông thôn mới (2006 - 2014)
2.2. Kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh
đạo xây dựng nông thôn mới (2006 - 2014)
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

08
22
28
50
50

Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của Bắc Bộ, vùng
thủ đô Hà Nội, kể từ khi tái lập tỉnh đến nay, Đảng bộ, chính quyền và Nhân
dân các dân tộc trong Tỉnh đã tranh thủ thời cơ, phát huy lợi thế, nỗ lực vượt
qua nhiều khó khăn, thách thức, giành được những thành tựu quan trọng trên
tất cả các lĩnh vực như: Kinh tế của tỉnh liên tục tăng trưởng (bình quân trong
16 năm giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2012 đạt trên 16,0%/năm). Năm 2012,
tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 53,4%, dịch vụ chiếm 33,1%,
nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 13,5%; GDP bình quân đầu người (theo

2


giá thực tế) đạt 47,4 triệu đồng/người/năm. Thu ngân sách năm sau cao hơn
năm trước, năm 2011 đạt 16.739,969 tỷ đồng. Từ năm 2004, Vĩnh Phúc là một
trong những tỉnh đã tự cân đối được ngân sách.
Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ tiếp tục phát triển, từng
bước kết hợp hài hòa với phát triển kinh tế... Với những thành tựu đã đạt được,
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, đã đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2015, Vĩnh
Phúc cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và trở
thành thành phố Vĩnh Phúc trực thuộc Trung ương vào năm 2020.
Tuy nhiên, so với Bộ Tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM của Chính
phủ, Vĩnh Phúc vẫn còn nhiều xã tiêu chí chưa đạt hoặc đạt ở mức độ trung
bình. Thực tế cho thấy, thực trạng sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
còn manh mún nhỏ lẻ, không đồng bộ; sản xuất hàng hóa không tập trung, hiệu
quả thấp; kết cấu hạ tầng nông thôn còn chắp vá; tận dụng giá trị trên 01 ha đất
canh tác và thu nhập của người dân còn thấp; tỷ lệ hộ nghèo cao; môi trường
sống còn bị ô nhiễm; sản xuất nông nghiệp còn nhiều bất cập chưa phát huy
hết tiềm năng sẵn có… Do đó, việc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Vĩnh Phúc về xây dựng mô hình NTM, từ năm 2006 đến năm 2014. Qua đó,
khẳng định những thành công, hạn chế, đúc kết kinh nghiệm lãnh đạo, góp

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2004), CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn
Việt Nam, thực trạng và một số vấn đề đặt ra, Nxb Hà Nội. Tăng cường năng
lực hội nhập kinh tế quốc tế cho ngành nông nghiệp, do Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn cùng Tổ chức Ausaid nghiên cứu, đã đi sâu phân tích
những quy định của Tổ chức Thương mại thế giới về thương mại nông sản.
Phùng Hữu Phú (Chủ biên 2009), Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn Kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội. Đặng Kim Sơn (2011), Công nghiệp hóa từ nông nghiệp lý luận, thực tiễn
và triển vọng áp dụng ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp; Vũ Văn Phúc (Chủ biên
2012), Xây dựng NTM những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội. Gồm 33 bài viết nêu lên những vấn đề lý luận chung và kinh
nghiệm quốc tế về xây dựng NTM và thực tiễn xây dựng NTM ở Việt Nam.
Hội thảo khoa học (2013), “Xây dựng nông thôn mới - Những vấn đề lý luận
và thực tiễn”, Tạp chí Cộng sản, tháng 9. Với hơn 40 tham luận, các nhà khoa
học đã bàn luận về các vấn đề như: Đẩy mạnh triển khai Chương trình xây
dựng NTM để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, thu hẹp
khoảng cách giữa nông thôn và thành thị; xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu
hạ tầng KT - XH nông thôn cả miền núi và ven biển; xây dựng nền nông
4


nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại ở nông thôn; tiếp tục đổi mới và nâng
cao hiệu quả của các hình thức tổ chức sản xuất theo hướng chú trọng phát
triển HTX kiểu mới trong nông nghiệp, nông thôn.
Những bài viết liên quan trên đã trình bày, luận giải có luận cứ, luận
chứng khoa học những dữ liệu rất quan trọng cho việc hoạch định chính sách phát
triển nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ mới, về thực trạng xây dựng NTM ở
các địa phương trong cả nước, tập trung vào những vấn đề nổi cộm nảy sinh, từ
đó rút ra những kinh nghiệm có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Nhóm các công trình nghiên cứu về nông nghiệp nông thôn và xây
dựng nông thôn mới ở các địa phương

hàng đầu để quán triệt quan điểm, chủ trương xây dựng NTM, nâng cao nhận
thức của cán bộ, đảng viên và Nhân dân, cổ vũ quần chúng tích cực tham gia
thực hiện các tiêu chí xây dựng NTM ở tỉnh Bến Tre. Hà Trang (2013), “Xây
dựng NTM ở Đồng Bằng sông Cửu Long, tầm nhìn 2020”, Tạp chí Cộng sản,
tháng 7. Minh Phước (2013), “Xây dựng NTM ở Cà Mau: Cần những giải
pháp mang tính đột phá”, Tạp chí Cộng sản, tháng 11; Quang Minh (2013),
“Xây dựng NTM ở các tỉnh miền núi phía Bắc”. Nguyễn Đăng Quang (2014),
“Xây dựng NTM ở xã Chư Ă-Play Cu”, Tạp chí Cộng sản, tháng 6. Nguyễn
Thị Nha Trang (2014), Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phong trào xây
dựng NTM từ năm 2008 đến 2013, Luận văn thạc sỹ. Lịch sử , Đại học Khoa
học xã hội và Nhân văn; Đỗ Thùy Dung, Đảng bộ huyện Sóc Sơn lãnh đạo xây
dựng NTM từ năm 2001 đến năm 2012, Luận văn thạc sỹ. Lịch sử, Đại học
Khoa học xã hội và Nhân văn.
Các bài viết của các tác giả có những nhận định đánh giá sâu sắc và cụ
thể về tình hình thực hiện xây dựng NTM ở từng địa phương trong cả nước,
tập trung làm rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong quá trình chỉ
đạo xây dựng NTM, bước đầu đề xuất những vấn đề cần tập trung tháo gỡ
trong thời gian tới. Những nội dung đó là cơ sở lý luận và thực tiễn, kinh
nghiệm quý báu cho tác giả nghiên cứu, làm rõ quá trình lãnh đạo xây dựng
NTM ở tỉnh Vĩnh Phúc.
Nhóm các công trình nghiên cứu về nông nghiệp nông thôn và xây
dựng nông thôn mới ở tỉnh Vĩnh Phúc
Ngô Thị Cẩm Linh (2008), Một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế
HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, Luận án Kinh tế nông nghiệp.
Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc (2011) Quy hoạch
phát triển nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm
2030, đề ra các mục tiêu, định hướng lớn cho cả thời kỳ phát triển dài của toàn
bộ ngành nông nghiệp. Hoàng Thị Ngọc Lan (2012), Phát huy dân chủ ở cơ sở

6

Phúc về xây dựng NTM từ năm 2006 đến năm 2014.
Nhận xét và rút ra kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc
lãnh đạo xây dựng NTM từ năm 2006 đến năm 2014.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

7


* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về
xây dựng NTM.
* Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu chủ trương, của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh
đạo xây dựng NTM.
Về thời gian: Từ năm 2006 đến năm 2014.
Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và phương pháp luận sử học.
* Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp lịch sử và lôgic và
sự kết hợp hai phương pháp đó là chủ yếu. Đồng thời, kết hợp sử dụng một số
phương pháp khác như: thống kê, so sánh, đối chiếu…
6. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài góp phần tổng kết lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo xây
dựng NTM. Kết quả của luận văn góp phần cung cấp những căn cứ khoa học
để tiếp tục bổ sung, phát triển chủ trương, chính sách về phát triển NTM ở tỉnh
Vĩnh Phúc trong thời kỳ mới.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu,
giảng dạy, học tập các chuyên đề về Lịch sử Đảng trong các nhà trường.

“cuộc vận động lớn” để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng
thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện;
có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập,
đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao. Xây dựng NTM là sự
nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị. NTM
không chỉ là vấn đề KT - XH, mà là vấn đề kinh tế, chính trị tổng hợp. Xây

9


dựng NTM giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết
giúp đỡ nhau xây dựng NTM phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.
Nguyên tắc xây dựng NTM: Xây dựng NTM theo phương châm phát huy
vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai
trò định hướng các tiêu chí, quy chuẩn, xã đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và
hướng dẫn. Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, bản bàn
bạc dân chủ để quyết định tổ chức và thực hiện. Xây dựng NTM được thực hiện
trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình từ mục tiêu Quốc gia, chương
trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình dự án khác đang triển khai ở nông
thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết, có cơ chế chính
sách mạnh mẽ khuyến khích đầu tư của các thành phần kinh tế, huy động đóng
góp của các tầng lớp dân cư. Xây dựng NTM được thực hiện gắn với các quy
hoạch, kế hoạch phát triển KT - XH, đảm bảo an ninh, quốc phòng của mỗi địa
phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ
sở các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các bộ chuyên ngành ban hành).
Xây dựng NTM là nhiệm vụ của của cả hệ thống chính trị và toàn thể xã
hội; cấp ủy Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây
dựng quy hoạch, kế hoạch tổ chức thực hiện. Hình thức là cuộc vận động
“Toàn dân xây dựng nông thôn mới” do Mặt trận Tổ quốc chủ trì cùng các tổ
chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp Nhân dân phát huy vai trò chủ thể

sự mất cân đối trong phát triển vùng các địa phương, nhất là khoảng cách giữa
thành thị và nông thôn ngày càng lớn. Do vậy, xây dựng NTM sẽ góp phần khắc
phục tình trạng mất cân đối trong phát triển KT - XH của tỉnh Vĩnh Phúc.
Thứ ba, xây dựng NTM tạo ra động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp
phát triển. Tuy là ba lĩnh vực độc lập, nhưng nông nghiệp, nông thôn và nông dân
luôn có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, chi phối và ảnh hưởng lẫn
nhau. Các vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân của Tỉnh luôn được giải
quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp. Nông thôn
của tỉnh Vĩnh Phúc, còn là khu vực giàu tiềm năng cần khai thác một cách có hiệu
quả quá trình xây dựng NTM. Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường, định
hướng XHCN, phù hợp với điều kiện của tỉnh Vĩnh Phúc, để giải phóng và sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực. Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng
NTM là chương trình mang tính tổng hợp, sâu, rộng, có nội dung toàn diện, bao
gồm tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, an ninh, quốc phòng.
Mục tiêu chung của Chương trình được xác định: “Xây dựng NTM có kết cấu hạ

11


tầng KT - XH từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản
xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp và dịch
vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch” [59, tr. 1].
Thực hiện đường lối của Đảng, trong thời gian qua, phong trào xây dựng
NTM đã diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương trong Tỉnh, thu hút sự tham gia
của cả cộng đồng, phát huy được sức mạnh của toàn Tỉnh. Quá trình xây dựng
NTM đã đạt được nhiều thành tựu. Những thành tựu đó đã góp phần thay đổi
toàn diện bộ mặt nông thôn, tạo cơ sở vững chắc nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần của Nhân dân.
1.1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tác động đến xây dựng nông

phù sa lớn, mang lại sự màu mỡ cho đất đai, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.
Tài nguyên thiên nhiên của Vĩnh Phúc gồm có: Tài nguyên nước, tài
nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên du lịch. Tài
nguyên nước mặt và nước ngầm: Nguồn nước mặt của tỉnh khá phong phú nhờ
hai sông Hồng và sông Lô cùng hệ thống các sông nhỏ như: sông Phó Đáy,
sông Phan, sông Cà Lồ và hàng loạt hồ chứa (Đại Lải, Xạ Hương, Vân Trục,
Đầm Vạc..) dự trữ khối lượng nước khổng lồ, đủ để phục vụ cho sản xuất và
sinh hoạt của Nhân dân. Nguồn nước ngầm có trữ lượng không lớn, đạt khoảng
01 triệu m3/ngày đêm. Trên địa bàn Tỉnh có 2 nhóm đất chính là: Đất phù sa và
đất đồi núi, tính đến năm 2012: Tổng diện tích 1.231,76 km 2; đất nông nghiệp
865,17 km2 chiếm 69,85%; đất phi nông nghiệp 351,83 km 2 chiếm 28,40%; đất
chưa sử dụng 21,61 km2 chiếm 1,75%. Trong đó, tỉnh Vĩnh Phúc có khoảng
324 km2 đất lâm nghiệp, trong đó rừng sản xuất là 132 km 2, rừng phòng hộ là
40 km2 và rừng đặc dụng là 151 km 2. Tài nguyên rừng là Vườn Quốc gia Tam
Đảo với trên 150 km2, còn có vai trò điều hoà nguồn nước, khí hậu. Khoáng
sản trên địa bàn chỉ bao gồm một số loại như: Đá xây dựng, cao lanh, than bùn.
Nhìn chung, tỉnh Vĩnh Phúc là Tỉnh nghèo về tài nguyên khoáng sản.
Tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch tự nhiên và du
lịch nhân văn. Bên cạnh đó Vĩnh Phúc còn có hệ thống sông ngòi, đầm hồ
tương đối phong phú, địa thế đẹp, có thể vừa phục vụ sản xuất, nhất là sản xuất
nông nghiệp, vừa có giá trị cho phát triển du lịch như: Đại Lải, Dị Nậu, Vân
Trục, Đầm Vạc, Đầm Dưng, Thanh Lanh… Tiềm năng tự nhiên cho phát triển
du lịch kết hợp với các giá trị văn hóa truyền thống sẽ là nguồn lực quan trọng
cho phát triển KT - XH và phát triển văn hóa.
Tỉnh Vĩnh Phúc có 09 đơn vị hành chính, gồm thành phố Vĩnh Yên, thị
xã Phúc Yên, các huyện: Bình Xuyên, Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Tam
Đảo, Vĩnh Tường, Yên Lạc và có tổng số 137 xã, phường, thị trấn, trong đó có
13 phường; 12 thị trấn và 112 xã. 112 xã này đều thuộc diện xây dựng NTM.

13

đồng tình. Giáo dục và đào tạo đã đạt được những kết quả quan trọng: Trường lớp
được củng cố và dần ổn định; cơ sở vật chất của nhà trường tiếp tục được tăng
cường. Chất lượng giáo dục có tiến bộ vượt bậc, tỉnh Vĩnh Phúc được công nhận
đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở năm 2001. Trên địa bàn tỉnh có 76 cơ sở đào

14


tạo, trong đó: Có 4 trường đại học; 6 trường cao đẳng; 11 trường trung cấp
chuyên nghiệp và 55 cơ sở có tổ chức dạy nghề (cao đẳng nghề, trung cấp nghề
và trung tâm dạy nghề); quy mô đào tạo hơn 37.000 học sinh, hàng năm có gần
15.000 học sinh tốt nghiệp đáp ứng nhu cầu lao động của các thành phần kinh tế.
Cùng với tốc độ gia tăng dân số, dân số bước vào tuổi lao động ngày càng cao.
Mỗi năm Tỉnh có trên một vạn người bước vào độ tuổi lao động, đây là nguồn
nhân lực dồi dào cho phát triển KT - XH của Tỉnh, đây cũng là nguồn nhân lực bổ
sung cho chương trình xây dựng NTM của Tỉnh.
Công tác chăm sóc sức khoẻ Nhân dân được cải thiện, hệ thống mạng lưới
y tế từ tỉnh đến cơ sở tiếp tục được tăng cường cả về cơ sở vật chất và đội ngũ cán
bộ. Hệ thống văn hóa thông tin và phát thanh, truyền hình từ tỉnh đến cơ sở ngày
càng được hoàn thiện và phát triển. Công tác thông tin tuyên truyền trên các
phương tiện thông tin đại chúng được thực hiện tốt. Các thiết chế văn hóa được
củng cố, các công trình lịch sử, văn hóa được chú trọng.
1.1.3. Thực trạng nông thôn của tỉnh Vĩnh Phúc trước năm 2006
Trước năm 2006, phát huy truyền thống đoàn kết và cách mạng, Đảng
bộ và Nhân dân các dân tộc trong Tỉnh đã vượt qua nhiều khó khăn, phấn đấu
đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. Trong quá trình
thực hiện các nhiệm vụ phát triển KT - XH, lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
luôn được Tỉnh đặc biệt quan tâm. Nghị quyết Đại hội XIV (năm 2005) đã đề
ra 10 chương trình KT - XH, trong đó có 04 chương trình liên quan trực tiếp
đến nông nghiệp, nông thôn. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Khoá XIV, đã ban

100% xã, phường, thị trấn đã có trạm y tế, trong đó 24% số trạm đã đạt chuẩn
Quốc gia; 100% số trạm đã có nhà hộ sinh và y sỹ sản nhi; 100% thôn, làng có
cán bộ y tế hoạt động. Các trạm y tế đảm bảo phục vụ cấp cứu và khám chữa
bệnh cho Nhân dân. Đến hết năm 2005, đã có 7/9 huyện, thành phố, thị xã có hệ
thống cung cấp nước sạch, 11 xã có công trình cấp nước sạch tập trung phục vụ
cho gần 2,4 ngàn hộ. Đã có 63 xã có chợ, nhưng hầu hết chợ NTM được quy
hoạch, kết cấu hạ tầng còn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.
Thứ ba, các lĩnh vực văn hóa, xã hội trên địa bàn nông thôn có nhiều chuyển
biến, nhiều đổi mới. “Toàn tỉnh đã có 3 huyện được nâng cấp, xây dựng trung tâm
văn hoá, thể thao; xây dựng 56 nhà văn hoá xã (41,79%), 716 nhà văn hoá làng,
thôn (52,11%); 5 thư viện huyện (55,56%), 22 thư viện xã (16,42%), 100% số xã
có tủ sách pháp luật và điểm bưu điện văn hoá xã” [66, tr. 10]; “120 xã có hệ thống
loa truyền thanh đến thôn (89,55%); Có 2 nhà truyền thống huyện (22,22%), 3 nhà
truyền thống xã (2,2%) và 297/967 di tích được xếp hạng (92 di tích cấp Quốc gia,
16


205 di tích cấp tỉnh)” [66, tr. 11]. Đã quy hoạch và đầu tư xây dựng các di tích
trọng điểm như Đền Hai Bà Trưng, di tích danh thắng Tây Thiên, Thiền viện Trúc
Lâm Tây Thiên, đền Thính, di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu...
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong xây dựng phát triển nông
thôn ở tỉnh Vĩnh Phúc trước năm 2006 còn bộc lộ nhiều hạn chế. Cụ thể là:
Thứ nhất, kinh tế nông thôn chậm phát triển, chưa tương xứng với tiềm
năng, chất lượng và sức cạnh tranh của một số lĩnh vực còn thấp. Công nghiệp
chế biến nông sản, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề phát triển chậm. Hiệu quả sản
xuất nông nghiệp thấp, khối lượng hàng hoá ít, giá thành cao. Thu nhập của người
lao động khu vực nông nghiệp thấp hơn nhiều so với lao động ở các khu vực kinh
tế khác. Nhu cầu đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn lớn song khả năng
đáp ứng của các nguồn lực còn thấp. Tư duy về kinh tế thị trường của đại bộ phận
nông dân còn nhiều hạn chế. Khu vực nông nghiệp, nông thôn chịu nhiều tác

kinh tế; chất lượng nguồn nhân lực còn rất thấp so với yêu cầu. Tình trạng thừa
lao động, thiếu việc làm khá phổ biến. Thực hiện nếp sống văn minh trong việc
cưới, việc tang, lễ hội, mừng thọ ở nhiều nơi chưa tốt. Khiếu nại, tố cáo của
Nhân dân còn là vấn đề bức xúc. Đời sống nông dân tuy được cải thiện nhưng
còn nhiều khó khăn. Khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa
nông dân và các nhóm xã hội khác, giữa miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số và
miền xuôi... có chiều hướng gia tăng. Theo thống kê đến cuối năm 2005 “Tỉnh
vẫn có gần 45,8 ngàn hộ nghèo (chiếm 18%) [66, tr. 21], trong đó: Khu vực
nông thôn có trên 43,3 ngàn hộ, chiếm 19,67%, số hộ nông thôn và 94,64% tổng
số hộ nghèo; khu vực thành thị có 2,45 ngàn hộ, chiếm 7,16% số hộ thành thị;
số hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số là 3,33 ngàn hộ (chiếm 41% tổng số hộ
dân tộc thiểu số). Ngoài ra, còn rất nhiều hộ ở mức cận nghèo, nếu không nâng
cao năng lực sản xuất thì trong một vài năm tới sẽ tái nghèo. Qua điều tra cho
thấy nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo của các hộ là do “thiếu vốn sản xuất
là 41%; thiếu đất sản xuất là 15%; thiếu kiến thức, kinh nghiệm sản xuất là 14%;
gia đình có người ốm đau, bệnh tật, già cả là 14%; thiếu lao động, đông người
ăn theo là 12%; tai nạn, rủi ro, thiên tai là 3%; gia đình có người mắc các tệ nạn
xã hội, lười lao động: 1%” [66, tr. 20]. Công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao
nhận thức, dạy nghề cho nông dân; công tác thông tin, nhất là về luật pháp,
chính sách, thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp chưa được coi trọng.
Những giải pháp về giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nông dân hiệu quả
chưa cao. Phát triển các lĩnh vực y tế, văn hoá, giáo dục ở nông thôn, nhất là bậc
học mầm non, xây dựng thiết chế văn hoá làng, xã, bảo tồn và phát triển văn hoá
truyền thống chưa được quan tâm đúng mức.

18


Thứ ba, kết cấu hạ tầng KT - XH còn nhiều bất cập, hoạt động của hệ
thống chính trị có nơi chưa đáp ứng yêu cầu. Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ

19


làm gốc, làm chính. Chính vì vậy, Người rất quan tâm, dành nhiều công sức để
nghiên cứu, chỉ đạo phát triển nông nghiệp.
Tại Đại hội III (9/1960) Đảng đã khẳng định: Trong nền kinh tế quốc dân
miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải đi từ nông nghiệp, phải dựa vào
lực lượng của nông dân lao động và phát huy tính tích cực cách mạng của họ.
Đến Đại hội IV (12/1976) Đảng đã xác định: Lấy phát triển nông nghiệp và công
nghiệp nhẹ, làm cơ sở để ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý.
Tại Đại hội V (3/1982) Đảng khẳng định: Nông nghiệp là mặt trận hàng đầu và
chỉ rõ quan điểm xây dựng và phát triển công nghiệp nặng phải phục vụ thiết thực
và có hiệu quả cho nông nghiệp và hàng tiêu dùng. Tại Đại hội VI (12/1986), đây
là đại hội có bước ngoặt trong đổi mới tư duy của Đảng về CNXH nói chung, về
nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được cùng
với những bài học chưa thành công được rút ra trong suốt cả thời kỳ tập trung,
quan liêu, bao cấp (1976 - 1986), đặc biệt, xuất phát từ lợi ích của Nhân dân lao
động lên hàng đầu, Đại hội xác định: Trong nhưng năm tới chúng ta thực sự lấy
nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và
hàng xuất khẩu. Công nghiệp nặng trong bước này, hướng trước hết vào phục vụ
nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, với quy mô và trình độ thích hợp. Các Đại hội
VII, Đại hội VIII, Đại hội IX và Đại hội X cũng như nhiều nghị quyết, chỉ thị, hội
nghị Trung ương trong các nhiệm kỳ, đều thể hiện rõ chủ trương chiến lược nhất
quán đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân, từng bước xác định ý nghĩa và
tầm quan trọng của việc phát triển toàn diện kinh tế nông nghiệp, tiến đến khẳng
định CNH, HĐH nông nghiệp và kinh tế nông thôn, đưa nông nghiệp và kinh tế
nông thôn lên sản xuất lớn là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, cả trước mắt và lâu
dài. Văn kiện Đại hội X (4/2006) của Đảng nhấn mạnh: Hiện nay và trong nhiều
năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt
quan trọng, phải luôn coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hướng tới

Trước thực trạng nêu trên, đặt ra yêu cầu phải tiếp tục xây dựng và phát
triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn nhằm không ngừng nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn. Xây dựng nền nông nghiệp phát
triển toàn diện theo hướng hiện đại, xã hội nông thôn ổ định, giàu bản sắc văn
hóa dân tộc. Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công, nông, trí
vững mạnh, tạo nền tảng KT - XH và chính trị vững chắc cho sự nghiệp CNH,
HĐH xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Nghị quyết chỉ rõ các quan điểm “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có
vị trí chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các vấn đề nông
nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình
đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” [2, tr. 1]. Xây dựng NTM gắn với xây dựng

21


các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch. Phát triển
nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân.
Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ
thống chính trị và toàn xã hội.
Mục tiêu tổng quát: Xây dựng NTM có kết cấu hạ tầng KT - XH hiện
đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; “xã hội nông thôn
ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc” [2, tr. 2]; dân trí được nâng cao; hệ
thống chính trị ở nông thôn được tăng cường. Củng cố liên minh công - nông trí vững mạnh, tạo nền tảng phát triển KT - XH và chính trị vững chắc cho sự
nghiệp CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Mục tiêu đến năm 2020: “Tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thuỷ sản đạt 3,5
- 4%/năm” [2, tr. 2]; sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả; “nâng cao thu nhập của
dân cư nông thôn gấp trên 2,5 lần so với hiện nay. Lao động nông nghiệp còn
khoảng 30% lao động xã hội, tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt trên 50%;
số xã đạt tiêu chuẩn NTM khoảng 50%” [2, tr. 2]. Phát triển đồng bộ kết cấu hạ
tầng nông thôn, như hệ thống thuỷ lợi, giao thông thông suốt bốn mùa tới hầu

mới (2006 – 2014)
1.2.1. Chủ trương, tư tưởng chỉ đạo xây dựng nông thôn mới
Tỉnh Vĩnh Phúc có truyền thống là tỉnh đi đầu trong đổi mới cơ chế phát
triển nông nghiệp như: Năm 1966, Tỉnh ủy có Nghị quyết số 68-NQ/TU, Về
Khoán hộ do Bí thư Kim Ngọc khởi xướng; năm 1979 Về Khoán cây màu; năm
1983, có nghị quyết số 18-NQ/TU Về khoán đồi rừng; năm 1987, Về Khoán 10
và tại Đại hội lần thứ XIV năm 2005, trong phương hướng nhiệm vụ năm năm
2005 - 2010 đã đưa ra một số nhiệm vụ giải pháp, trong đó, “quan tâm xây dựng
nông thôn mới, tạo sự phát triển đồng đều giữa các vùng, các địa phương trong
tỉnh” [31, tr. 45] là nội dung xây dựng NTM theo hướng hiện đại, văn minh, bảo
tồn các giá trị văn hóa truyền thống, nhằm tạo sự phát triển đồng đều giữa các
vùng, các địa phương trong Tỉnh, tăng thu nhập và điều kiện sống cho người dân
nông thôn. Tập trung xây dựng NTN như quy hoạch các trung tâm xã các cụm
KT - XH. “Phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, đặc biệt là giao thông, điện nước,
công trình thủy lợi… bảo đảm các điều kiện để phát triển bền vững” [31, tr. 45].
Tại Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc Khoá
XIV đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 27/12/2006, Về phát triển
nông nghiệp, nông dân, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006 - 2010,
định hướng đến năm 2020, Nghị quyết đã chỉ rõ: Xây dựng, phát triển nông
thôn là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển KT - XH của

23


Tỉnh. Chủ trương trên đây đã khẳng định vị trí vai trò to lớn của sự nghiệp xây
dựng, phát triển nông thôn của tỉnh Vĩnh Phúc; là sự cụ thể hóa quan điểm xây
dựng nông thôn theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X (4/2006) của Đảng. Đồng
thời, phản ánh đúng thực trạng nông thôn Vĩnh Phúc trong năm 2006 và những
năm trước đó.
Xây dựng NTM là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội,

được nâng cao” [67, tr. 5].
“Tốc độ sản xuất nông nghiệp tăng trên 5,5%/năm; tỷ trọng nông lâm
nghiệp, thuỷ sản trong cơ cấu kinh tế của tỉnh tăng 10 - 12%; tỷ trọng chăn nuôi,
thuỷ sản trong cơ cấu nông lâm nghiệp, thuỷ sản tăng trên 50%; GDP bình quân
đầu người đạt 1.300 - 1.500 USD, trong đó, khu vực nông thôn đạt trên 600
USD. Mỗi năm giải quyết việc làm 24 - 25 nghìn lao động” [67, tr. 6]. Tỷ lệ lao
động nông lâm nghiệp, thuỷ sản dưới 48%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo 40 45%, trong đó, 30% trở lên lao động nông nghiệp, nông thôn được đào tạo. Tỷ
lệ hộ nghèo giảm bình quân 2%/năm trở lên; đường giao thông nông thôn được
kiên cố hoá 80% trở lên; hoàn thành phổ cập giáo dục trung học phổ thông;
70% trường mầm non, 90% trường tiểu học, 70% trường trung học cơ sở,
trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia; 100% số xã đạt chuẩn quốc gia về y
tế; 80% học sinh được khám sức khoẻ hàng năm, 90% người cao tuổi, tàn tật
được quản lý sức khỏe. 100% xã xây dựng quỹ sự nghiệp y tế và khám chữa
bệnh miễn phí cho đối tượng chính sách, trẻ em dưới 6 tuổi; 85% gia đình đạt
tiêu chuẩn gia đình văn hoá, 80% làng đạt tiêu chuẩn văn hoá. 100% các xã,
thôn, bản có nhà văn hoá, khu hoạt động thể dục, thể thao và vui chơi giải trí
cho trẻ em. Xây dựng 20 làng văn hoá trọng điểm. Giữ vững an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng đạt danh hiệu trong
sạch, vững mạnh đạt 80% trở lên; bộ máy chính quyền, các tổ chức chính trị,
xã hội hoạt động có chất lượng, hiệu quả.
Mục tiêu đến năm 2020
Phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế gấp 1,5 lần bình quân chung cả
nước; thúc đẩy hỗ trợ phát triển kinh tế các vùng khó khăn. Phấn đấu đạt mục
tiêu trở thành thành phố Vĩnh Phúc trực thuộc Trung ương vào năm 2020. Xây
dựng nền nông nghiệp hàng hoá gắn với công nghiệp chế biến; nâng cao chất
lượng, giá trị và sức cạnh tranh của hàng hoá nông sản; tăng thu nhập cho nông
dân. Phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội
và an toàn môi trường. “Trong giai đoạn 2011 - 2020 phấn đấu đạt nhịp độ
tăng trưởng GDP trên 13%/năm; GDP bình quân đầu người đến năm 2015 đạt
3.000 USD; năm 2020 đạt 5.500 - 6.000 USD. Đến năm 2020: lao động trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status