đảng bộ tỉnh quảng ninh lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của đảng đối với dân tộc thiếu số trong thời kỳ 1996 2007 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ THANH HÒA

ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG
ĐỐI VỚI DÂN TỘC THIỂU SỐ THỜI KỲ 1996-2007

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ THANH HÒA

ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG
ĐỐI VỚI DÂN TỘC THIỂU SỐ THỜI KỲ 1996-2007

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:

60 22 56

Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN VĂN LA

2.1. Chính sách dân tộc thiểu số của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời
kỳ tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa ..................... 37
2.2. Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc đối với dân tộc
thiểu số của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm 2001 đến 2007 ......... 43


2.2.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về chính sách dân tộc
đối với dân tộc thiểu số ..................................................................... 43
2.2.2. Quá trình thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh Quảng
Ninh đối với dân tộc thiểu số ............................................................ 46
2.3. Kết quả và những vấn đề cần khắc phục .................................................... 59
Chương 3. THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG
LÃNH ĐẠO VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC THIỂU SỐ
CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH ..................................................... 64

3.1. Những thành tựu nổi bật ............................................................................ 64
3.1.1.Về kinh tế và đời sống ..................................................................... 64
3.1.2. Về văn hóa - xã hội ......................................................................... 65
3.1.3. Về chính trị, tư tưởng...................................................................... 67
3.2. Những hạn chế và nguyên nhân ................................................................. 69
3.2.1. Những hạn chế ................................................................................ 69
3.2.2. Nguyên nhân................................................................................... 70
3.3. Một số kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn ....................................................... 72
3.3.1. Tập trung đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu
số, quan tâm đến lợi ích thiết thực của đồng bào các dân tộc ............ 72
3.3.2. Phát triển kinh tế xã hội ở vùng dân tộc thiểu số phải kết hợp
với vấn đề xây dựng và củng cố quốc phòng, an ninh ....................... 74
3.3.3. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi việc thực
hiện chính sách dân tộc đối với đồng bào dân tộc thiểu số ................ 75
KẾT LUẬN........................................................................................................ 78


:

Hội đồng nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Trong quá trình lãnh đạo cách
mạng Việt Nam, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc là một nội dung cơ bản
được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm, thể hiện trong quan
điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước. Xuất phát từ đặc điểm
của một quốc gia có nhiều dân tộc, các dân tộc có truyền thống lịch sử, văn
hóa lâu đời, Đảng Cộng sản Việt Nam lấy những nguyên lý của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng để xây dựng và giải
quyết vấn đề dân tộc trong từng giai đoạn cách mạng. Đảng đã đề ra hàng loạt
chính sách cụ thể về kinh tế, chính tri, văn hóa, xã hội phù hợp với yêu cầu
phát triển toàn diện các dân tộc trong quốc gia dân tộc Việt Nam và thực tiễn
của đất nước. Đến nay, các chính sách đó đã và đang đem lại những thành tựu
quan trọng.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, chính sách dân tộc của
Đảng và Nhà nước ngày càng hoàn thiện trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản:
Đoàn kết - Bình đẳng - Tương trợ, tạo mọi điều kiện để các dân tộc từng bước
trưởng thành trong sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, dân tộc và công tác thực
hiện chính sách dân tộc đang đặt ra nhiều vấn đề cần được quan tâm, đầu tư
nghiên cứu, nhằm đáp ứng đòi hỏi tất yếu khách quan của sự nghiệp xây dựng
đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đặc biệt là trong bối cảnh
quốc tế và trong nước hiện nay, vấn đề dân tộc đang có những diễn biến phức
tạp vừa có những tác động đến quan hệ quốc tế lại vừa mang tính đặc thù

dân tộc. Bên cạnh đó, chính sách phát triển nguồn nhân lực cũng được Đảng
và Nhà nước quan tâm chú trọng như: xây dựng và phát triển hệ thống trường
dân tộc nội trú, chính sách cử tuyển con em đồng bào dân tộc thiểu số đi học
đại học, đào tạo cán bộ theo địa chỉ…
Tỉnh Quảng Ninh có nhiều điều kiện thuận lợi do thiên nhiên ưu đãi về
tài nguyên đất đai, khoáng sản, di sản… Song, tỉnh cũng còn nhiều khó khăn

2


như: cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, giao thông đi lại khó khăn, việc đầu tư cho
các huyện biên giới, hải đảo còn nhiều hạn chế, đời sống kinh tế, dân trí của
đồng bào dân tộc thiểu số sống ở gần biên giới, hải đảo còn thấp… đã và đang
là một rào cản trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Với thực trạng nêu trên, trong bối cảnh quốc tế và khu vực vẫn đang tiềm
ẩn những vấn đề phức tạp, các thế lực thù địch luôn tìm cách để khai thác, lợi
dụng chống phá cách mạng nước ta, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, đến việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Việc thực hiện
các chính sách, chăm lo đời sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số, trong đó
có đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ninh gắn với việc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; phá tan các âm mưu phá hoại của các thế lực thù
địch là một vấn đề quan trọng của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Vì vậy, thực hiện tốt chính sách dân tộc là một vấn đề mà Đảng bộ tỉnh
Quảng Ninh rất quan tâm, để từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn
dân, ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững khu vực cũng như của cả nước.
Để góp phần làm rõ tính đúng đắn về mặt lý luận, giá trị khoa học và
thực tiễn về các chủ trương, chính sách dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà
nước; đồng thời nêu rõ những thành công, hạn chế, rút ra những kinh nghiệm
lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc thiểu số ở một Đảng bộ địa phương,
vấn đề: “Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc

Xã hội, Hà Nội.
Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh (2003): Địa chí Quảng Ninh,
Quảng Ninh.
Viện Nghiên cứu chính sách dân tộc và miền núi (2004): Vấn đề dân tộc
và định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Ủy ban Dân tộc - Viện Dân tộc (2004): Một số vấn đề đổi mới nội dung quản
lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.
Viện Dân tộc học Việt Nam (2007): Phát triển nông thôn miền núi và
dân tộc trong thời kỳ kinh tế chuyển đổi, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

4


Uỷ ban Dân tộc (2007): Phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và
miền núi Việt Nam, Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà Nội.
Các công trình trên đây tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau từ góc độ lịch
sử, dân tộc, tôn giáo, kinh tế… đã trình bày, lý giải nhiều vấn đề đặt ra đối với
dân tộc thiểu số cả nước nói chung và dân tộc thiểu số ở Quảng Ninh nói riêng,
bước đầu giới thiệu tổng quan về dân tộc thiểu số Quảng Ninh, trình bày thực
trạng đời sống và các giải pháp để nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu
số.
Các công trình nghiên cứu trên không chỉ là nguồn tài liệu tham khảo có
giá trị, mà còn gợi mở cho chúng tôi nhiều vấn đề thuộc về lý luận và thực
tiễn của chủ đề trên cần phải tiếp tục giải quyết.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích của luận văn:
Nghiên cứu quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc đối với dân
tộc thiểu số ở Quảng Ninh và rút ra những kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh.
* Nhiệm vụ của luận văn:

quan n ti.
- Những kết quả thu đ-ợc của quá trình nghiên cứu thực tế địa ph-ơng
các huyện, thị có dân tộc thiểu số sinh sống ở a bn tnh Qung Ninh.
* Phng phỏp nghiờn cu
Phng phỏp nghiờn cu ch yu l phng phỏp lch s, phng phỏp
logic. Ngoi ra cũn kt hp cỏc phng phỏp khỏc nh: i chiu so sỏnh,
phõn tớch, thng kờ, in dó, phiu iu tra xó hi hc. Cỏc phng phỏp trờn
c vn dng phự hp vi tng ni dung ca lun vn.

6


6. Đóng góp của luận văn
- Khẳng định tính đúng đắn những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về vấn đề dân tộc và sự thực hiện của
Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh vào thực tiễn địa phương.
- Làm rõ những ưu điểm, hạn chế và rút ra những kinh nghiệm trong việc
thực hiện chính sách dân tộc của Đảng thông qua thực tiễn ở Quảng Ninh, qua
đó cung cấp một số luận cứ khoa học trong việc nghiên cứu, vạch ra những
giải pháp mới để xây dựng khối đoàn kết dân tộc của Đảng trong thời kỳ đổi
mới và hội nhập.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm 3 chương, 9 tiết:
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc thiểu
số của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm 1996 đến 2000.
Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc thiểu
số của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm 2001 đến 2007.
Chương 3: Thành tựu, hạn chế và một số kinh nghiệm trong lãnh đạo và
thực hiện chính sách dân tộc thiểu số của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh.

chính trị (vì mục đích chung của dân tộc - quốc gia và dân tộc - tộc người)
hoặc quyền tự nguyện liên hiệp lại thành khối liên minh các dân tộc đáp ứng

8


nguyện vọng và lợi ích của nhân dân lao động các dân tộc và vì mục tiêu phát
triển hòa bình, phồn thịnh, hữu nghị giữa các dân tộc.
- Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc: Để thực hiện tốt quyền bình
đẳng và quyền tự quyết, cần phải đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc, các
quốc gia. Đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc chính là đoàn kết gắn bó
lực lượng nòng cốt của phong trào đấu tranh cho tiến bộ, hòa bình và phát
triển. Với bản chất quốc tế và những ưu điểm vốn có, giai cấp công nhân các
dân tộc vừa đại diện cho lợi ích nguyện vọng của giai cấp công nhân nói
chung vừa đại diện cho lợi ích của nhân dân lao động và lợi ích các dân tộc.
Đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc cũng chính là kết hợp hài hòa giữa
chủ nghĩa yêu nước chân chính với tinh thần quốc tế cao cả của giai cấp công
nhân các nước là lực lượng trung tâm của phong trào đấu tranh cho độc lập dân
tộc cho hòa bình, tiến bộ và phồn vinh của nhân loại.
Thực hiện Cương lĩnh dân tộc của V.I.Lênin là một nguyên tắc nhất
quán, lâu dài trong chính sách dân tộc của các Đảng Cộng sản. Làm trái những
nguyên tắc đó sẽ dẫn đến những sai lầm trong chính sách dân tộc, xuất hiện
nguy cơ xung đột dân tộc, ly khai, ly tâm, tan rã đối với nhiều quốc gia, kéo lùi
sự tiến hóa lịch sử. Ngày nay, vấn đề dân tộc đang diễn biến vô cùng phức tạp.
Những xung đột dân tộc, tộc người, những mưu đồ đồng hóa dân tộc vẫn tiếp
tục tồn tại dưới nhiều hình thái tinh vi. Việc giải quyết những tranh chấp hay
mâu thuẫn liên quan đến dân tộc, tôn giáo, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức một
cách đầy đủ hơn, sâu sắc hơn và vận dụng một cách sáng suốt, cụ thể những
nội dung Cương lĩnh dân tộc của V.I.Lênin. Vấn đề quan trọng không chỉ trong
giải quyết các quan hệ dân tộc, quốc gia mà còn là yêu cầu cần thiết cho việc

phú, đa dạng, cho nên, trong công tác chỉ đạo, tuyên truyền vận động đồng
bào dân tộc thiểu số phải đặc biệt lưu ý tính đặc thù dân tộc, hiểu biết đầy đủ
những khác biệt cụ thể của từng vùng, từng dân tộc mà bổ khuyết chính sách,
tránh những biểu hiện chủ quan, áp đặt. Hồ Chí Minh nhắc nhở:

10


"Một tỉnh có đồng bào Thái, đồng bào Mèo thì tuyên truyền huấn luyện
đối với đồng bào Thái khác, đồng bào Mèo khác, phải có sự thay đổi cho
thích hợp. Bởi vì đời sống, trình độ của đồng bào Mèo và Thái khác nhau, cho
nên tuyên truyền huấn luyện phải khác" [27, tr.128].
Do đó, Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ phải gắn bó thật sự với đồng bào,
nắm vững và phân tích đúng tình hình, hiểu rõ phong tục tập quán mọi nơi và
làm cho đồng bào tin yêu mà tiến hành công tác vận động đồng bào miền núi
cụ thể, thiết thực, phù hợp, dễ hiểu để đồng bào làm được. Các chủ trương,
chính sách, biện pháp phát triển kinh tế, văn hóa ở miền núi đòi hỏi phải thực
hiện khẩn trương, nhưng không thể nóng vội, rập khuôn máy móc mà phải
thận trọng, vững chắc, toàn diện, hiệu quả, đem lại lợi ích cho đồng bào ta.
Hồ Chí Minh nhắc nhở, đồng bào các dân tộc thiểu số "cũng phải khắc
phục những tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, tự ti dân tộc, người dân tộc
lớn dễ mắc bệnh kiêu ngạo. Cán bộ địa phương, nhân dân địa phương lại dễ
cho mình là dân tộc bé nhỏ, tự ti, cái gì cũng cho là mình không làm được rồi
không cố gắng" [27, tr.136].
Hồ Chí Minh đặt một niềm tin sâu sắc và nêu rõ: "Đồng bào các dân tộc
rất thật thà và rất tốt. Nếu nói đúng thì đồng bào nghe, đồng bào làm và làm
được" [27, tr.138]. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu "Trung ương
Đảng và Chính phủ mà trực tiếp là các cấp ủy đảng, các ủy ban địa phương,
các cô, các chú phải làm sao nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của đồng
bào các dân tộc" [27, tr.134-135]; phải có kế hoạch đẩy mạnh phong trào

đại hóa.
Dựa trên những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về vấn đề dân tộc và giải quyết các mối quan hệ dân tộc; xuất phát từ
đặc điểm các dân tộc ở nước ta. Đảng ta, luôn luôn đề ra chính sách dân tộc
đúng đắn ngay từ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương, tiếp
tục hoàn thiện và thể hiện cụ thể trong các Nghị quyết của các Đại hội đại
biểu toàn quốc, trong các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và được khẳng định
trong Hiến pháp.

13


Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã
chỉ ra cụ thể về chính sách dân tộc:
Chính sách dân tộc của Đảng là thực hiện triệt để quyền bình đẳng về
mọi mặt giữa các dân tộc, tạo ra những điều kiện cần thiết để xóa bỏ tận gốc
sự chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ít người và dân tộc
đông người, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp,
làm cho tất cả các dân tộc đều có cuộc sống ấm no, văn minh và hạnh phúc
phát triển về mọi mặt, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ [13, tr.46].
Đại hội Đảng lần thứ VI của Đảng cũng đã chỉ rõ con đường phát triển
các dân tộc và mối quan hệ giữa các dân tộc:
Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố phát triển
của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta. Sự tăng cường tính cộng đồng,
tính thống nhất là một quá trình hợp quy luật, nhưng tính cộng đồng, tính
thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo của mỗi dân
tộc [15, tr.16].
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(1991) nêu rõ :
Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc,

những chủ trương, chính sách chung ở miền núi phải tính đầy đủ những đặc
điểm về tự nhiên, lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán của
miền núi nói chung và của riêng từng vùng, từng dân tộc; trong việc này cần
đặc biệt nhấn mạnh vai trò năng động, sáng tạo của địa phương và cơ sở.
Trong việc phát triển kinh tế - xã hội miền núi, phải quán triệt phương
châm « trung ương và địa phương cùng làm, nhà nước và nhân dân cùng
làm », một mặt phải khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào ngân sách trung
ương, xem nhẹ nỗ lực của địa phương, mặt khác nhà nước cần quan tâm, đầu
tư nguồn ngân sách thích đáng hơn cho miền núi, trước mắt tập trung đầu tư
cho phát triển giao thông vận tải, thông tin liên lạc, điện và nguồn nước cho

15


sản xuất và sinh hoạt phù hợp tạo điều kiện và động viên mạnh mẽ nhân dân
miền núi khai thác tiềm năng và thế mạnh của mình.
Cụ thể hóa chính sách dân tộc của Đảng, Chính phủ đã ban hành nhiều
chính sách, chương trình, dự án nhằm phát triển toàn diện vùng đồng bào dân
tộc thiểu số như:
Chương trình định canh định cư. Chương trình được ban hành và triển
khai từ năm 1968 theo Quyết định 138/CP ở miền núi phía Bắc. Định canh,
định cư là giải pháp lâu dài và hiệu quả để nâng cao đời sống và bảo vệ tài
nguyên môi trường. Các mục tiêu chính của chương trình bao gồm: ổn định
cuộc sống định canh, định cư; khai thác hợp lý và hiệu quả các tiềm năng kinh
tế miền núi, nâng cao đời sống người dân, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi
trường và điều kiện sống. Mục tiêu là xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng, hạn
chế du canh, ổn định định canh, định cư và từng bước nâng cao đời sống cho
người dân.
Dự án hỗ trợ đồng bào các dân tộc đặc biệt khó khăn trong phạm vi cả
nước bắt đầu từ năm 1992. Mục tiêu của dự án là hỗ trợ đồng bào các dân tộc

hóa Chương trình 133 ở vùng các dân tộc thiểu số, Chính phủ tiếp tục ban
hành Quyết định 135 về Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt
khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135) trong đó quy
định:
Về đất đai: Thực hiện giao đất giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, gắn với công tác định canh định cư phát triển kinh tế mới, tạo
điều kiện cho đồng bào có đất sản xuất, ổn định đời sống.
Về đầu tư, tín dụng: Ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản
xuất nông lâm nghiệp. Trợ giá, trợ cước vận chuyển cho các mặt hàng thiết
yếu phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân thuộc vùng các xã đặc
biệt khó khăn. Các hộ gia đình được giao đất, giao rừng để trồng cây công
nghiệp, cây lấy quả, cây đặc sản, cây làm thuốc và cây lâm nghiệp được
hưởng chính sách theo quy định tại Quyết định 661/1998/QĐ-Ttg, ngày

17


29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ. Các hộ gia đình thuộc phạm vi chương
trình được ưu tiên vay vốn từ ngân hàng người nghèo và các nguồn vốn ưu
đãi để thực hiện chương trình
Nhà nước hỗ trợ: Xây dựng các trung tâm cụm xã, phát triển hệ thống
giao thông, đầu tư làm lưới điện đến trung tâm cụm xã theo quy hoạch, nơi
khó khăn về nước sinh hoạt nhà nước hỗ trợ kinh phí để xây dựng một số
điểm cấp nước tập trung phù hợp với quy hoạch khu dân cư. Khuyến khích
thành lập các tổ, nhóm liên gia để giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống, vay
và sử dụng có hiệu qủa các nguồn tín dụng nông thôn ; Được hưởng chế độ
chăm sóc sức khoẻ, chữa bệnh ở cơ sở y tế của nhà nước không mất tiền theo
quy định tại Nghị định số 95/NĐ-CP ngày 27/8/1994 của Chính phủ.
Chính sách hỗ trợ nguồn nhân lực
Nhà nước đầu tư kinh phí để đào tạo cán bộ cơ sở ở xã, bản làng, phum,

biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, đối ngoại của vùng
Đông Bắc Tổ quốc.
Tuyến biên giới trên đất liền của tỉnh Quảng Ninh dài 132,8 km đi qua
địa phận 12 xã, 4 phường thuộc 2 huyện và 1 thị xã trong đó các xã biên giới
là những xã nghèo, thuộc diện vùng sâu, vùng xa, có 3 cửa khẩu thông quan
với nước bạn là: Cửa khẩu quốc tế Móng Cái - thị xã Móng Cái, cửa khẩu
Hoành Mô - Huyện Bình Liêu và Cửa khẩu Bắc Phong Sinh - Huyện Hải Hà.
Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế của tỉnh nhưng cũng là vấn đề
khó khăn cần đầu tư về an ninh quốc phòng.
Tuyến biên giới biển của tỉnh dài khoảng 400km. Án ngữ dọc đường
phân giới là hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ trong đó có 8 đảo lớn, có dân sinh
sống ở 10 xã và 1 thị trấn thuộc các huyện Vân Đồn, Cô Tô, Hải Hà và thị xã
Móng Cái. Đảo xa nhất là Thanh Lân, huyện Cô Tô, cách đất liền trên 80km.
Vùng biển của tỉnh có vị trí rất quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng,
an ninh, môi sinh và môi trường sinh thái.

19


Trong những năm qua, kinh tế của tỉnh Quảng Ninh liên tục phát triển ở
mức cao và ổn định: GDP bình quân trong 2 năm 2006-2007 tăng 13,11%;
GDP bình quân đầu người năm 2007 đạt 1.063 USD. Các ngành kinh tế mũi
nhọn của tỉnh như công nghiệp, du lịch, vận tải… phát triển mạnh. Đặc biệt,
trong những năm gần đây, kinh tế xã hội ở các vùng có cửa khẩu phát triển
mạnh. Năm 2007 kim ngạch thương mại hai chiều qua các cửa khẩu của Quảng
Ninh với Trung Quốc là 4 tỷ USD.
* Đời sống kinh tế- xã hội các dân tộc thiểu số ở Quảng Ninh
- Về thành phần dân tộc và sự phân bố dân cư
Theo tổng điều tra dân số ngày 1/4/1999 tỉnh Quảng Ninh có 954.204
người bao gồm 22 dân tộc. Trong đó dân tộc thiểu số chiếm 10,8% dân số của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status