LUẬN văn THẠC sĩ đảng bộ tỉnh vĩnh phúc lãnh đạo thực hiện chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng từ năm 2001 đến năm 2010 - Pdf 52

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do, vì cuộc sống bình yên, hạnh
phúc của nhân dân, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã hiến dâng tuổi
thanh xuân, sẵn sàng xả thân cho Tổ quốc, dũng cảm chiến đấu, anh dũng hy
sinh hoặc mang thương tật suốt đời. Hàng triệu thân nhân liệt sĩ - ông bà, cha
mẹ, người vợ, người chồng, người con, người cháu, anh chị em mãi mãi
không bao giờ được gặp lại những người thân yêu nhất của mình.
Thấm nhuần đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng
cây” và thấu hiểu sâu sắc giá trị của sự hy sinh, cống hiến to lớn của các anh
hùng liệt sĩ, thương binh đối với đất nước, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh
đặc biệt quan tâm đến công tác TB, GĐLS và NCCVCM, Người chỉ rõ:
“Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ là những người có công với Tổ
quốc, với nhân dân. Cho nên bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, phải
thương yêu và giúp đỡ họ” [34, tr.372].
Hơn 70 năm qua, nhất là trong hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới,
Ðảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác TB,
GĐLS và NCCVCM và tổ chức vận động toàn dân tích cực tham gia các phong
trào “Ðền ơn đáp nghĩa”, “Toàn dân chăm sóc các gia đình thương binh, liệt sĩ
và người có công với cách mạng”. Nhiều chủ trương của Ðảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước về ưu đãi đối với người có công đã được ban hành; đối
tượng hưởng chính sách ưu đãi được mở rộng, các chế độ ưu đãi từng bước
được bổ sung, hoàn thiện, thể hiện sự trân trọng, biết ơn, chăm lo của Ðảng,
Nhà nước và nhân dân ta.
Quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Đảng bộ tỉnh
Vĩnh Phúc thường xuyên quan tâm lãnh đạo thực hiện tốt chính sách đối với
TB, GĐLS và NCCVCM. Tuy nhiên, do hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại
cùng với những bất cập trong chỉ đạo, điều hành, quản lý… việc thực hiện
3




việc thực hiện, Nxb CTQG, Hà Nội. Tác giả trình bày những vấn đề lý luận
và phương pháp luận nghiên cứu vận dụng chính sách xã hội và đổi mới cơ
chế quản lý thực hiện. Từ việc đánh giá khái quát thực trạng một số vấn đề xã
hội và chính sách xã hội, tác giả nêu lên quan điểm cơ bản của một số chính
sách xã hội đã được thể chế hoá và từng bước đưa vào cuộc sống như: phát
triển nguồn nhân lực và giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, bảo hiểm xã
hội, trợ giúp xã hội, ưu đãi người có công với nước; Nguyễn Thị Thanh
(2004), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện một số chính sách xã
hội trong thời kỳ 1991 - 2001, Luận án tiến sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội. Luận án nghiên cứu một cách
có hệ thống vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với việc thực
hiện các chính sách xã hội từ 1991 - 2001, khẳng định những thành tựu, hạn
chế và đúc kết những kinh nghiệm trong quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện
các chính sách xã hội; Nguyễn Thị Hằng (2005), “Tiếp tục thực hiện tốt hơn
nữa chính sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, người có
công với cách mạng”, Tạp chí Cộng sản, số 7-2005. Tác giả nêu những nét
khái quát thành tựu đạt được trong việc thực hiện ưu đãi xã hội đối với TB,
GĐLS và NCCVCM trong 10 năm từ 1995 đến 2005, qua đó đúc kết những
kinh nghiệm và đề ra những giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn chính sách ưu
đãi xã hội; Nguyễn Thị Kim Ngân (2008), “Nỗ lực phấn đấu thực hiện có hiệu
quả chính sách an sinh xã hội”, Tạp chí Cộng sản, số 7-2008. Tác giả trình
bày chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước, nêu lên những thành
tựu đạt được cũng như khó khăn và thách thức đối với chính sách an sinh xã
hội; Đào Văn Dũng (2008), “Chính sách chăm sóc người có công - Thực trạng
và giải pháp”, Tạp chí Tuyên giáo, số 7 năm 2008. Tác giả trình bày hệ thống
những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với người có
công, nêu lên thực trạng những tồn tại cần khắc phục và đưa ra những giải
pháp phát triển; Bùi Hồng Lĩnh (2008), “Kết quả thực hiện Pháp lệnh ưu đãi

văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, kết hợp hài hòa với tăng trưởng kinh tế.
6


Phùng Quang Thanh (2007), “Quân đội nhân dân phấn đấu thực hiện tốt
hơn nữa công tác thương binh, liệt sĩ, chính sách hậu phương quân đội”, Tạp
chí Quốc phòng toàn dân, số 7-2007. Tác giả điểm lại những nét chính trong
60 năm thực hiện công tác TBLS và NCCVCM của Đảng và Nhà nước, nêu
lên sự đóng góp của quân đội vào thành tích chung đó. Đặc biệt, tác giả đã chỉ
rõ phương hướng nhằm thực hiện tốt hơn nữa chính sách đối với thương binh,
liệt sĩ, chính sách hậu phương quân đội và phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”.
Vũ Hữu Luận (2010), “Nâng cao hiệu quả công tác thương binh, liệt sĩ,
chính sách hậu phương quân đội”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 7-2010.
Tác giả nêu bật những thành tựu của ngành chính sách quân đội từ 2006-2010,
chỉ ra vị trí, vai trò của ngành chính sách quân đội trong quá trình thực hiện chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với TBLS và NCCVCM.
Phạm Văn Hồ (2012), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thực hiện
chính sách xã hội ở Tây Nguyên từ năm 1996 đến năm 2006, Luận án tiến sĩ
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội. Luận án trình bày hệ thống chủ trương, chính sách của
Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội trên địa bàn có tính đặc thù ở Tây
Nguyên thời kỳ đổi mới; quá trình vận dụng sáng tạo của Đảng bộ các tỉnh
Tây Nguyên trong thực hiện chính sách xã hội của Đảng; đúc kết một số kinh
nghiệm về quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội ở Tây Nguyên
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tuy các công trình trên chưa đề cập trực tiếp quá trình Đảng bộ tỉnh
Vĩnh Phúc lãnh đạo thực hiện chính sách đối với TB, GĐLS và NCCVCM,
song đây là nguồn tư liệu quý, phong phú, có giá trị lí luận, thực tiễn tin cậy
để tác giả nghiên cứu, kế thừa trong xây dựng và hoàn thành luận văn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận

8


Đề tài dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách xã
hội và chính sách đối với TB, GĐLS và NCCVCM.
* Cơ sở thực tiễn
Gồm toàn bộ hoạt động lãnh đạo thực hiện chính sách đối với TB,
GĐLS và NCCVCM của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2001 đến năm 2010
và những báo cáo đánh giá, tổng kết về công tác này của tỉnh Vĩnh Phúc.
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử,
phương pháp lôgíc. Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp khác như:
thống kê, phân tích, tổng hợp, phương pháp chuyên gia...
6. Ý nghĩa của luận văn
Góp phần hệ thống hóa chủ trương, chính sách và sự chỉ đạo thực hiện
chính sách đối với TB, GĐLS và NCCVCM của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc từ
năm 2001 đến năm 2010.
Những kinh nghiệm rút ra từ quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo
thực hiện chính sách đối với TB, GĐLS và NCCVCM, có thể vận dụng góp
phần nâng cao hiệu quả thực hiện công tác này ở tỉnh trong những năm tới.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên
cứu, chỉ đạo thực hiện chính sách đối với TB, GĐLS và NCCVCM nói chung
và ở tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn

nhân dân nâng cao trách nhiệm hơn nữa đối với công tác “Đền ơn đáp nghĩa”.
Theo Người, ý nghĩa sâu sắc của công tác này là sự trân trọng, biết ơn đối với
những người có công với độc lập, tự do của Tổ quốc, chứ không phải là sự gia
ơn, làm phúc. Vì vậy, “bổn phận chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu và
10


giúp đỡ họ” [34, tr.372]. Người cũng nhấn mạnh rằng, muốn làm tốt công việc
“Đền ơn đáp nghĩa”, một mặt toàn Đảng, toàn quân, toàn dân phải trân trọng,
biết ơn đối với TB, GĐLS, mặt khác, anh em thương binh, bệnh binh, thân
nhân liệt sĩ cũng không được tự ty, công thần, ỷ lại, mà phải phát huy truyền
thống, giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, vượt lên khó khăn để tiếp tục
sống và cống hiến cho xã hội. Người chân thành động viên thương binh, bệnh
binh “Các đồng chí đã anh dũng giữ gìn non sông, các đồng chí sẽ trở nên
người công dân kiểu mẫu ở hậu phương cũng như các đồng chí đã làm người
chiến sĩ kiểu mẫu ở ngoài mặt trận” [32, tr.584].
Để công tác đền ơn đáp nghĩa trở thành phong trào quần chúng sâu
rộng, có ý nghĩa thiết thực; ngày 16/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc
lệnh số 20 về chế độ “Hưu bổng, thương tật và tiền tuất cho thân nhân tử sĩ”;
ngày 03/10/1947, Người ký Sắc lệnh số 101 thành lập Sở, Ty Thương binh,
cựu binh ở khu, tỉnh và đến ngày 16/12/1952, Người ký Sắc lệnh số 129 đặt ra
Bằng “Bảng vàng danh dự” và Bằng “Gia đình vẻ vang” để thưởng cho các
gia đình chiến sĩ có nhiều người tòng quân hoặc hy sinh trong kháng chiến
chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Bên cạnh đó, Người cũng ký nhiều lệnh để
tặng, truy tặng các danh hiệu Anh hùng, Huân chương, Huy chương cho các
thương binh, liệt sĩ, đồng thời đôn đốc việc tổ chức thực hiện. Đặc biệt, với
những cán bộ chuyên trách làm công tác thương binh xã hội.
- Quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với thương binh, gia đình liệt
sĩ và người có công với cách mạng.
Ngày từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, Nghị quyết Đại hội đại biểu lần

Để khắc phục những khó khăn, bất cập trong cuộc sống của một bộ
phận người có công, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, khu căn cứ kháng chiến;
khắc phục hậu quả chiến tranh, đẩy mạnh việc tìm kiếm và quy tập mộ liệt sĩ;
thúc đẩy phong trào đền ơn đáp nghĩa ở một số địa phương, ngày 14-12-1996,
Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 09-CT/TW về việc mở đợt vận động kỷ niệm 50
năm Ngày thương binh, liệt sĩ. Chỉ thị yêu cầu các bộ, ngành, các cấp ủy
12


Đảng và chính quyền tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các chế độ,
chính sách theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; tiếp tục đẩy
mạnh xã hội hóa việc chăm sóc TB, GĐLS và NCCVCM, phụng dưỡng Bà
mẹ Việt Nam Anh hùng… Như vậy, một lần nữa có thể khẳng định, qua các
thời kỳ lịch sử việc thực hiện chính sách đối với TB, GĐLS và NCCVCM là
nội dung cơ bản, bộ phận hữu cơ của đường lối chủ trương, chính sách của
Đảng, Nhà nước.
- Thực hiện chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và người có
công với cách mạng là cơ sở, điều kiện góp phần giải quyết tốt các vấn đề
kinh tế - xã hội và các vấn đề phát triển bền vững của tỉnh Vĩnh Phúc
Thương binh, GĐLS và NCCVCM là một bộ phận yếu thế trong xã
hội, bởi họ đã cống hiến sức lực, một phần thân thể, tuổi thanh xuân của mình
cho đất nước, vì vậy hoàn cảnh, đời sống vật chất và tinh thần của họ đa phần
rất khó khăn, nhất là trong tình hình hiện nay, khi nền kinh tế chuyển sang vận
hành theo quy luật của nền kinh tế thị trường, nẩy sinh nhiều khó khăn mới,
nhất là trong lĩnh vực lao động, việc làm, thu nhập, nhà ở... Tỉnh Vĩnh Phúc là
một tỉnh có số lượng TB, GĐLS và NCCVCM khá nhiều, chiếm trên 9% dân
số toàn tỉnh [5, tr.1]. Việc giải quyết tốt các chính sách đối với TB, GĐLS và
NCCVCM có một ý nghĩa hết sức quan trọng không những về chính trị mà
còn tạo ra môi trường KT - XH lành mạnh, góp phần ổn định chính trị, an
ninh trật tự xã hội.

chính trị, văn hóa của Tỉnh), thị xã Phúc Yên và 7 huyện là Bình Xuyên, Yên
Lạc, Vĩnh Tường, Tam Dương, Tam đảo, Lập Thạch và Sông Lô…
Quá trình phát triển KT - XH của đất nước trong các năm qua đã tạo
cho Vĩnh Phúc những lợi thế mới về vị trí địa lý kinh tế, tỉnh đã trở thành một
bộ phận cấu thành của vành đai phát triển công nghiệp các tỉnh phía Bắc.
Đồng thời,sự phát triển các tuyến hành lang giao thông quốc tế và quốc gia
liên quan đã đưa Vĩnh Phúc xích gần hơn với các trung tâm kinh tế, công
nghiệp và những thành phố lớn của quốc gia và quốc tế thuộc hành lang kinh
14


tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, QL2 Việt Trì - Hà Giang Trung Quốc, hành lang đường 18 và trong tương lai là đường vành đai IV
thành phố Hà Nội...
Điều kiện về kinh tế - xã hội
Vĩnh Phúc nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là cửa ngõ giao
lưu KT - XH giữa trung du, miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trong cơ
chế kinh tế mới, nền kinh tế của Tỉnh phát triển và có mức tăng trưởng khá.
Tính chung cả giai đoạn 2001-2010, GDP Vĩnh Phúc tăng trưởng bình quân
15,2% /năm, trong đó: nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 5,23%/năm; công
nghiệp, xây dựng tăng 19,71%/năm; dịch vụ tăng 15,04%/ năm. Nhìn chung,
tốc độ tăng trưởng luôn đạt mức cao trong số các tỉnh đồng bằng sông Hồng
và Vùng Kinh tế trọng điểm phía Bắc, tăng gấp 2 lần so với tốc độ trung bình
của cả nước.
Cùng với tốc độ tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, GDP bình quân đầu
người trong tỉnh cũng tăng bình quân 15,3%/năm, mục tiêu Đại hội lần thứ
XIII (2001 - 2005) là trên 10%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo
hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Năm
2005, tỉnh có cơ cấu kinh tế: Công nghiệp - xây dựng: 52,2%, dịch vụ: 26,6%,
nông nghiệp: 21,2%. GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 515 USD, mục
tiêu Đại hội lần thứ XIII (2001 - 2005) là 350 USD [22, tr.11]. Như vậy, xét

* Chủ trương của Đảng, Nhà nước về thực hiện chính sách đối với
thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng (2001 - 2005)
- Mục tiêu, phương hướng
Tổng kết 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và 10 năm
16


thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển KT - XH (1991- 2000) , trên cơ
sở những những kết quả đã đạt được về thực hiện chính sách đối với TB,
GĐLS và NCCVCM. Tiếp nối tinh thần yêu nước, phát huy đạo lý và
truyền thống nhân ái của dân tộc Việt Nam “uống nước nhớ nguồn; ăn quả
nhớ người trồng cây”, “đền ơn đáp nghĩa”, Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX của Đảng xác định: “Chăm lo tốt hơn đối với các gia đình chính sách
và những người có công với cách mạng, bảo đảm tất cả các gia đình chính
sách đều có cuộc sống bằng hoặc khá hơn mức sống trung bình so với người
dân địa phương trên cơ sở kết hợp 3 nguồn lực: Nhà nước, cộng đồng và cá
nhân các đối tượng chính sách tự vươn lên” [28, tr.301].
Mục tiêu, phương hướng trên thể hiện trách nhiệm và tình cảm của
Đảng đối với TB, GĐLS và NCCVCM, đồng thời là cơ sở để các cấp, các
ngành phát huy sức mạnh tổng hợp, chăm lo ngày càng tốt hơn đời sống TB,
GĐLS và NCCVCM, phát huy năng lực của các đối tượng chính sách trong
hoàn cảnh mới, cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Để tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng cũng như để nâng cao hiệu
quả trong quá trình thực hiện chính sách đối với TB, GĐLS và NCCVCM,
ngày 01/3/2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị Số: 08-CT/TW, Về
việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thương binh, liệt sĩ,
người có công với cách mạng và phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” trong giai
đoạn mới, Ban Bí thư quyết định lấy năm 2002, là năm đẩy mạnh công tác
chăm sóc TB, GĐLS và NCCVCM.

Đảng và Nhà nước, truyền thống của dân tộc và những thành quả của công tác
TB, GĐLS và NCCVCM 55 năm qua. Tiến hành sơ kết việc thực hiện Pháp
lệnh người có công trong 6 năm qua kể từ khi được ban hành; trên cơ sở đó
từng địa phương, đơn vị xây dựng chương trình hành động cụ thể để làm tốt
hơn công tác TB, GĐLS và NCCVCM theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng.
18


Hai là, các cấp uỷ Đảng, chính quyền tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực
hiện đúng, đầy đủ, chu đáo các chế độ, chính sách theo Pháp lệnh ưu đãi
người có công với cách mạng. Kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm minh các
tiêu cực trong việc thực hiện chính sách đối với TB, GĐLS và NCCVCM.
Ba là, giải quyết dứt điểm những tồn đọng về công tác thương binh, liệt
sĩ và người có công trong các thời kỳ cách mạng và kháng chiến. Đẩy mạnh
cuộc vận động toàn dân tham gia ủng hộ xây dựng “Quỹ đền ơn đáp nghĩa”
để có nguồn lực góp phần chăm sóc tốt hơn TB, GĐLS và NCCVCM.
Bốn là, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các chính sách đối với
TB, GĐLS và NCCVCM; chính sách đối với những người tham gia kháng
chiến nay còn mang di chứng nặng nề cho bản thân và gia đình.
Năm là, quan tâm dạy nghề, tạo việc làm, giúp đỡ những gia đình chính
sách đang gặp khó khăn về đời sống, phát triển sản xuất kinh doanh; chăm lo
giáo dục, đào tạo con em của người có công, con liệt sĩ, con thương binh,
bệnh binh.
Sáu là, các Tỉnh uỷ, Thành uỷ, các ban, ban cán sự đảng, đảng đoàn,
đảng uỷ trực thuộc Trung ương và cấp uỷ Đảng các cấp có trách nhiệm lãnh
đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị làm tốt công tác
thương binh, liệt sĩ và người có công, tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm 55
năm Ngày thương binh, liệt sĩ bằng những hình thức phong phú, sinh động, cụ
thể, thiết thực, có chất lượng, tránh hình thức, lãng phí [1, tr.2-3].

Thứ tư, cùng với trợ cấp của ngân sách Nhà nước, Đảng bộ, UBND
tỉnh đã huy động được sự tham gia của các tổ chức KT - XH vào việc chăm
sóc sức khoẻ, cải thiện đời sống tinh thần cho TB, GĐLS và NCCVCM.
Hàng năm đã chi trên 1,6 tỷ đồng cho công tác điều trị điều dưỡng, phục hồi
chức năng đối với TB và NCCVCM. Thực hiện ưu đãi đối với các đối tượng
TB, GĐLS và NCCVCM và con em họ trong việc học tập ở các trường trong
và ngoài công lập, tạo điều kiện để thương bệnh binh và con em của họ nâng
cao trình độ học vấn và chuyên môn có điều kiện, cơ hội tìm kiếm việc làm,
20


nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống. Tổ chức thực hiện tốt cuộc vận động
Phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, chăm sóc bố mẹ liệt sĩ, đỡ đầu con
liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, do Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phát động..., mức phụng dưỡng thấp
nhất là 200.000 đồng/Mẹ/tháng, cao nhất là 400.000 đồng/Mẹ/tháng. Tổng
nguồn kinh phí phụng dưỡng hàng năm trên 1,2 tỷ đồng.
Ngoài ra, hàng năm nhân dịp kỷ niệm Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7 và
các dịp lễ, Tết, tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động bằng các việc làm cụ thể, thiết
thực tỏ lòng tri ân đối với sự hy sinh, mất mát của các TB, GĐLS và NCCVCM.
- Hạn chế: Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện chính sách
đối với TB, GĐLS và NCCVCM vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế.
Thứ nhất, việc xác nhận đối tượng TB, liệt sĩ và NCCVCM theo Pháp
lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh,
bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng của
Ủy Ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 29 tháng 08 năm 1994 và Nghị
định số 28/CP ngày 29-4-1995 còn nhiều vướng mắc, dẫn đến công tác xác nhận
đối tượng TB, liệt sĩ và NCCVCM vẫn còn có nhiều trường hợp chưa giải quyết
được, cụ thể như: thủ tục xác nhận, công nhận liệt sĩ trong 6 trường hợp đã nêu
trong Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ,

Thứ ba, công tác duy tu, sửa chữa mộ, nghĩa trang liệt sĩ, mới chỉ thực
hiện được yêu cầu chống xuống cấp, chưa đảm bảo được yêu cầu bền, đẹp;
nhiều xã, huyện mới được chia tách chưa có nghĩa trang liệt sĩ, nhưng chưa
xây dựng được nhà bia ghi tên liệt sĩ để làm nơi tưởng niệm các anh hùng liệt
sĩ; đối tượng chính sách khó khăn đặc biệt về nhà ở chưa được hỗ trợ còn lớn.
Thực trạng thực hiện chính sách đối với người có công trước năm 2001
đã và đang đặt nhiều yêu cầu bức thiết đối với sự lãnh đạo của các cấp uỷ,
chính quyền trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong việc xác định chủ trương, chỉ
đạo thực hiện chính sách đối với TB, GĐLS và NCCVCM một cách quyết liệt
và cụ thể hơn nữa, nhằm góp phần nâng cao đời sống mọi mặt đối với NCC.
22


1.1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về thực hiện chính
sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng
(2001 - 2005)
* Mục tiêu, phương hướng
Quán triệt đường lối, quan điểm, mục tiêu thực hiện chính sách đối với
TB, GĐLS và NCCVCM của Đảng, trên cơ sở tình hình thực tiễn địa phương,
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIII (3/2001) xác định mục
tiêu, phương hướng thực hiện chính sách đối với TB, GĐLS và NCCVCM là:
“Tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia phong trào đền ơn đáp
nghĩa, đẩy mạnh các hoạt động từ thiện, nhân đạo. Thực hiện tốt chính sách
đối với người có công với nước” [21, tr.69].
Mục tiêu, phương hướng trên thể hiện sự đãi ngộ đặc biệt của Đảng bộ,
chính quyền và nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đối với TB, GĐLS và NCCVCM ở
tỉnh, thể hiện trách nhiệm và là sự ghi nhận, tôn vinh những cống hiến của
TB, GĐLS và NCCVCM đối với đất nước nói chung và tỉnh Vĩnh Phúc nói
riêng. Mục tiêu, phương hướng đó không chỉ mang tính chính trị, KT - XH
mà còn mang tính nhân văn sâu sắc. Đó là sự thể hiện những truyền thống đạo

Để tập trung thực hiện tốt phương hướng và các mục tiêu cụ thể nêu
trên, Đảng bộ tỉnh xác định cần thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các nhiệm vụ,
giải pháp:
Một là, tiếp tục tuyên truyền sâu rộng chủ trương, chính sách của
Đảng, Nhà nước và các chỉ thị, nghị quyết của Tỉnh ủy về thực hiện chính
sách đối với TB, GĐLS và NCCVCM cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp
nhân dân trong tỉnh [61, tr.9].
Một trong những nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện
chính sách đối với TB, GĐLS và NCCVCM thời gian trước năm 2001 là
nắm chưa vững các chỉ thị, hướng dẫn của trên về nội dung này, nên việc
triển khai còn lúng túng, bất cập, thiếu đồng bộ. Bởi vậy, cấp uỷ, chính
quyền các địa phương, cơ quan, đơn vị cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy
24


mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho mọi cán bộ, đảng viên, nhân
dân nhận thức sâu sắc về mục đích, ý nghĩa, giá trị to lớn, ý nghĩa nhân văn
của việc thực hiện công tác chính sách nói chung, công tác TB, GĐLS và
NCCVCM nói riêng và phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”. Đồng thời, tiếp tục
quán triệt, nâng cao nhận thức, nắm vững nội dung, yêu cầu của các chỉ thị,
hướng dẫn về công tác chính sách, nhất là Chỉ thị số 08/CTTW, ngày 01
tháng 3 năm 2002 của Ban Bí thư Trung ương; Nghị định số 69/2003/NĐCP, ngày 13 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ… tăng cường bám nắm cơ sở
để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và những vấn đề cần giải quyết trong thực
hiện chính sách.
Hai là, thực hiện kịp thời, chu đáo các chế độ, chính sách đối với TB,
GĐLS và NCCVCM [61, tr.9].
Chủ động xử lý các tình huống, thực hiện đúng, đủ chế độ, chu đáo các
chính sách và kịp thời đối với TB, GĐLS và NCCVCM. Tiếp tục quán triệt và
thực hiện tốt chính sách của Đảng, Nhà nước và của Tỉnh về việc thực hiện hỗ
trợ đối với TB, GĐLS và NCCVCM, tạo điều kiện để họ phấn đấu và trưởng

công tác tuyên truyền, vận động nhằm không ngừng nâng cao nhận thức cho
cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Ngày 27 tháng 3 năm
2002, Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 10/CT-TU về việc Tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với thương binh, liệt sĩ - người có công và phong trào “Đền ơn
đáp nghĩa” giai đoạn mới, Chỉ thị yêu cầu: “Tăng cường công tác tuyên
truyền, cổ động, nêu gương điển hình các cá nhân và tập thể chấp hành tốt
chính sách thương binh, liệt sĩ và người có công” [61, tr.2]. Ngày 26 tháng 4
năm 2002, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 689/KH-UB Về việc tổ chức Kỷ
niệm 55 năm ngày thương binh liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2002), trong đó nhấn
mạnh, tập trung “Tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong nhân dân ý nghĩa
ngày Thương binh, liệt sĩ, những thành quả to lớn về công tác Thương binh,
liệt sĩ” [68, tr.2].
Thực hiện chỉ đạo của Tỉnh ủy và UBND tỉnh, cấp ủy, chính quyền các
26


cấp đã quán triệt, thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, văn
bản luật của Quốc hội, chính sách của Chính phủ và của Tỉnh về công tác TB,
GĐLS và NCCVCM, đặc biệt là làm rõ các nội dung sửa đổi của các pháp
lệnh: Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ,
thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ
cách mạng, Pháp lệnh số 08/PL-UBTVQH 10, ngày 01 tháng 12 năm 1998,
Về sửa đổi Điều 21 của Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ
và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến,
người có công giúp đỡ cách mạng, Pháp lệnh số 19/2000/PL-UBTVQH10,
ngày 14 tháng 02 năm 2000, Pháp lệnh sửa đổi Điều 21 của Pháp lệnh ưu đãi
người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh,
người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng, Pháp lệnh
số 01/2002/PL-UBTVQH11, ngày 04 tháng 10 năm 2002, Pháp lệnh sửa đổi
Điều 22 và Điều 23 của Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status