ĐẢNG bộ TỈNH đắk lắk LÃNH đạo THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH dân tộc từ năm 2003 đến năm 2015 - Pdf 43

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

PHẠM NGỌC ĐẠI

ĐẢNG BỘ TỈNH ĐẮK LẮK LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
TỪ NĂM 2003 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

HÀ NỘI - 2017


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

PHẠM NGỌC ĐẠI

ĐẢNG BỘ TỈNH ĐẮK LẮK LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
TỪ NĂM 2003 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mã số: 62 22 03 15

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS. TRẦN THỊ THU HƯƠNG
2. TS. NGUYỄN THẮNG LỢI

HÀ NỘI - 2017

dung luận án tập trung nghiên cứu

20

Chương 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
DÂN TỘC CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH ĐẮK LẮK TỪ NĂM 2003 ĐẾN NĂM 2010

22

2.1. Những yếu tố tác động đến quá trình thực hiện chính sách dân tộc
ở tỉnh Đắk Lắk

22

2.2. Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc
trong điều kiện lịch sử mới (2003-2010)

38

Chương 3: ĐẢNG BỘ TỈNH ĐẮK LẮK LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2015

76

3.1. Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk về thực
hiện chính sách dân tộc

76

3.2. Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk chỉ đạo thực hiện chính sách dân tộc trên


171


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Chữ viết tắt

Chữ viết đầy đủ

BCH

Ban Chấp hành

CNH, HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNXH

Chủ nghĩa xã hội

CSDT

Chính sách dân tộc

DCTD

Di cư tự do


Xóa đói, giảm nghèo

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ các nhóm dân cư tỉnh Đắk Lắk năm 2005

25

Biểu số 3.1: Tốc độ gia tăng dân số tỉnh Đắk Lắk

79

Biểu số 3.2: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Đắk Lắk

81

Biểu số 4.1: Tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số tỉnh
Đắk Lắk
Biểu số 4.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân tỉnh Đắk Lắk

122
127

Biểu số 4.3: Tỷ lệ hộ nghèo người dân tộc thiểu số tại chỗ so với tỷ lệ hộ

bổ sung, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của đất nước. Khi
bước vào thời kỳ đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, CSDT của Đảng được triển
khai ngày càng hiệu quả ở các vùng sâu, vùng xa, vùng nhiều đồng bào các dân tộc
sinh sống. Trong đó tỉnh Đắk Lắk là một trong những vùng có tính đặc thù.
Tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, có vị trí chiến lược đặc biệt
quan trọng về kinh tế, quốc phòng - an ninh và môi trường sinh thái của vùng Tây
Nguyên và cả nước. Ngay sau ngày giải phóng (3-1975), xác định công tác dân tộc là
nhiệm vụ chiến lược, lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk đã chú trọng và quan tâm đến CSDT:
Vấn đề kinh tế - xã hội ở Tây Nguyên luôn gắn chặt với vấn đề dân tộc, nếu không


2
nói là vấn đề dân tộc có tính chất quyết định đối với các nội dung kinh tế - xã hội trên
địa bàn này... Có thể trong xu thế phát triển chung, tỉ lệ đồng bào dân tộc thiểu số
giảm đi trong tổng số dân, nhưng tầm vóc của việc thực hiện CSDT không hề giảm
nhẹ, ngược lại ngày càng phải được đề cao [146, tr.50-51].
Để thực hiện mục tiêu “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát
triển" giữa các dân tộc, Đảng và Nhà nước đã đề ra các chủ trương, CSDT, đặc biệt là
được thể hiện tập trung toàn diện tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành
(BCH) Trung ương Đảng (khóa IX, năm 2003) về công tác dân tộc. Triển khai nghị
quyết, nhiều chương trình, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Trung ương và
của tỉnh Đắk Lắk đã được thực hiện nhằm thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa các
dân tộc, giữa các khu vực dân cư. Thực hiện hệ thống CSDT khá toàn diện, với
nguồn lực thực hiện lớn, đã tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội; cơ sở hạ
tầng từng bước tăng cường; giảm tỉ lệ hộ nghèo; đời sống vật chất và tinh thần của
người dân được nâng lên. Diện mạo vùng DTTS, vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt
khó khăn đã có những thay đổi căn bản.
Tuy nhiên, cho đến năm 2015, vùng DTTS tỉnh Đắk Lắk vẫn là một trong
những nơi khó khăn nhất. Nhiều vấn đề quan hệ dân tộc bức xúc ở Đắk Lắk chưa
được giải quyết tốt, như mức sống, trình độ phát triển giữa vùng đồng bào DTTS so

hiện các chính sách dân tộc, từ đó chỉ ra nguyên nhân của sự lãnh đạo và kết quả
lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh.
- Luận án rút ra 5 kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk thực
hiện chính sách dân tộc sau hơn 10 năm chia tách tỉnh (2003 - 2015).
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu quan điểm, chủ trương của Đảng về CSDT và quá trình
Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk lãnh đạo thực hiện CSDT từ năm 2003 đến năm 2015.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Lấy mốc thời gian nghiên cứu từ năm 2003 đến năm
2015 với hai lý do: Một là, nhằm tổng kết Chương trình số 18/TU, ngày 14 tháng 05
năm 2003 của Tỉnh ủy Đắk Lắk, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7
của BCH Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc. Hai là, ngày 26-11-2003,
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam đã thông qua Nghị
quyết số 22/2003/QH11 về việc chia tách tỉnh Đắk Lắk thành hai tỉnh Đắk Lắk và
Đắk Nông. Thực hiện Nghị quyết trên, ngày 01-01-2004, tỉnh Đắk Lắk (mới) được
chính thức thành lập.


4
Không gian nghiên cứu: Đề tài luận án chủ yếu khảo sát tại địa bàn tỉnh Đắk
Lắk sau khi chia tách tỉnh (năm 2004 có 13 đơn vị hành chính cấp huyện, năm 2015
có 15 đơn vị hành chính cấp huyện).
Nội dung nghiên cứu:
- Chính sách là cách thức tác động có chủ đích của một nhóm, tập đoàn xã hội
này vào những nhóm, tập đoàn xã hội khác thông qua các thiết chế khác nhau của
HTCT nhằm thực hiện các mục tiêu đã được xác định trước.
- Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tổng hợp các quan
điểm, nguyên tắc, chủ trương, giải pháp tác động đến các dân tộc, vùng dân tộc, nhằm
phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa các dân tộc theo hướng bảo đảm khối đại đoàn kết

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử; lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc và CSDT, đặc biệt là chủ
trương của Đảng về CSDT trong thời kỳ đổi mới.
4.2. Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu của luận án chủ yếu dựa vào số liệu khảo sát ở một số địa phương
thuộc tỉnh Đắk Lắk, đồng thời luận án tham khảo, tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên
cứu của các công trình có liên quan đã được công bố; các văn kiện của BCH Trung ương
Đảng, Bộ Chính trị, các văn bản pháp luật của Quốc hội, các văn bản điều hành của
Chính phủ, các báo cáo của Uỷ ban Dân tộc, Ban chỉ đạo Tây Nguyên; những văn kiện
của tỉnh Đắk Lắk.
4.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp logic.
Ngoài ra, tác giả đã vận dụng một số phương pháp khác như: phương pháp tiếp cận
liên ngành trong khoa học xã hội và nhân văn; phân tích, tổng hợp, so sánh đối
chiếu, phương pháp chuyên gia, phương pháp khảo sát thực tế, phỏng vấn các đối
tượng như nhà quản lý, cán bộ thực hiện CSDT, phỏng vấn người dân - đối tượng thụ
hưởng chính sách.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Trên cơ sở phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa tín ngưỡng;
luận án làm sáng rõ tính đặc thù, sự khó khăn phức tạp của điều kiện tự nhiên, kinh
tế, xã hội, dân cư, tộc người, các nhân tố bên ngoài tác động đến quá trình thực hiện
CSDT ở tỉnh Đắk Lắk.
- Hệ thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk về CSDT
từ năm 2003 đến năm 2015.


6
- Đánh giá một cách khách quan những thành tựu, hạn chế; lý giải nguyên
nhân của những thành tựu, hạn chế; rút ra một số nhận xét về ưu, khuyết điểm, những

Đẳng [38] đã tập trung nghiên cứu khá đầy đủ về các DTTS Việt Nam trong sự
nghiệp giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong công cuộc xây dựng
cuộc sống mới trên các lĩnh vực: xây dựng và phát triển kinh tế; thực hiện định
canh, định cư; xây dựng quan hệ xã hội mới; xây dựng văn hóa và phát triển y tế.
Cuốn sách cung cấp những luận cứ thực tiễn nhằm đổi mới CSDT phù hợp với yêu
cầu và nhiệm vụ mới của cách mạng, nhất là khi bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước. Cuốn sách Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội
ở miền núi của Bế Viết Đẳng [39] đã đánh giá vấn đề dân tộc và việc thực hiện
CSDT ở Việt Nam. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng kinh tế - xã hội và những vấn
đề cấp bách đối với CSDT, tác giả đã đưa ra những nhận định và nêu một số nhận
xét về CSDT trong thời kỳ mới. Trong đó khẳng định: Phát triển kinh tế - xã hội là
cơ sở để thực hiện CSDT.
Công trình Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ
dân tộc hiện nay của Phan Hữu Dật [23] và Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam
của Đặng Nghiêm Vạn [192] đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về quan
hệ tộc người ở Việt Nam, trong đó dành một phần đáng kể đề cập đến quan hệ tộc
người ở Tây Nguyên.
Viện nghiên cứu Chính sách Dân tộc và Miền núi có báo cáo Vấn đề dân tộc và
định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
[193]. Công trình nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn về CSDT của Đảng và những


8
định hướng cơ bản trong quy hoạch dân cư, đẩy mạnh nhịp độ phát triển kinh tế hàng
hoá phù hợp với đặc điểm từng vùng nhằm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp nông thôn. Kiến nghị những giải pháp nhằm sớm ổn định và cải thiện
đời sống đồng bào dân tộc.
Cuốn Miền núi Việt Nam thành tựu và phát triển những năm đổi mới của Trần
Văn Thuật và các cộng sự [100], trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát về sự đa dạng của
điều kiện tự nhiên - môi trường, văn hóa và kinh tế miền núi Việt Nam, các tác giả đã

Cuốn sách Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc sau 5 năm thực hiện Nghị quyết
Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX của Ủy ban Dân tộc - Viện
Dân tộc [140] đã cung cấp những thông tin đa chiều nhằm làm rõ kết quả, hạn chế,
yếu kém, đề xuất các giải pháp, góp phần đổi mới và thực hiện có hiệu quả Nghị
quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (khóa IX) về công tác dân tộc của Đảng.
Cuốn sách Một số vấn đề về đổi mới xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc
của Hoàng Hữu Bình, Phan Văn Hùng [14] đã tổng kết, đánh giá về công tác dân tộc
và xây dựng, thực hiện CSDT, nhất là vấn đề đổi mới xây dựng và thực hiện CSDT.
Cuốn sách Một số vấn đề mới trong quan hệ dân tộc và chính sách dân tộc ở
nước ta hiện nay của Phan Văn Hùng [75] đã làm rõ những vấn đề về CSDT ở Việt
Nam hiện nay trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài "Những vấn đề mới trong
quan hệ dân tộc và định hướng hoàn thiện chính sách dân tộc ở nước ta", mã số KX
04.18/2011-2015 do Ủy ban Dân tộc chủ trì. Đó là những vấn đề cơ bản về quan hệ
dân tộc, các yếu tố chủ yếu tác động đến quan hệ dân tộc, nguồn gốc bất bình đẳng và
xung đột dân tộc; chủ trương, CSDT của Đảng và Nhà nước Việt Nam và một số
định hướng CSDT trong thời gian tới; vấn đề nghèo, khoảng cách giàu nghèo giữa
các dân tộc, các vùng dân tộc; vấn đề thiếu đất sản xuất, đất ở và tranh chấp đất đai
trong vùng đồng bào DTTS. Cuốn sách có những đánh giá, luận chứng có giá trị tham
khảo tốt cho đề tài luận án.
Bên cạnh đó, còn có những công trình nghiên cứu về thực hiện CSDT ở các địa
phương trong cả nước:
Cuốn sách Một số điểm nóng chính trị - xã hội điển hình tại các vùng đa dân
tộc ở các tỉnh miền núi trong những năm gần đây. Hiện trạng, vấn đề các bài học
kinh nghiệm trong xử lý tình huống của Lưu Văn Sùng [91] đã khảo sát đánh giá
về điểm nóng chính trị - xã hội và xử lý điểm nóng trên địa bàn Tây Bắc, Tây


10
Nguyên, Tây Nam Bộ từ đó đề ra một số giải pháp và bài học kinh nghiệm trong
xử lý điểm nóng nhằm giải quyết quan hệ dân tộc trong một quốc gia đa tộc người.

11
tập trung nghiên cứu CSDT của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đồng bào Khơme cũng như quá trình thực hiện chính sách. Từ những kết quả về kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội đạt được trong quá trình thực hiện CSDT, tác giả đã mạnh dạn đưa
ra một số kiến nghị và giải pháp để thực hiện có hiệu quả CSDT vùng đồng bào dân
tộc Khơ-me...
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về khu vực Tây Nguyên
1.1.2.1. Công trình của các tác giả nước ngoài
Do vị trí và tầm quan trọng về địa lý - dân tộc học nên Tây Nguyên đã thu hút
được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu khoa học xã hội trong và ngoài nước.
Đầu thế kỷ XX, H. Bernard với công trình Les populations Moi du Darlac
(Những cư dân Mọi ở Đắk Lắk) [13] đã mang đến cho người đọc một cái nhìn tổng
thể về cư dân các DTTS ở Đắk Lắk nói chung và tộc người Ê-đê nói riêng.
Henri Maitre, Les jung les Moi - Rừng người Mọi [80] đã phân chia vùng đất
Tây Nguyên và Nam Trường Sơn theo địa lý vùng, chia cư dân thành những nhóm
theo ngôn ngữ - dân tộc một cách khoa học. Đây là công trình lịch sử tộc người đầu
tiên viết về cao nguyên nằm giữa Việt Nam, Campuchia và Lào.
Công trình Monographie de province du Darlac, Extrême-Orient (Chuyên khảo
về tỉnh Đắk Lắk, vùng Viễn Đông) của Mus P. [81]; “Bài ca Đam San” do Sabatier L.
sưu tầm, công bố năm 1934; công trình “L’habitation Rhade” (Nhà ở của người Rađê) của M. Ner [82] nghiên cứu về nhà ở, kiến trúc của người Ê-đê.
Jacques Dournes là một trong những nhà Tây Nguyên học say mê nhất. Ông
sống ở Tây Nguyên gần ba mươi năm, am hiểu sâu sắc các DTTS ở đây, nói thành
thạo ngôn ngữ của họ và đã viết hàng chục công trình có thể coi là những nghiên
cứu cơ bản nhất về Tây Nguyên.
Dam Bo (Jacques Dournes), Miền đất huyền ảo (Các dân tộc miền núi Nam
Đông Dương) [22], đã mô tả một hệ thống thần linh khá giàu có, người dân tộc Tây
Nguyên được hít thở trong một môi trường tâm linh phong phú, định hướng cho
những gì tốt đẹp trong tâm hồn. Những giá trị tâm hồn ấy toả sáng, nhưng mong
manh và đang đương đầu với những thử thách trước cái văn minh và hiện đại đầy
thực dụng đang tràn vào.


Công trình của G. Hickey, Tự do trong rừng thẳm (Lịch sử các sắc tộc vùng Tây
Nguyên Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1976) [79], cuốn sách phản ánh chính sách


13
đồng hóa người Tây Nguyên của Ngô Đình Diệm, như: bãi bỏ chế độ Hoàng triều
cương thổ, di cư người Việt từ các tỉnh ven biển lên Tây Nguyên, thành lập Bộ Sắc
tộc, xây dựng lại nền hành chính, thực hiện chính sách cải cách ruộng đất tại cao
nguyên miền Nam… gây ra làn sóng bất mãn, dẫn đến sự ra đời của tổ chức bí mật
Mặt trận giải phóng Tây Nguyên (Le Front pour la Libération des Montagnards) năm
1955 và sau đó đổi tên thành Bajaraka năm 1958…
Nhìn chung, tuy mỗi công trình không giống nhau về chính kiến và mục đích
nghiên cứu cũng như cách tiếp cận, nhưng đây là những công trình đi sâu nghiên cứu
tộc người, đóng góp những giá trị khoa học nhất định khi tìm hiểu tất cả các vấn đề
văn hóa, kinh tế, xã hội của các tộc người ở Tây Nguyên. Đặc biệt, nhiều vấn đề có
ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị ở Tây Nguyên vẫn còn
mang tính thời sự nóng hổi.
1.1.2.2. Công trình của các tác giả trong nước
Thời kỳ thuộc Pháp, có công trình Mọi Kon Tum của Nguyễn Kinh Chi,
Nguyễn Đổng Chi [17]. Cuốn sách Mọi Kontum đã cho người đọc những hiểu biết
tương đối cụ thể về Kon Tum nói riêng, Bắc Tây Nguyên nói chung. Cuốn sách đã
bước đầu nghiên cứu đặc điểm dân tộc, đời sống vật chất và văn hoá của các DTTS
ở Kon Tum.
Trong thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1975, ở miền Nam có một số công trình
nghiên cứu về các tộc người Tây Nguyên. Đáng chú ý là cuốn sách Đường lên xứ
Thượng của Bùi Đình [59]; các công trình: Tìm hiểu phong trào tranh đấu FULRO
(1958-1969) của Bộ Phát triển sắc tộc [15]; Đồng bào các sắc tộc thiểu số ở Việt
Nam, nguồn gốc và phong tục của Nguyễn Trắc Dĩ [24]; Cao nguyên miền Thượng
của Cửu Long Giang, Toan Ánh [61]. Các công trình này chủ yếu đi sâu khảo sát và
mô tả địa bàn cư trú, nguồn gốc, nếp sống cá nhân, đời sống xã hội, tinh thần của các

nghĩa xã hội [18] đã phân tích những đặc thù về tộc người, dân cư và chỉ đạo các
đảng bộ tỉnh khu vực Tây Nguyên phải nghiên cứu, vận dụng để đề ra chủ trương,
giải pháp cho phù hợp.
Trong điều kiện khó khăn về kinh tế, tình hình an ninh chưa ổn định do hoạt
động của lực lượng phản động FULRO (Front unifine pour la liberation des races
opprimees (Mặt trận thống nhất giải phóng các dân tộc bị áp bức), đặc biệt là thiếu
tư liệu, nhưng nhiều nhà khoa học quan tâm đến nghiên cứu lịch sử, văn hoá tộc
người, đặc biệt tham gia tích cực vào công tác xác định thành phần dân tộc ở các tỉnh
vùng Tây Nguyên. Một số công trình chuyên khảo về lịch sử, văn hoá và dân tộc học


15
đã giúp người đọc hiểu rõ nguồn gốc tộc người, lịch sử, văn hoá và đặc điểm kinh tế,
văn hoá, xã hội của các DTTS ở Tây Nguyên.
Sau hơn 20 năm kể từ chương trình Tây Nguyên 2, Chương trình khoa học và
công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước TN3/11-15 (gọi tắt là Chương trình Tây Nguyên
3) được triển khai. Chương trình tập trung đánh giá tổng thể các mặt kinh tế, văn hóa,
xã hội, tài nguyên, môi trường, địa lý, quốc phòng và an ninh mang tính đặc thù để có
cơ sở xây dựng định hướng phát triển bền vững vùng Tây Nguyên giai đoạn 20102020 và tầm nhìn 2030. Trong Chương trình Tây Nguyên 3, lĩnh vực khoa học xã hội
và nhân văn được phân thành 21 đề tài theo hướng chuyên môn sâu từng lĩnh vực,
như vấn đề quyền sử dụng đất, quan hệ tộc người, tình hình tôn giáo, tiềm năng du
lịch,… ở Tây Nguyên.
Đáng chú ý là Quan hệ tộc người và chiến lược xây dựng khối đại đoàn kết dân
tộc trong phát triển bền vững Tây Nguyên của Phạm Quang Hoan [69]. Trên cơ sở
phân tích, đánh giá thực trạng quan hệ dân tộc và các yếu tố tác động đến quan hệ dân
tộc và đại đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên, đề tài đúc rút những bài học kinh nghiệm,
đề xuất quan điểm, định hướng và các giải pháp đối với CSDT nhằm xây dựng khối
đại đoàn kết dân tộc trong phát triển bền vững vùng Tây Nguyên. Kết quả của đề tài
là cơ sở khoa học để đổi mới quan điểm trong xây dựng và thực hiện CSDT, đẩy
mạnh sự phát triển các dân tộc và quản lý các mối quan hệ dân tộc, củng cố khối đại

Khía cạnh quan hệ tộc người, công trình Xu hướng phát triển và những giải
pháp giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo và nhân quyền ở Tây Nguyên của Nguyễn
Quốc Phẩm [85], đã đánh giá thực trạng quá trình nhận thức và thực hiện CSDT, tôn
giáo và nhân quyền của Đảng, Nhà nước ở Tây Nguyên thời gian qua, từ đó đề xuất
các giải pháp giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo và nhân quyền phù hợp với điều kiện
lịch sử ở Tây Nguyên.
Cuốn sách Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở
Tây Nguyên của Trương Minh Dục [31], trình bày đặc điểm kinh tế - xã hội của các
DTTS ở Tây Nguyên và những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế xã hội vùng DTTS; những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra trong quá trình thực hiện
CSDT của Đảng ở Tây Nguyên như: vấn đề sở hữu và sử dụng đất đai và phát triển
các hình thức kinh tế; phát triển văn hoá, giáo dục và đào tạo đội ngũ trí thức các
DTTS; vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo; vấn đề xây dựng HTCT và đào tạo đội ngũ cán
bộ các DTTS; vấn đề xây dựng khối đoàn kết dân tộc.


17
Trương Minh Dục có chuyên khảo Xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân
tộc ở Tây Nguyên [32]. Nội dung cuốn sách trình bày truyền thống đoàn kết của các
tộc người qua các thời kỳ lịch sử; quá trình xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết
dân tộc ở Tây Nguyên dưới sự lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ cách mạng, đặc
biệt là trong thời kỳ đổi mới.
Tổng kết thực tiễn đổi mới ở Tây Nguyên cũng được đề cập trong các cuốn
sách như Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ở miền Trung, Tây Nguyên trong
thời kỳ đổi mới [33], Miền Trung và Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới của Trương
Minh Dục [34] đã khái quát quá trình nhận thức của Đảng về vấn đề dân tộc và
quá trình thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực này. Tuy
nhiên, tác giả chưa phân tích sâu vào thực trạng quan hệ dân tộc ở Đắk Lắk, những
hạn chế của chính sách và thực hiện các chính sách ở khu vực người DTTS.
Nguyễn Văn Tiệp đã công bố cuốn Chính sách dân tộc của chính quyền Việt
Nam Cộng hòa và vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên (1954-1975)

kinh tế, chính trị, văn hoá, tôn giáo, quan hệ tộc người... ở Tây Nguyên trong quá
trình thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an
ninh vùng Tây Nguyên nói chung và CSDT của Đảng ở Tây Nguyên nói riêng.
1.1.3. Các công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách dân tộc ở tỉnh
Đắk Lắk
Bên cạnh những công trình, đề tài nghiên cứu về CSDT bao quát toàn vùng Tây
Nguyên và phụ cận, đã có những công trình nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Đắk Lắk
với những cách tiếp cận khác nhau.
Bế Viết Đẳng và các cộng sự có cuốn Đại cương về các dân tộc Ê-đê, Mnông
ở Đắk Lắk [37]. Cuốn sách là kết quả của hoạt động điền dã trong tất cả các
huyện, trong hầu hết các nhóm người của hai dân tộc Ê-đê và Mnông ở Đắk Lắk.
Đây là kết quả quá trình làm việc nghiêm túc của tập thể nhà khoa học của Viện
Dân tộc học trong những năm 1976-1979, ngay sau ngày miền Nam được giải
phóng, trong những điều kiện khó khăn. Nội dung của cuốn sách là những tư liệu
quý giới thiệu về đặc điểm tự nhiên và dân cư, kinh tế và xã hội, văn hóa, đặc biệt
là những biến đổi về kinh tế - xã hội và văn hóa của các DTTS ở Đắk Lắk, phục
vụ cho công tác lý luận và thực tiễn về dân tộc và CSDT.
Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Đắk Lắk đã xuất bản
cuốn Vấn đề phát triển kinh tế - xã hội các dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk [147]. Cuốn
sách là kết quả hợp tác nghiên cứu giữa Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam với Tỉnh


19
ủy Đắk Lắk. Trong 2 năm 1987-1988, đề tài đã tổ chức nhiều đợt điều tra nghiên cứu
ở các buôn làng Ê-đê, Mnông; trao đổi với lãnh đạo các cấp huyện, xã; đã tổ chức
nhiều hội thảo khoa học theo từng đề tài, nhiều vấn đề khoa học và thực tiễn được
đưa ra thảo luận, tranh luận rộng rãi và dân chủ.
Cuốn sách tập trung làm sáng tỏ thực trạng các dân tộc sau 15 năm giải phóng
(1975-1990) góp phần cung cấp cơ sở khoa học để tìm ra phương hướng phát triển
hợp quy luật trong giai đoạn đầu thời kỳ quá độ lên CNXH; đề xuất những nhiệm vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status