đảng bộ tỉnh phú thọ lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc tu nam 2001 den nam 2010 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ VIỆT HÀ

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội, 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHẠM THỊ VIỆT HÀ

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Mã số

: 60 22 03 15

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà

Hà Nội, 2015

2.2. QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA
ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 .........................................................50

2.2.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh về chính sách dân tộc ............................... 50
2.2.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc ....................................... 53
Tiểu kết chương 2 ................................................................................................ 67
Chương 3 NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM..................................... 68
3.1. NHẬN XÉT ....................................................................................................................... 68

3.1.1. Ưu điểm ...................................................................................................... 68


3.1.2. Hạn chế....................................................................................................... 82
3.2. MỘT SỐ KINH NGHIỆM .............................................................................................. 88

KẾT LUẬN .......................................................................................................... 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 98
PHỤ LỤC


DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
ATK:

An toàn khu

CNXH:

Chủ nghĩa xã hội

DTTS:

Uỷ ban

UBMTTQ:

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc

UBND:

Ủy ban nhân dân

XĐGN:

Xóa đói giảm nghèo


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia thống nhất có nhiều dân tộc cùng sinh sống. Trong
tiến trình phát triển hàng ngàn năm, các tộc người luôn sát cánh bên nhau xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc với truyền thống “Bầu ơi thương lấy bí cùng; tuy rằng khác
giống nhưng chung một giàn”. Các dân tộc thiểu số nước ta cư trú xen kẽ trên
những địa bàn rộng lớn, có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh,
quốc phòng và môi trường sinh thái. Trong quá trình đảm đương vai trò lãnh đạo,
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định vấn đề dân tộc có vai trò và vị trí đặc
biệt quan trọng đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.
Giải quyết vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ xuyên suốt toàn bộ
tiến trình lịch sử đất nước. Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng đề ra các chủ trương, chính sách dân
tộc với nội dung cơ bản: “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát
triển”. Trải qua các thời kỳ cách mạng, công tác dân tộc đã đạt được nhiều thành

những năm qua, đã có nhiều công trình đề cập đến các lĩnh vực của đời sống xã hội
các dân tộc thiểu số như: vấn đề thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà
nước, về lịch sử văn hóa, thực trạng kinh tế xã hội…
Tiêu biểu có các công trình sau:
Phan Xuân Sơn, Lưu Văn Quảng (Đồng chủ biên), Những vấn đề cơ bản về
chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2006.
Đỗ Tư, Mấy suy nghĩ về vấn đề dân tộc ở nước ta và chính sách dân tộc của
Đảng, Chính sách dân tộc - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Sự thật, Hà Nội,
1990.
Trần Nam Sơn, Lê Thái Anh, Những quy định về chính sách dân tộc, Nxb Lao
động, Hà Nội, 2001.
Trần Quang Nhiếp, Phát triển quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay, Nxb Văn
hóa dân tộc, 1997.
Nguyễn Quốc Phẩm, Trịnh Quốc Tuấn, Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn về dân
tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.
Phan Hữu Dật (Chủ biên), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan
đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.

2


Đặng Nghiêm Vạn, Cần đề ra một chính sách dân tộc thích hợp, một tổ chức
nghiên cứu và lãnh đạo có hiệu lực, Chính sách dân tộc - những vấn đề lý luận và
thực tiễn, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1990.
Nông Quốc Chấn (cùng nhiều tác giả), “Văn hóa và sự phát triển các dân tộc ở
Việt Nam”, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1997.
Bế Viết Đẳng, Các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
miền núi, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.
Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa, Phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và
miền núi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

chọn vấn đề trên làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn hệ thống, làm rõ những chủ trương, đường lối, chính sách dân tộc
của Đảng trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về vấn đề dân tộc.
Nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo thực hiện chính sách
dân tộc trên địa bàn tỉnh từ năm 2001 đến năm 2010. Rút ra những nhận xét và kinh
nghiệm trong việc thực hiện chính sách dân tộc những năm tiếp theo trên địa bàn
tỉnh.
3.2. Nhiệm vụ
Tập hợp các nguồn tài liệu tại Thư viện Quốc gia Hà Nội, Ủy ban nhân dân
tỉnh Phú Thọ, Tỉnh ủy Phú Thọ… để làm rõ vai trò, tầm quan trọng của vấn đề dân
tộc.
Hệ thống hóa và làm rõ các chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh Phú
Thọ về lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh từ năm 2001 đến
năm 2010…
Nêu lên những nhận xét và đúc rút một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ
Phú Thọ lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh từ năm 2001 đến
năm 2010.

4


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống chủ trương, chính sách của Đảng về
vấn đề dân tộc và quá trình chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc của Đảng bộ tỉnh
Phú Thọ từ năm 2001 đến năm 2010.
4.2. Phạm vi nghiên cứu

văn, luận án) liên quan đến vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc.
6. Đóng góp khoa học của luận văn
Khẳng định sự đúng đắn trong các quan điểm, chủ trương, chính sách của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về
vấn đề và chính sách dân tộc.
Bước đầu hệ thống hóa một cách khách quan, toàn diện quan điểm, chủ
trương, chính sách và tình hình thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Phú Thọ, qua đó
làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong việc thực hiện chính sách dân tộc.
Rút ra những nhận xét và kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ
lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc ở vùng dân tộc thiểu số từ năm 2001 đến năm
2010.
Luận văn cung cấp thêm những tư liệu về thực hiện chính sách dân tộc của
Đảng ở vùng dân tộc thiểu số, từ đó giúp các cơ quan của tỉnh tham khảo, nghiên
cứu, chỉ đạo, hoạch định các chủ trương, chính sách cho phù hợp, hiệu quả.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn
được chia thành 3 chương:
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc từ
năm 2001 đến năm 2005
Chương 2: Chính sách dân tộc ở Phú Thọ dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
từ năm 2006 đến năm 2010
Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm

6


Chương 1
ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN
TỘC TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005


Phú Thọ được công nhận là tỉnh miền núi.
Phú Thọ được tái lập với diện tích đất tự nhiên là 3.528 km2, nằm trong khu
vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc. Đây là vị trí
địa lý mang ý nghĩa trung tâm của tiểu vùng Tây - Đông - Bắc.
Phú Thọ cách trung tâm Hà Nội 80 km, cách sân bay quốc tế Nội Bài 60 km
về phía Bắc, cách cửa khẩu Lào Cai, cửa khẩu Thanh Thủy hơn 200 km, cách Hải
Phòng 170 km và cảng Cái Lân 200 km. Việt Trì là thành phố duy nhất trên cả nước
có 3 con sông lớn chảy qua: sông Hồng, sông Lô và sông Đà nên đây thường được
gọi là thành phố “ngã ba sông”. Với vị trí “ngã ba sông”, cửa ngõ phía Tây nối với
thủ đô Hà Nội, Phú Thọ là cầu nối giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật…
giữa các tỉnh đồng bằng Bắc bộ với các tỉnh miền núi phía Tây Bắc và Đông Bắc
như Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai… Phú Thọ vừa có thể đáp ứng
được nhu cầu vừa thu hút nguyên liệu, nông lâm khoáng sản từ các tỉnh trên. Tất cả
các hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông từ các tỉnh phía Tây Đông Bắc đều quy tụ về Phú Thọ rồi mới về Hà Nội, Hải Phòng và các nơi khác.
Đặc điểm địa hình nổi bật của Phú Thọ là chia cắt tương đối mạnh vì nằm ở
cuối dãy Hoàng Liên Sơn, nơi chuyển tiếp giữa miền núi cao và miền núi thấp, gò
đồi, độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Căn cứ vào địa hình, có thể
chia Phú Thọ thành 2 tiểu vùng chủ yếu:
Tiểu vùng miền núi gồm các huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập, Hạ Hòa
và một phần của huyện Cẩm Khê có diện tích tự nhiên 182.475,82 ha; dân số
418.266 người, mật độ dân số 228 người/km2 [6, tr. 3]; có độ cao trung bình so với
mặt nước biển từ 200 - 500m. Đây là tiểu vùng đang gặp khó khăn về giao thông,
trình độ dân trí thấp, nhiều dân tộc sinh nhưng có nhiều tiềm năng phát triển lâm
nghiệp, khai khoáng và kinh tế trang trại.
Tiểu vùng trung du đồng bằng gồm thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ và các
huyện Lâm Thao, Phù Ninh, Thanh Thủy, Tam Nông, Đoan Hùng và phần còn lại
của huyện Cẩm Khê, Hạ Hòa; diện tích tự nhiên 169.489,50 ha; dân số 884.734

8



9


10,6%/năm. GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 11,8 triệu đồng, tương đương
637 USD.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, phù hợp với định hướng phát
triển của tỉnh. Năm 2010, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 38,6%, dịch
vụ 35,8%, nông lâm nghiệp 25,6%. Cơ cấu nội bộ ngành có sự chuyển dịch khá tích
cực, theo hướng sản xuất hàng hóa. Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh
tế giảm từ 27,6% năm 2005 xuống còn 25,6% năm 2010. Trong sản xuất nông
nghiệp, nhờ việc chú trọng các giống cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao đi đôi
với đa dạng hoá cây trồng nên tỷ trọng chăn nuôi, thủy sản liên tục tăng, cơ cấu cây
trồng có sự thay đổi: chuyển từ thế độc canh cây lương thực sang tập trung đầu tư,
hình thành một số vùng chuyên canh cây trồng như: cây ăn quả ở Phú Lộc - thị xã
Phú Thọ, rau ở Lâm Thao, Tân Đức... Cơ cấu mùa vụ có sự chuyển đổi cơ bản. Phú
Thọ là một trong những tỉnh dẫn đầu miền Bắc về sản xuất ba vụ trong năm. Sản
lượng hạt lương thực tăng 3,7%. Tuy nhiên, tốc độ chuyển dịch cơ cấu còn chậm,
giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ tương đối lớn so với công nghiệp và
dịch vụ trong cơ cấu kinh tế.
Sản xuất công nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng khá. Giá trị sản xuất tăng
bình quân 12,5%/ năm và tăng 1,8 lần so với năm 2005. Năng lực sản xuất các
ngành có lợi thế tăng nhanh, như: Xi măng tăng 7,9 lần, phân bón tăng 1,2 lần, giấy
tăng 1,2 lần…; một số sản phẩm mới, công nghệ cao đang hình thành; sản xuất
công nghiệp đa dạng. Cơ cấu theo ngành và theo thành phần kinh tế chuyển dịch
theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp chế biến, công nghiệp ngoài quốc doanh
tăng nhanh. Đã hình thành một số khu, cụm công nghiệp đóng vai trò quan trọng
trong thu hút đầu tư vào tỉnh.
Các ngành dịch vụ có mức tăng trưởng khá, đạt 9,8%/ năm. Hoạt động tín
dụng, ngân hàng, tài chính có nhiều đổi mới, chất lượng được nâng lên. Mạng lưới

Khu vực III: 40 xã, 32 thôn, bản, động vùng cao, vùng sâu, số dân là 136.944
người.
Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có 20 dân tộc thiểu số. Các dân tộc thiểu số có số
dân đông, sinh sống tập trung thành làng, bản, có bản sắc văn hóa, phong tục tập
quán đậm nét như: Dân tộc Mường, dân tộc Dao, dân tộc Cao Lan, dân tộc H’mông;

11


sinh sống chủ yếu ở các xã khu vực III, các thôn bản đặc biệt khó khăn, vùng sâu và
xen kẽ ở một số xã miền núi khu vực II và khu vực I. Còn các dân tộc khác do di cư
hoặc do kết hôn mà đến sinh sống tại tỉnh Phú Thọ, có số dân ít, sống xen kẽ với
người Kinh và các dân tộc khác, không duy trì được bản sắc văn hóa cộng đồng
riêng của dân tộc mình.
Dân tộc Mường được coi là người bản địa tại vùng miền núi tỉnh Phú Thọ có
số dân là 183.414 người chiếm 13,5% dân số toàn tỉnh, chiếm 90,44% số dân là dân
tộc thiểu số của tỉnh; chiếm 18,3% số người dân tộc Mường cả nước. Người Mường
sinh sống chủ yếu ở 2 huyện miền núi Thanh Sơn, Yên Lập và một số xã miền núi
thuộc huyện Thanh Thuỷ. Dân tộc Mường có lịch sử hình thành, tồn tại và phát
triển gắn với lịch sử dân tộc Việt Nam từ thời đại Hùng Vương thuộc nền văn hoá
Đông Sơn.
Người Mường Phú Thọ di cư từ lưu vực sông Mã (Thanh Hoá, Hoà Bình) đến,
sống định cư ở các triền núi thấp. Trước đây, sản xuất chủ yếu là độc canh cây lúa,
khai thác rừng. Nghề thủ công truyền thống của người Mường là dệt vải, đan lát
phát triển khá tinh xảo.
Người Mường có vốn văn nghệ dân gian phong phú với nhiều truyện cổ tích,
dân ca, hát ru em, hát đối, hò du, múa sạp, múa mỡi. Cồng là nhạc cụ đặc sắc của
người Mường, ngoài ra còn có nhị, sáo, trống, khèn lá, đâm đuống...
Trong quá trình đấu tranh dựng nước, giữ nước, người Mường đã có nhiều
đóng góp quan trọng cùng các dân tộc khác trên tỉnh Phú Thọ làm rạng rỡ truyền

như dệt vải, rèn, mộc, làm giấy, ép dầu. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận du canh,
xâm canh ở vùng giáp danh với tỉnh Yên Bái, Sơn La, Hoà Bình.
Do đặc điểm về địa bàn cư trú, lịch sử xã hội nên người Dao có tâm lý tự ti,
nhưng tri thức dân gian rất phong phú, đặc biệt là y học dân tộc cổ truyền; có đặc
tính thảo ăn và mến khách, có tính cộng đồng dân tộc cao.
Tiếng nói, chữ viết người Dao có nguồn gốc từ tiếng Quan Hoả được Nôm hoá
thành tiếng Dao. Hiện nay, người Dao không sử dụng chữ viết riêng, chỉ có một số
ít người già sử dụng chữ Nôm - Dao trong việc lập bùa, thờ cúng. Người Dao hiện
còn duy trì một số ngày lễ tết truyền thống như tết Nhảy, đám chay, lễ Lập tĩnh (đặt
tên), các điệu hát ví, hát đối, múa chiêng, múa trống.

13


Thực hiện chủ trương bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc của Đảng và Nhà
nước, trong những năm qua, cấp uỷ, chính quyền các cấp ở Phú Thọ luôn quan tâm
tới việc phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương miền núi có đồng bào dân tộc
Dao. Đến nay, người Dao đã tham gia công tác Đảng và chính quyền ở cấp xã,
nhiều người là Trưởng khu hành chính, Bí thư chi bộ, Đảng uỷ viên, Uỷ viên Uỷ
ban, thậm chí làm lãnh đạo chủ chốt xã (Vinh Tiền, Xuân Sơn - Thanh Sơn). Con
em đồng bào Dao có nhiều người học lên bậc phổ thông trung học, có nhiều người
học lên bậc đại học và tham gia lãnh đạo chủ chốt mặt trận và các đoàn thể quần
chúng ở cấp huyện.
Người H’mông trên địa bàn toàn tỉnh có gần 700 người, chiếm khoảng 0,05%
dân số toàn tỉnh, 0,34% số dân là dân tộc thiểu số và 0,1% số dân là người H’mông
trong cả nước. Người H’mông ở Phú Thọ chủ yếu là Mông Hoa, sống tập trung chủ
yếu ở bản Mỹ Á - xã Thu Cúc, huyện Thanh Sơn và ở Khe Nhồi - Khu Sáu Khe, xã
Trung Sơn, huyện Yên Lập. Tiếng H’mông thuộc ngôn ngữ Mông - Dao.
Đồng bào H’mông sống bằng nghề nương rẫy (đã định cư nhưng còn du
canh), trồng ngô, lúa nương, đời sống không ổn định do chưa thoát khỏi tập quán du

bào Sán Chay cư trú, tỷ lệ cao nhất chiếm từ 20 - 25% dân số trong xã. Người dân
tộc Sán Chay sống gần gũi với dân tộc Kinh và dân tộc Tày nên đời sống văn hoá
dân tộc Sán Chay được “tiếp biến” hoà đồng trong khu vực; đời sống kinh tế - xã
hội ổn định và phát triển.
Nhìn chung, các dân tộc thiểu số ở tỉnh Phú Thọ đều có nguồn gốc, bản sắc
văn hoá truyền thống đặc sắc, có phong tục tập quán riêng trong sản xuất và đời
sống xã hội, có quá trình theo Đảng tham gia làm cách mạng rất đáng tự hào và đã
xây dựng được cơ sở chính trị khá vững chắc. Điểm chung cần quan tâm là đời sống
kinh tế, văn hoá, dân trí các dân tộc còn thấp, tỷ lệ đói nghèo trong vùng đồng bào
các dân tộc còn cao, thông tin tuyên truyền về đường lối chính sách của Đảng và
Nhà nước ở vùng này còn hạn chế, là miếng đất “màu mỡ” cho việc truyền đạo trái
phép của các tôn giáo và là điểm nhạy cảm mà các thế lực thù địch phản động lợi
dụng để kích động đồng bào, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống lại Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta.

15


Bên cạnh đó, các xã miền núi, vùng dân tộc cũng đang tồn tại những khó khăn
mang tính đặc thù: kinh tế phổ biến là tự cấp, tự túc, đời sống còn rất khó khăn; tỷ
lệ đói nghèo khoảng 60%; cơ sở hạ tầng còn sơ khai; 20,28% số hộ được sử dụng
điện lưới quốc gia, 28,35% được sử dụng nước sạch. Hệ thống đường giao thông
chưa phát triển, trường học, trạm xá còn sơ sài, tạm bợ hoặc chưa có... Trình độ dân
trí còn thấp kém; số người mù chữ còn khoảng 55% toàn tỉnh. Trình độ cán bộ cơ
sở rất non yếu, đa số còn ở trình độ cấp I và cấp II, một số người chưa nói được
tiếng phổ thông, ảnh hưởng rất lớn đến việc lãnh đạo, chỉ đạo ở địa phương [4, tr.
3].
Những vấn đề có tính đặc thù trên đây của vùng DTTS đòi hỏi phải có một
chương trình phát triển kinh tế - xã hội tổng hợp với những quyết sách đặc biệt để
ổn định phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực này.

chất, tinh thần, trình độ dân trí lên một bước; xây dựng hệ thống quốc phòng, an
ninh vững chắc, tăng cường khối đoàn kết giữa các dân tộc; xây dựng hệ thống
chính trị vững mạnh toàn diện”. [18, tr. 38-39]
Để thực hiện các nhiệm vụ trên, UBND tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo thực
hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi; cụ thể hóa thành các chương
trình, mục tiêu, chỉ tiêu và chính sách; đồng thời, phân công nhiệm vụ cụ thể cho
các sở, ban, ngành, cấp huyện, cấp xã; thường xuyên theo dõi, sơ tổng kết rút kinh
nghiệm, đề xuất những kiến nghị bổ sung trong quá trình thực hiện.
Đến năm 1999, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ra Nghị quyết số 17 - NQ/TU về
“Chương trình phát triển kinh tế - xã hội 31 xã đặc biệt khó khăn giai đoạn 1999 2005”, với mục tiêu “nâng cao đời sống vật chất, mức hưởng thụ đời sống văn hóa
tinh thần cho đồng bào dân tộc miền núi, từng bước đưa các xã đặc biệt khó khăn
thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, hòa nhập vào sự phát triển chung của toàn
tỉnh. Đảm bảo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã
hội, an ninh quốc phòng” [66, tr. 8].
Các Nghị quyết đã tạo ra một động lực mới cho các xã dân tộc thiểu số và
các xã miền núi đặc biệt khó khăn có điều kiện phát triển hơn về chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân
vùng dân tộc.

17


Kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số có những chuyển biến. Tăng
trưởng kinh tế tăng nhanh hơn trước, giá trị sản xuất công nghiệp năm 1999 tăng 2,1
lần so với năm 1995, sản lượng lương thực tăng 1,6 lần so với năm 1995. [18, tr.
37]. Đàn trâu, đàn bò, đàn lợn tăng khá. Vốn rừng được tái tạo, đất có rừng tăng lên,
đất trống đồi trọc giảm.
Kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư xây dựng. Đến năm 1999, đường giao
thông đến trung tâm các huyện miền núi được thông suốt, trong 145 xã miền núi có
142 xã đường ô tô đến được trung tâm xã, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đi

tự cung tự cấp, chậm tiếp thu những tiến bộ về giống và ứng dụng khoa học kỹ
thuật vào sản xuất. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, chưa rõ nét. Dân trí tuy
có nâng lên nhưng vẫn còn thấp, mức độ hưởng thụ văn hóa còn hạn chế, tệ nạn xã
hội chưa được đẩy lùi. Chính quyền địa phương chưa thực sự sâu sát với đồng bào
dân tộc thiểu số để nắm tâm tư, nguyện vọng của đồng bào về đời sống và sản xuất
để có những biện pháp giải quyết kịp thời, phù hợp. Công tác quản lý còn yếu kém
nên nhiều công trình không đảm bảo chất lượng, hiệu quả sử dụng không cao.
Những tồn tại, yếu kém trên là những thách thức to lớn, đòi hỏi Đảng bộ và chính
quyền tỉnh Phú Thọ phải tập trung giải quyết trong chặng đường tiếp theo.
1.2. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ SỰ QUÁN TRIỆT, VẬN DỤNG CỦA
ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ TRONG LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN
TỘC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005

1.2.1. Quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề
dân tộc
Cùng với vấn đề giai cấp, vấn đề dân tộc luôn là một nội dung quan trọng có
ý nghĩa chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Giải quyết vấn đề dân tộc là
một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định đến sự ổn định, phát triển hay khủng
hoảng, tan rã của một quốc gia, dân tộc.
Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến vấn đề
dân tộc. Đây là vấn đề có tầm quan trọng chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng
nước ta. Chính sách dân tộc của Đảng là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa
Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, vấn đề dân tộc là một bộ phận
của những vấn đề chung về cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản. Do đó, giải

19


quyết vấn đề dân tộc phải gắn với cách mạng vô sản và trên cơ sở của cách mạng xã




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status