LUẬN VĂN:
Đảng bộ tỉnh An Giang lãnh đạo thực
hiện chính sách dân tộc đối với đồng
bào Khmer (1996 - 2004) Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Là một quốc gia đa dân tộc, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam
vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc là một trong những nội dung cơ bản được
hỏi phải có sự quan tâm nhiều hơn nữa.
An Giang là một tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, có vị trí và vai trò rất
quan trọng đóng góp vào việc giữ vững an ninh - quốc phòng và phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước. Đây là vùng kinh tế nông nghiệp trọng điểm của phía Nam và
cả nước, có điều kiện thuận lợi về địa lý tự nhiên trong phát triển nông nghiệp.
Đồng bào dân tộc ở An Giang với số lượng không nhiều nhưng lại sống trên một
địa bàn chiến lược quan trọng có đường biên giới tiếp giáp với nước bạn
Campuchia. Vì vậy, lãnh đạo thực hiện tốt chính sách dân tộc là một vấn đề Đảng
bộ tỉnh An Giang rất quan tâm, để từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân,
ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững của khu vực cũng như của cả nước,
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các
dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng”.
Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Đảng bộ tỉnh An Giang lãnh đạo thực hiện
chính sách dân tộc đối với đồng bào Khmer (1996 - 2004)" là cần thiết và có ý
nghĩa thiết thực, được tác giả nghiên cứu dưới góc độ của chuyên ngành khoa học
Lịch sử Đảng, nhằm làm sáng tỏ những thành công, hạn chế, rút ra những kinh
nghiệm lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc ở An Giang vừa qua để tiếp tục thực
hiện tốt hơn trong thời gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề dân tộc Khmer đang thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu hoạch
định chính sách, của các nhà khoa học từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Hiện
nay, việc nghiên cứu về chính sách dân tộc Khmer đã có các công trình sau:
- Đề tài khoa học cấp bộ: Lịch sử đấu tranh cách mạng của đồng bào các
dân tộc ít người ở nước ta của ủy ban Dân tộc và Miền núi do TS. Trình Mưu làm
chủ nhiệm trong đó có phần đề cập đến “Lịch sử đấu tranh của đồng bào dân tộc
Khmer ở Tây Nam bộ” đã nghiệm thu năm 1996.
trương của Đảng để chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách dân tộc đối với đồng bào
Khmer của Đảng bộ tỉnh An Giang, làm rõ sự tác động của chính sách dân tộc đối
với đồng bào Khmer An Giang từ 1996 - 2004.
- Nhiệm vụ của luận văn: Trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết thực tiễn luận văn
đánh giá đúng những thành tựu, chỉ ra những hạn chế và rút ra những kinh nghiệm
trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc đối với đồng bào Khmer ở An Giang;
bước đầu đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát huy tác dụng của kinh nghiệm
trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở địa phương.
4. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
- Luận văn được hoàn thành trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận
chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc và quyền dân tộc tự quyết; sự vận dụng
sáng tạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc đề ra đường lối,
chính sách dân tộc thể hiện thông qua kết quả thực hiện chính sách dân tộc ở An
Giang.
- Nguồn tư liệu chính để thực hiện đề tài là các văn bản, chỉ thị, nghị quyết
của Đảng và Nhà nước về chính sách dân tộc và các văn bản cụ thể hóa việc tổ chức
thực hiện các chính sách trên của Đảng bộ An Giang. Tham khảo và tiếp thu có
chọn lọc các kết quả nghiên cứu khác có liên quan đến đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp
logic. Ngoài ra còn kết hợp các phương pháp khác như: đối chiếu so sánh, phân
tích, thống kê, tổng hợp của khoa học lịch sử.
5. Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Luận văn chỉ nghiên cứu việc thực hiện chính sách đối với đồng bào dân tộc
Khmer ở phạm vi tỉnh An Giang. Giới hạn nghiên cứu thuộc giai đoạn 1996 - 2004.
6. Đóng góp của luận văn
- Khẳng định tính đúng đắn những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về vấn đề dân tộc. Tìm ra những ưu điểm, hạn
những tuyến giao thông quan trọng nối cả đồng bằng sông Cửu Long với các nước
Campuchia, Lào, Thái Lan thông qua hai cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên và Vĩnh
Xương. Đó là lợi thế cho quá trình mở cửa, phát triển và hội nhập nền kinh tế An
Giang với các tỉnh trong nước, ngoài nước, nhất là khu vực Đông Nam á. Những
điều kiện đó, giúp tỉnh phát triển tương đối đa dạng về kinh tế và văn hóa. Đồng
thời, cũng là một trọng điểm phòng thủ quốc gia ở biên giới Tây Nam nước ta.
Diện tích tự nhiên của tỉnh là 3.406 km
2
bằng 1,05% diện tích toàn quốc và
bằng 8,71% diện tích toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long (đứng thứ 4 trong vùng),
trong đó 80% là đất nông nghiệp, 20 % là vùng núi. Nằm trong vùng kinh tế đồng
bằng sông Cửu Long, An Giang có thế mạnh về sản xuất lúa gạo, và thủy sản. Với
sản lượng lúa đứng đầu trong khu vực (hơn 3 triệu tấn năm 2004); sản lượng khai
thác thủy sản đứng thứ ba, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng theo địa phương
lớn nhất toàn quốc (năm 2003 là 136.825 tấn, chiếm 14,2% cả nước - Niên giám
thống kê 2003). Là tỉnh có cả đồng bằng, rừng núi, tài nguyên khoáng sản và những
di tích văn hóa, lịch sử, danh lam thắng cảnh nổi tiếng.
Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm: thành phố Long Xuyên là
tỉnh lỵ, thị xã Châu Đốc và 9 huyện (ủy ban Dân tộc Miền núi của Chính phủ đã
công nhận 21 xã vùng núi thuộc 2 huyện Tri Tôn (9 xã) và Tịnh Biên (12 xã) theo
Quyết định 42/UBQĐ ngày 23 tháng 5 năm 1997 và công nhận khu vực vùng dân
tộc đồng bằng gồm: xã Lương An Trà huyện Tri Tôn và 5 xã: Đa Phước, Khánh
Bình, Quốc Thái, Nhơn Hội, Vĩnh Trường của huyện An Phú theo Quyết định
21/1998/UBQĐ ngày 25 tháng 02 năm 1998). Có 17 xã biên giới thuộc 5 huyện, thị
giáp Campuchia. Dân số toàn tỉnh là 2.113.429 người.
Là vùng đất quần cư của nhiều tộc người anh em gắn bó từ thời mở đất,
ngoài người Kinh ở An Giang còn có khoảng 100.000 người dân tộc ít người như:
vào Tân Châu đánh dẹp.
Từ 1705 đến 1757, quân Xiêm thường xuyên cướp phá Hà Tiên.
Trước tình thế đó, năm 1708 Mạc Cửu xin thần phục chúa Nguyễn. Năm
1714, chúa Nguyễn Phúc Chu chấp thuận và phong cho Mạc Cửu chức
Tổng binh cai quản Hà Tiên. Năm 1755, Nặc Nguyên quấy phá vùng Gia
Định, chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Nguyễn Cư Trinh điều khiển quan
binh đánh dẹp. Nặc Nguyên phải nhờ Mạc Thiên Tứ xin cầu hòa chúa
Nguyễn.
Tình hình Chân Lạp chưa yên do cuộc tranh giành quyền lực trong
nội bộ vương triều. Nặc Tôn được chúa Nguyễn giúp đở trở lại nắm
quyền ở Chân Lạp. Để tạ ơn chúa Nguyễn, năm 1757, Nặc Tôn hiến đất
Tầm Phong Long.
Thế là trong vòng hơn nửa thế kỷ (1698 - 1757), về cơ bản chúa
Nguyễn đã thiết lập xong bộ máy hành chính trên vùng đất Nam bộ [66,
229].
Bấy giờ vùng đất An Giang là điểm dừng chân cuối cùng của lưu dân người
Việt trên đồng bằng sông Cửu Long. Người Việt và các dân tộc anh em đoàn kết,
gắn bó trong công cuộc bảo vệ và xây dựng vùng đất mới; nơi đây dân cư còn thưa
thớt, nhiều chỗ bỏ hoang, đầu đời Gia Long mộ dân đến ở, dần dần khai thác và tạo
dựng thôn ấp.
Đời Minh Mạng, nhiều chủ trương, chính sách mới của nhà nước phong kiến
khuyến khích việc khai hoang như miễn thuế một số năm cho ruộng mới vỡ, phong
thưởng cho những thành tích mộ dân, lập làng… đã có tác dụng kích thích mạnh
đến sản xuất nông nghiệp, làm tăng nhanh dân số.
Các thôn xóm lúc ban đầu (trong thế kỷ XVII) chỉ là một sự kết hợp tự phát
trên tinh thần tương thân, tương trợ, chưa có luật lệ gì ràng buộc, chưa mang tính
chất những đơn vị hành chính, không có những quy chế chặt chẽ với những lệ làng,
mạng…Cuộc chiến tranh biên giới Tây-Nam, bọn PônPốt đã kích động trên dưới
hai vạn đồng bào Khmer đang sinh sống cập tuyến biên giới dài 36 cây số của hai
huyện Tịnh Biên và Tri Tôn. Đồng bào đã đấu tranh rất quyết liệt, không chịu để
chúng lợi dụng, hòng sang chiếm lãnh thổ Việt Nam. Rất nhiều cán bộ, chiến sĩ
người Khmer đã chiến đấu kiên cường trước kẻ thù, đấu tranh không khoan nhượng
với bọn phản động Khmer Crôm… để lại nhiều tấm gương chiến đấu, hy sinh anh dũng
như gia đình Chau Pút, Chau Xương, Néang Nghét…(Chau Pút bị bọn Khmer Serey
sát hại; Néang Nghét bị tên trưởng đồn người Khmer hành hình).
Trong suốt những năm gian khổ, hào hùng đó quan hệ đoàn kết giữa các dân
tộc trong tỉnh đã không ngừng được bồi đắp và phát huy sức mạnh, hợp thành cộng
đồng dân cư An Giang đùm bọc nhau trong thời khó khăn và chia sẻ với nhau cả
nghĩa vụ lẫn quyền lợi trong thời bình, trong sự phát triển chung của tỉnh.
1.1.2. Nét đặc thù trong đời sống kinh tế - xã hội của người Khmer An
Giang
- Địa bàn cư trú và dân số: Là tỉnh biên giới có nhiều dân tộc và tôn giáo
với tỷ lệ người Khmer tương đối đông so với các dân tộc khác (ngoài người Kinh),
có trên 86.000 người (chiếm 4,8% dân số toàn tỉnh), họ là cư dân bản địa, sống quần
cư tập trung tại 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên (Bảy Núi). Đây là 2 huyện biên giới-
dân tộc, không những là địa bàn chiến lược quan trọng trong cuộc đấu tranh chống
quân xâm lược của nhân dân An Giang mà còn là nơi dồi dào tiềm năng khoáng
sản, có nhiều đồi núi, chùa Tháp và các khu du lịch, di tích lịch sử. Còn lại số ít
sống tại 3 huyện Châu Thành, Thoại Sơn, Châu Phú. Đến năm 1978, do chiến tranh
biên giới Tây Nam, theo yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ an ninh Tổ quốc trong thời
điểm đó nên đồng bào phần lớn đồng bào Khmer được đưa xuống Sóc Trăng… sinh
sống, đến năm 1979, sau khi chiến tranh kết thúc họ được trở về quê cũ.
Người Khmer sinh sống chính bằng nghề nông. Cũng như nhiều dân tộc
anh em khác, dân tộc Khmer có kinh nghiệm, tập quán thâm canh lúa nước lâu đời,
canh tác trên các ruộng bậc thang (thường gọi là ruộng trên). Ngoài ra còn làm rẫy,
Khmer có thể là một tiểu gia đình có cùng huyết thống, nhưng cũng có những phum
do một đại gia đình Khmer tạo lập nên bao gồm những tiểu gia đình cư trú kế cận
nhau được tách ra từ đại gia đình. Theo thời gian, cơ cấu phum dần dần được nới
rộng ra, sự tác động này là yếu tố để các phum phát triển dần lên thành đơn vị cư trú
lớn hơn gọi là sóc. Đứng đầu phum, sóc là Mê phum, Mê sóc thông thường đó là
người có kinh nghiệm sống, am hiểu phong tục, tập quán, có uy tín được dân bầu
lên. Sóc của người Khmer đều có ít nhất một ngôi chùa, Mê sóc cùng với ban tự
quản kết hợp với sư sãi trong chùa có trách nhiệm bảo tồn và phát triển cộng đồng,
ổn định trật tự xã hội, hình thành thiết chế văn hóa - xã hội truyền thống mà tôn
giáo có vị trí đặc biệt.
Ngày nay, tổ chức ấp, xã đã phổ biến trong cộng đồng người Khmer Nam bộ.
Tuy vậy, dấu ấn của phum, sóc trong việc tụ cư theo dòng họ, trong sinh hoạt cộng
đồng ấp và trong sinh hoạt chùa chiền của cư dân Khmer vẫn còn.
- Tín ngưỡng, tôn giáo: người Khmer đã theo đạo Bàlamôn lâu đời, nhưng có
lẽ do những giáo điều gò bó và cách phân chia đẳng cấp quá khắt khe của đạo
Bàlamôn không phù hợp với tính phóng khoáng, bình dị và dễ dãi của người Khmer
nên dần dần vị trí của tôn giáo này đã bị Phật giáo Nam tông (còn gọi là Phật giáo
Tiểu thừa hay Phật giáo nguyên thủy) thay thế. Giáo lý đạo Phật đã hòa nhập vào
cuộc sống của người Khmer, lâu dần đã trở thành một thứ đạo lý, ý thức xã hội gắn
liền với cuộc sống của mọi thành viên.
Đạo Phật được bà con sùng kính, hầu hết người Khmer ở An Giang theo Phật
giáo Tiểu thừa với 2 hệ phái: Thamadút (hoàng tộc) và Malamikai (đại chúng);
nhưng 2 hệ phái này vẫn đảm bảo mối đoàn kết gắn bó, có 29 người theo tôn giáo
khác (Công giáo 6, Phật giáo 7, Cao đài 9, Tin lành 7, tất cả đều từ Thái Lan hồi
hương về).
Với Phật giáo Tiểu thừa, ngôi chùa là trung tâm của cả vùng, là niềm tự hào
của người Khmer. Và trên thực tế, chùa trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa - xã
(hàng chục lễ hội), nhưng quan trọng nhất là hai lễ hội : Chol Chnăm Thmây (lễ đón
năm mới), lễ Dolta (xá tội vong nhân) gắn với lễ đua bò của nhân dân.
Lễ Chol Chnăm Thmây thường được tổ chức vào giữa tháng 4 âm lịch hàng
năm. Đây là lúc giao mùa giữa mùa nắng và mùa mưa, và cũng là lúc mừng mùa vụ
mới trong năm. Chol Chnăm Thmây là lễ hội lớn nhất trong năm và có quan hệ đến
đời sống và niềm tin của người Khmer (diễn ra trong 3 ngày), được tổ chức tại các
chùa và trong mỗi gia đình của đồng bào Khmer. Bởi vì lễ hội này là dịp tống khứ
các điều không may trong năm cũ để bước vào năm mới nhiều may mắn trong cuộc
sống hơn.
Lễ Dolta được tổ chức trong khoảng từ 15/8 đến cuối tháng Tám âm lịch,
đây là một trong những lễ hội quan trọng mà người Khmer xem như cái tết thứ hai
trong năm. Lễ Dolta nhằm thực hiện việc xá tội vong nhân theo giáo lý đạo Phật
như lễ Vu Lan ở chùa Phật người Việt. Nhưng, lễ Dolta nặng về hoạt động tôn giáo
và thực hiện những nghi lễ cho giới sư sãi trong chùa. Vào lễ này, bà con thuộc
phum, sóc nào sẽ chịu trách nhiệm luân phiên nhau phục vụ cơm nước cho chùa ở
phum, sóc đó trong suốt 15 ngày lễ. Đây là thời kỳ các sư sãi trong thời gian nhập
hạ và những ngày này các sư không phải khất thực mà được phật tử dâng cơm nước
và mời sư sãi tụng kinh cầu siêu cho linh hồn của người thân đã khuất. Riêng đồng
bào tín ngưỡng mỗi tháng phải đến chùa bốn lần vào các ngày 08-15-23 và 30 trong
tháng, mang cơm đến chùa để cúng bái, tưởng nhớ những người đã mất và phù hộ
cho con cháu họ làm ăn được mùa, được giá hơn; bên cạnh đó họp mặt trao đổi rút
kinh nghiệm lẫn nhau trong cuộc sống: trồng trọt, chăn nuôi, giới thiệu những mô
hình sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao.
Kết hợp với Lễ hội là những trò chơi dân gian truyền thống mang đậm màu
sắc bản địa và tôn giáo. Cũng giống như cư dân Khmer ở Nam bộ, nếu như ở Sóc
Trăng, Kiên Giang có hội đua ghe ngo nổi tiếng thì đồng bào dân tộc Khmer vùng
Bảy núi - An Giang vẫn duy trì một phong tục truyền thống độc đáo, đó là hội đua
cứu hoạch định chính sách phát triển kinh tế, xã hội trong tiến trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
1.2. Quan điểm của Đảng và sự vận dụng của Đảng bộ An Giang để đề
ra và lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc
1.2.1. Quan điểm và chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc được thể hiện trong
cương lĩnh dân tộc của Lênin gồm ba nội dung chủ yếu: Các dân tộc hoàn toàn bình
đẳng, các dân tộc có quyền tự quyết, đoàn kết nhân dân lao động trong cuộc đấu
tranh xóa bỏ áp bức dân tộc và xây dựng mối quan hệ mới giữa các dân tộc.
Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, thực chất của bình
đẳng dân tộc là xóa bỏ sự nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác. Từng bước
xóa bỏ sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc, việc thực hiện bình
đẳng dân tộc sẽ góp phần thực hiện bình đẳng xã hội. Sự bình đẳng này phải được
thực hiện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…Để thực hiện
được điều ấy chỉ có đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân mới thực
hiện được quyền bình đẳng và tự quyết đúng đắn, khắc phục được thái độ kỳ thị và
mới đoàn kết được nhân dân lao động các dân tộc trong cuộc đấu tranh vì sự nghiệp
giải phóng xã hội, giải phóng con người, đưa các dân tộc tiến tới bình đẳng, công
bằng, dân chủ, văn minh.
Trong quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã bắt gặp tư tưởng Lênin về cách mạng vô sản và vấn đề dân tộc thuộc địa.
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, căn cứ vào thực tiễn Việt Nam là một
quốc gia đa dân tộc, Bác đã nhiều lần căn dặn chúng ta về việc quan tâm đến đời
sống của đồng bào các dân tộc. Người nói:
Chủ nghĩa Mác-Lênin đã giúp Đảng ta thấy rõ rằng trong điều kiện
một nước nông nghiệp lạc hậu như nước ta thì vấn đề dân tộc thực chất
là vấn đề nông dân. Cách mạng dân tộc thực chất là cách mạng của nông
tế, văn hóa, xã hội, phong tục, tập quán… khác nhau, nhưng đều có chung truyền
thống đoàn kết thống nhất, tương thân, tương ái, đồng cam cộng khổ trong công
cuộc dựng nước và giữ nước. Truyền thống đó đã được phát huy cao độ trong các
cuộc đấu tranh nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và đang được phát huy
trong công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mà nhiệm vụ
trọng tâm hiện nay là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Dựa trên những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về vấn đề dân tộc và giải quyết các mối quan hệ dân tộc; xuất phát từ đặc điểm tình
hình các dân tộc ở nước ta. Đảng ta, luôn luôn đề ra chính sách dân tộc đúng đắn
ngay từ cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương, tiếp tục hoàn thiện và
thể hiện cụ thể trong các Nghị quyết của các Đại hội đại biểu toàn quốc, trong các
Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và được khẳng định trong Hiến pháp.
Chính sách dân tộc được thể hiện trong các giai đoạn, trên cơ sở cụ thể hóa
những nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng:
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tháng 8 -1952, Nghị quyết của Bộ
Chính trị về công tác dân tộc của Đảng đã chỉ rõ: “Các dân tộc sống trên đất nước
Việt Nam đều được bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, phải đoàn kết giúp đỡ lẫn
nhau để kháng chiến và kiến quốc” [20, tr.38].
Sau khi miền Bắc được giải phóng, đất nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến
lược cách mạng, miền Bắc trở thành hậu phương lớn của cả nước. Nghị quyết Đại
hội Đảng lần thứ III đã đề ra chủ trương:
Đảng và Nhà nước cần có kế hoạch toàn diện và lâu dài phát triển
kinh tế và văn hóa ở miền núi, làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, các dân
tộc thiểu số tiến kịp dân tộc đa số, giúp các dân tộc phát huy tinh thần cách
mạng và khả năng to lớn của mình [20, tr.46].
Sau khi miền Nam được giải phóng, cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã
hội, Đảng ta chủ trương tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước của toàn
nghèo thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng dân tộc.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ:
Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn. Thực hiện “bình đẳng, đoàn
kết, tương trợ” giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Xây dựng Luật dân tộc. Từ nay đến năm 2000, bằng
nhiều biện pháp tích cực và vững chắc, thực hiện cho được 3 mục tiêu chủ
yếu: xóa được đói, giảm được nghèo, ổn định và cải thiện được đời sống,
sức khỏe của đồng bào các dân tộc, đồng bào vùng cao, vùng biên giới; xóa
được mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng và phát huy bản sắc văn hóa tốt
đẹp của các dân tộc; xây dựng được cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ và đảng
viên của các dân tộc ở các vùng, các cấp trong sạch và vững mạnh [ 24,
tr.125 - 126 ].
Để cụ thể hóa các Nghị quyết đổi mới của Đảng từ Đại hội VI, Bộ Chính trị
đã ban hành Nghị quyết 22 (ngày 27/11/1989) về một số chủ trương, chính sách lớn
về phát triển kinh tế - xã hội miền núi.
Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị đã nêu quan điểm chỉ đạo rất quan trọng là:
Phát triển kinh tế - xã hội miền núi là một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển
nền kinh tế quốc dân. Một mặt, các địa phương miền núi có trách nhiệm góp phần
thực hiện chủ trương chiến lược phát triển kinh tế, xã hội chung của cả nước. Mặt
khác, việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện những chủ trương, chính sách chung ở
miền núi phải tính đầy đủ những đặc điểm về tự nhiên, lịch sử, kinh tế, xã hội, văn
hóa, phong tục, tập quán của miền núi nói chung và của riêng từng vùng, từng dân
tộc; trong việc này cần đặc biệt nhấn mạnh vai trò năng động, sáng tạo của địa
phương và cơ sở.
Ngày 18/3/1990 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra quyết
định số 72 về chủ trương chính sách cụ thể nhằm phát triển kinh tế - xã hội miền
núi, nâng cao mức đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo đà phát triển mới cho các
trong giai đoạn 1998 - 2000. Đây là một chương trình tổng hợp có tính chất liên
ngành nằm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước với mục tiêu:
giảm tỷ lệ hộ đói nghèo trong tổng số hộ của cả nước xuống còn 10% năm 2000.
Tiếp theo là Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31-7-1998 của Thủ
tướng Chính phủ, phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt
khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa. Mục tiêu của chương trình nhằm nâng cao
nhanh đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở các xã đặc biệt khó
khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; tạo điều kiện để đưa nông thôn các vùng này
thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, hòa nhập vào sự phát triển
chung của cả nước, góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng.
Thông qua các hệ thống văn bản, từ văn kiện của Đảng, Chính phủ, pháp luật
của Nhà nước cũng như các văn bản dưới luật, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà
nước ta ngày càng được quan tâm cả trong phương diện hoạch định chính sách đến
việc thể hóa và thực hiện trong đời sống.
Chính sách dân tộc không chỉ nêu lên những nội dung xuyên suốt, bao trùm
cả một thời kỳ dài (thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước) mà
còn được xác định rõ những nhiệm vụ cụ thể, những mục tiêu cụ thể trong từng thời
kỳ, thời đoạn. Để làm được điều đó, cần phải thực hiện đầy đủ các nội dung cụ thể
trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng.
Về kinh tế: Nhiệm vụ kinh tế trong chính sách dân tộc chính là các chủ
trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi và các vùng dân tộc thiểu số
nhằm tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy tiềm năng và các nguồn lực,
đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế hàng hóa, từng bước khắc phục sự
chênh lệch về tốc độ phát triển kinh tế giữa các vùng, miền, giữa dân tộc thiểu số
với dân tộc đa số.
Nội dung kinh tế trong chính sách dân tộc bao gồm nhiều nhiệm vụ, nhiều
chương trình cụ thể liên quan đến các cấp, các ngành, từ Trung ương đến các địa
phương và cơ sở. Đó là việc xây dựng cơ cấu kinh tế ở miền núi và các vùng dân
tộc thiểu số trên tất cả các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, dịch vụ
đến việc đẩy nhanh ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất và đời sống. Phát
về kế hoạch hóa dân số…Những chính sách đó đều phản ánh nội dung xã hội, trong
việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.
Về an ninh, quốc phòng: Chính sách dân tộc được hoạch định và thực hiện
cũng chính là tạo điều kiện củng cố, xây dựng an ninh, quốc phòng ngày càng vững
chắc. Bởi vậy, xây dựng, phát triển kinh tế văn hóa, xã hội cũng chính là thực hiện
và đáp ứng những yêu cầu về ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an
toàn xã hội.
Quán triệt đầy đủ các yêu cầu, nội dung nhiệm vụ của chính sách dân tộc đòi
hỏi chúng ta phải nhận thức sâu sắc rằng, thực hiện đúng đắn chính sách dân tộc của
Đảng và Nhà nước là trách nhiệm chung của tất cả mọi người, của các tổ chức trong
hệ thống chính trị các cấp của nước ta chứ không chỉ riêng đồng bào các dân tộc
thiểu số.
Lĩnh vực dân tộc, chính sách dân tộc có nội dung rộng lớn đòi hỏi việc hoạch
định chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước phải luôn luôn được hoàn thiện,
bổ sung, chi tiết hóa, pháp luật hóa.
1.2.2. Chủ trương của Đảng bộ An Giang về chính sách dân tộc
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vùng núi luôn là căn cứ
địa quan trọng của cách mạng, do đó đã bị bom đạn địch không ngừng cày, xới. Sau
khi giải phóng không lâu nơi đây cũng bị Khmer đỏ tấn công thực hiện chủ trương
“giết sạch, đốt sạch”. Vì vậy, vùng nghèo, khó khăn lại càng nghèo và khó khăn
thêm.
Trong sự nghiệp xây dựng Tổ quốc, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng,
Đại hội Đảng bộ An Giang lần thứ IV (10/1986) đã đánh dấu mở đầu cho thời kỳ
đổi mới ở An Giang bằng chính sách “Tam nông”, trong đó nông nghiệp được
xác định là nền tảng - là mặt trận hàng đầu, nông dân là chủ thể của quá trình đổi
mới và nông thôn là địa bàn chiến lược, nhất là từ khi có Nghị quyết 22 ngày
27/11/1989 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh
đai thì thực hiện các chính sách khuyến khích để giãn dân, xây dựng vùng kinh tế
mới. Có chính sách đầu tư thích đáng cho thủy lợi giao thông, làm cây nước và vật
liệu xây dựng, trước hết ở những vùng có nhiều khó khăn. Thành lập hợp tác xã tín
dụng nông thôn để phục vụ sản xuất, đời sống. Mở rộng hoạt động của các chi
nhánh ngân hàng cổ phần, ngân hàng phát triển nông nghiệp ở các tỉnh, huyện có
đồng bào Khmer, tạo điều kiện để đồng bào được vay vốn sản xuất với lãi suất thấp,
từng bước thu hẹp dần và tới xóa bỏ tình trạng đồng bào Khmer phải vay nặng lãi,
bán lúa non, cầm cố ruộng đất. Đối với vùng sản xuất còn nhiều khó khăn, cần có