đảng bộ tỉnh vĩnh phúc lãnh đạo thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tu nam 1998 den nam 2007 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

--------***--------

ĐINH NGỌC CHÍNH

ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2007

LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ

Hà Nội – 2012

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

--------***--------

ĐINH NGỌC CHÍNH

ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI BÌNH LÃNH ĐẠO
THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2007

Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số

2.1. Đảng bộ tỉnh Thái Bình triển khai thực hiện Chỉ thị 30 của Bộ Chính
trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở……………………… 35
2.2. Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
từ năm 1998 đến năm 2007………………………………………………….. 40
2.2.1.Trong lĩnh vực chính trị………………………………………………… 40
2.2.2. Trong lĩnh vực kinh tế…………………………………………………. 58
2.2.3. Trong lĩnh vực văn hóa, xã hội………………………………………… 64
Chƣơng 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm………………………………. 71

3


3.1. Nhận xét chung…………………………………………………………... 71
3.1.1 Những thành công………………………………………………………. 71
3.1.2 Những tồn tại cần khắc phục…………………………………………… 75
3.2. Những kinh nghiệm …………………………………………………….. 77
Kết luận………………………………………………………………………. 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………….. 84

4


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

HĐND

Hội đồng nhân dân

UBND


chủ mà chúng ta đang hướng tới là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nền dân chủ
của đại đa số nhân dân lao động, trong đó con người được giải phóng khỏi áp
bức, bất công và được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn
hóa - xã hội…được thể chế hóa bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm.
Nhằm cụ thể hóa những tư tưởng, quan điểm về phát huy quyền làm chủ
của nhân dân theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, ngày 18 - 2 1998, Bộ Chính trị (khóa VIII) đã ban hành Chỉ thị số 30/CT - TW về thực hiện
6


quy chế dân chủ ở cơ sở. Đây là một chủ trương đúng đắn hợp lòng dân, được
ban hành đúng lúc đã đáp ứng được sự mong đợi của nhân dân và sớm đi vào
cuộc sống. Chấp hành Chỉ thị của Bộ Chính trị, Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 29/1998/NĐ - CP ngày 11 - 5 - 1998 về thực hiện quy chế dân chủ ở xã
(phường, thị trấn). Tiếp đến, ngày 28 - 3 - 2002, Ban bí thư Trung ương Đảng
(khóa IX) ban hành Chỉ thị số 10/CT - TW, về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng
và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Ngày 7 - 7 - 2003, Chính phủ tiếp tục ra
Nghị định số 79/2003/NĐ - CP ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở xã (phường,
thị trấn) thay cho Nghị định số 29/1998/NĐ - CP trước đó. Đến năm 2007, Ủy
ban Thường vụ Quốc hội đã có Nghị quyết nâng Quy chế dân chủ ở cơ sở thành
Pháp lệnh dân chủ cơ sở, đáp ứng yêu cầu thực hiện dân chủ và phát huy quyền
làm chủ của nhân dân ở cơ sở, nhất là ở nông thôn làng xã. Đặc biệt, trong
Cương lĩnh của Đảng tại Đại hội XI (năm 2011), đã đưa nội dung dân chủ lên
trước nội dung công bằng, văn minh nhằm nhấn mạnh bản chất của xã hội xã hội
chủ nghĩa mà Việt Nam xây dựng là xã hội dân chủ, dân chủ thực sự chứ không
phải dân chủ hình thức. Khi xây dựng, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội,
trước hết phải quan tâm đến dân chủ, phát huy sức mạnh của nhân dân. Điều đó
cho thấy, Đảng đã xác định vấn đề dân chủ có một vị trí quan trọng đặc biệt
trong xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Trước khi có Quy chế dân chủ ở cơ sở, tỉnh Thái Bình đã xảy ra nhiều
“điểm nóng”, hệ thống chính trị cơ sở nhiều nơi hầu như bị tê liệt, bị vô hiệu hóa

hiện từ năm 1998, nhưng đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học
và bài viết đề cập đến vấn đề này. Dựa trên cách tiếp cận có thể chia ra thành hai
nhóm nhỏ như sau:
- Nhóm thứ nhất, tiếp cận theo hướng đi từ góc độ nghiên cứu về vị trí,
vai trò và tầm quan trọng của dân chủ và dân chủ ở cơ sở để tìm hiểu thực tiễn
việc thực hiện vấn đề này ở cơ sở, tiêu biểu là các bài viết:
+ Dân chủ và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở do TS. Lương Gia Ban
(Chủ biên), nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.
+ Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
của PGS.TS. Dương Xuân Ngọc, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
8


+ Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay, một số
vấn đề lý luận và thực tiễn của Nguyễn Cúc (Chủ biên), nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2002…
- Nhóm thứ hai, tiếp cận theo hướng đi từ tìm hiểu thực tiễn việc thực hiện
vấn đề dân chủ ở cơ sở để khẳng định tính cần thiết phải cụ thể hóa về mặt chế
tài pháp lý của Nhà nước nhằm bảo đảm cho việc thực hiện dân chủ ở cơ sở có
tính khả thi, với các bài viết:
+ Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở của Đỗ Quang Tuấn
(Chủ biên), nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
+ Phát huy dân chủ ở xã, phường do PGS.TS. Vũ Văn Hiển (Chủ biên).
+ Sự lãnh đạo của Đảng bộ xã đối với việc thực hiện Quy chế dân chủ ở
cơ sở - Thực trạng và giải pháp do Đinh Văn Tư - Phó Trưởng ban Dân vận
Trung ương làm chủ nhiệm, năm 2001…
Những công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến vấn đề xây dựng và thực
hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, góp phần bổ sung lý luận về vấn đề dân chủ ở cơ
sở, làm cho Quy chế dân chủ ở cơ sở ngày càng hoàn thiện và áp dụng có hiệu
quả trong đời sống, nhằm xây dựng một nền dân chủ thực sự của dân, do dân, vì

3.2. Nhiệm vụ
- Phân tích một số vấn đề lý luận về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa và
dân chủ ở cơ sở để làm rõ sự cần thiết phải thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
trong giai đoạn hiện nay.
- Phân tích quá trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo thực hiện Quy chế
dân chủ ở cơ sở từ năm 1998 đến năm 2007.
- Đánh giá những kết quả bước đầu (thành công và hạn chế) trong quá
trình Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở từ
năm 1998 đến năm 2007.
- Một số kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn triển khai thực hiện Quy chế dân
chủ ở cơ sở của tỉnh Thái Bình.
4. Đối tƣợng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu
4.1. Đối tượng

10


- Những chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Bình trong
việc triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (chủ yếu ở đơn vị hành chính
cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã)).
- Kết quả thực hiện (bao gồm những thành công và hạn chế).
4.2. Phạm vi - giới hạn nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu việc Đảng bộ tỉnh Thái Bình vận dụng
những quan điểm của Đảng về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh (đơn vị hành
chính cấp xã) trong các lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
Tác giả lấy thời gian từ năm 1998 đến năm 2007 vì: năm 1998, Ban Chấp
hành Đảng bộ tỉnh Thái Bình ra Nghị quyết số 06-NQ/TU về những chủ trương,
giải pháp ổn định tình hình trong tỉnh nhằm thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ
sở; năm 2007, là mốc thời gian 10 năm tỉnh Thái Bình triển khai các giải pháp
thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, đồng thời năm 2007, là năm Uỷ ban Thường

- Chương 2: Chủ trương và quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
của Đảng bộ tỉnh Thái Bình từ năm 1998 đến năm 2007.
- Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm.

12


Chƣơng 1
QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ VÀ QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ.
1.1. Về dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ ở cơ sở.
1.1.1. Dân chủ xã hội chủ nghĩa
Dân chủ là một phạm trù lịch sử xuất hiện sớm trong xã hội loài người.
Ngay từ thời cổ đại, thuật ngữ dân chủ (demo cratic) trong ngôn ngữ của người
Hy Lạp, là một từ ghép bao gồm hai từ Demos (nhân dân) và Cratos (quyền lực).
Như vậy, có thể hiểu ngắn gọn dân chủ là chính quyền của nhân dân. Dân chủ
gắn bó chặt chẽ với quyền sống của con người, là nhu cầu thiết yếu của từng cá
nhân cũng như của mỗi cộng đồng người trong xã hội. Dân chủ gắn liền với tiến
bộ xã hội và sự phát triển của lịch sử loài người qua các thời đại và chế độ xã
hội khác nhau. Dân chủ là một trong những hình thái tổ chức chính trị nhà nước
của xã hội thể hiện nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, thừa nhận quyền tự do
bình đẳng của công dân, thừa nhận nhân dân nắm mọi quyền lực. Như vậy, dân
chủ được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa hẹp, chỉ bản chất của dân chủ, dân chủ là
quyền lực thuộc về dân; theo nghĩa rộng, dân chủ là chế độ chính trị, chế độ nhà
nước. Cùng với sự phát triển của xã hội, dân chủ trở thành những giá trị văn hóa,
thành những nguyên tắc hoạt động, nguyên tắc tập trung dân chủ.
Với tư cách là quyền lực, dân chủ là sản phẩm của lịch sử. Qúa trình hình
thành và phát triển dân chủ luôn gắn liền với cuộc đấu tranh của nhân dân lao
động nhằm hướng tới một xã hội công bằng, bình đẳng giữa người với người.
Trong xã hội nguyên thủy, các cá nhân có quyền như nhau, quan hệ thân ái, bình

minh, quần chúng nhân dân vươn lên tham gia một cách độc lập không những
vào việc bầu cử và tuyển cử, mà cả vào việc quản lý hàng ngày nữa” [67,
tr.143]. Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ: Bản chất chính trị của nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa là sự lãnh đạo chính trị của giai cấp công nhân thông qua đảng của nó
đối với toàn xã hội, nhưng không phải chỉ để thực hiện quyền lực và lợi ích
riêng cho giai cấp công nhân, mà chủ yếu là để thực hiện quyền lực và lợi ích
cho toàn thể nhân dân, trong đó có giai cấp công nhân.

14


Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chế độ dân chủ vô sản hay
dân chủ xã hội chủ nghĩa so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào cũng dân chủ
gấp triệu lần, nhà nước xã hội chủ nghĩa so với bất cứ nước cộng hòa dân chủ tư
sản nhất cũng dân chủ hơn gấp triệu lần vì dân chủ xã hội chủ nghĩa dựa trên
những cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội vững chắc.
Thứ nhất, về kinh tế, dân chủ xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu
về tư liệu sản xuất.
Thứ hai, trong chủ nghĩa xã hội mọi người đều được tham gia vào các
công việc của nhà nước.
Thứ ba, lãnh đạo nhà nước và xã hội là đảng cộng sản - đội tiên phong của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định
đối với thắng lợi của cuộc đấu tranh cho dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Thứ tư, đối tượng cần phải chuyên chính của dân chủ xã hội chủ nghĩa là
thiểu số các lực lượng thù địch chống lại lợi ích của nhân dân lao động và cả dân
tộc. Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ trong khi chú trọng thực hành và phát huy dân
chủ của nhân dân cần kiên quyết đấu tranh chống mọi âm mưu, hành động đi
ngược giá trị dân chủ chân chính. Theo các nhà kinh điển, dân chủ xã hội chủ
nghĩa không loại trừ đấu tranh giai cấp, chuyên chính nhất thiết có nghĩa là thủ
tiêu dân chủ đối với giai cấp bị chuyên chính. Lênin khẳng định: “Dưới chế độ

cụm từ dân chủ được nói tới 4 lần: Cuộc Cách mạng Tháng Tám đã lập nên nền
dân chủ cộng hòa. Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn hiện nay là kiến thiết
quốc gia trên nền tảng dân chủ. Một trong những nguyên tắc để xây dựng hiến
pháp là bảo đảm các quyền tự do dân chủ, dưới một chính thể dân chủ rộng rãi.
Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định: Nhà nước của ta là Nhà nước của dân, do
dân, vì dân, mọi quyền bính thuộc về nhân dân, do nhân dân nắm giữ. Đây là
nhà nước kiểu mới, do khác về bản chất với nhà nước phong kiến, tư sản nên
việc tổ chức, nắm giữ và sử dụng quyền lực là thuộc về đại đa số nhân dân và do
đại đa số nhân quyết định. Bộ máy nhà nước từ Quốc hội đến Chính phủ do
nhân dân bầu ra, được nhân dân ủy thác, thay mặt nhân dân để quản lý và điều
hành đất nước theo ý chí và lợi ích của đại đa số nhân dân. Điều đó cho thấy,
ngay từ bước đầu thành lập nước, Hồ Chí Minh đã đặc biệt coi trọng tính dân
16


chủ của nhà nước kiểu mới. Từ đó trở đi, Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định chế
độ ta là chế độ dân chủ, nước ta là một nước dân chủ. Hồ Chí Minh cho rằng:
Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ; Chế độ ta là
chế độ dân chủ - tức là nhân dân làm chủ; Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao
nhất là dân, vì dân là chủ. Với Hồ Chí Minh, trong một nhà nước dân chủ, một
chế độ dân chủ, người dân được đặt ở vị trí cao nhất, dân là chủ, dân làm chủ,
nhiệm vụ của chính quyền nhà nước dân chủ là phục vụ nhân dân, việc gì có lợi
cho dân dù nhỏ cũng phải ra sức làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ cũng phải ra
sức tránh. Người chỉ rõ: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ
toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc
chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền
thống trị của Pháp, Nhật.
Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm.
Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh.
Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta” [73, tr.5657].

Hồ Chí Minh chỉ rõ, dân chủ không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực
của sự phát triển. Thực hiện dân chủ sẽ phát huy mọi tiềm năng của nhân dân
phục vụ sự nghiệp cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, dân chủ, sáng kiến, hăng hái
ba điều đó rất quan hệ với nhau. Giữa việc thực hành dân chủ, sự tham gia của
quần chúng và thành công của cách mạng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Việc thực hành dân chủ rộng rãi sẽ thu hút đông đảo quần chúng tham gia và
quần chúng tham gia càng đông thì thành công càng đầy đủ. Quán triệt quan
điểm mácxít về vai trò động lực của dân chủ, từ thực tế xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc ở Việt Nam, Hồ Chí Minh rút ra kết luận mang tính khái quát: “Thực hành
dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn” [72, tr.249].
Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, trong tư duy lý luận và chỉ đạo
hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh, việc thực hành và phát huy dân chủ không
thể tách rời chấp hành nghiêm chỉnh kỷ cương luật pháp, quyền công dân không
tách rời nghĩa vụ công dân. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Nhà nước bảo đảm quyền tự
do, dân chủ cho công dân, nhưng nghiêm cấm lợi dụng các quyền tự do, dân chủ
18


để xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của nhân dân. Theo Hồ Chí Minh, trong
chế độ dân chủ nhân dân, lợi ích của Nhà nước, của tập thể cùng lợi ích của cá
nhân căn bản là nhất trí. Vì vậy, trong khi được hưởng những quyền lợi do Nhà
nước và tập thể mang lại cho mình thì mọi người công dân phải tự giác làm tròn
nghĩa vụ đối với nhà nước, đối với tập thể. Hồ Chí Minh khẳng định, nhân dân
có quyền làm chủ nhưng phải có nghĩa vụ của người làm chủ, việc nước là việc
chung… Bất kỳ già trẻ, gái trai, giàu nghèo…đều phải gánh vác một phần. Như
vậy, theo quan niệm của Người, dân chủ là sự thống nhất biện chứng giữa quyền
lợi và nghĩa vụ, lợi ích và trách nhiệm.
Tiếp thu những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về dân chủ xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc
đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Đảng và Nhà nước

bằng Hiến pháp và pháp luật. Sức mạnh và nội dung cơ bản của pháp chế xã hội
chủ nghĩa chính là quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Cần tăng cường pháp
chế xã hội chủ nghĩa làm cho mọi hoạt động của các cơ quan Nhà nước đi vào
khuôn phép và quy chế nghiêm chỉnh, thật sự tôn trọng quyền làm chủ tập thể và
bảo đảm quyền lợi cho công dân” [33, tr.146-147].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (1982) khẳng định lại
những chủ trương về phát huy quyền làm chủ tập thể của Đại hội IV và nhấn
mạnh: Trong công tác vận động quần chúng của Đảng phải tôn trọng và phát
huy hơn nữa quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động bằng chủ trương thực
hiện khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được ghi trong chỉ thị
53 CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa V) ngày 28/11/1984. Chỉ thị
nêu rõ “phải thực sự tôn trọng quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động,
thực hiện tốt khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong sản
xuất, phân phối cũng như trong tất cả các công tác quan hệ trực tiếp đến quần
chúng”.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng mở đầu công cuộc đổi
mới đất nước với tinh thần, thái độ nghiêm túc “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá
đúng sự thật, nói rõ sự thật” [34, tr.12] đã chỉ rõ: Đối với những chủ trương có
quan hệ trực tiếp tới đời sống nhân dân trên phạm vi cả nước cũng như ở các địa
20


phương và đơn vị cơ sở, cấp ủy đảng hoặc cơ quan chính quyền phải trưng cầu ý
kiến nhân dân trước khi quyết định. Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, đó
là nền nếp hàng ngày của xã hội mới, thực hiện chế độ nhân dân lao động tự
quản lý nhà nước của mình [34, tr.112].
Đại hội VI đã rút ra 4 bài học, trong đó bài học đầu tiên là: trong toàn bộ
hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt quan điểm “Lấy dân làm gốc”, “Xây
dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”. Báo cáo chính trị tại
Đại hội còn phân tích thêm: “Bài học lớn rút ra từ những năm qua là trong điều

giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích
của Tổ quốc và nhân dân” [37, tr.19]. Như vậy, đến Đại hội Đảng lần thứ VIII,
cụm từ Nhà nước “của dân, do dân, vì dân”được chính thức đưa vào văn kiện
Đại hội. Đại hội VIII tiếp tục xác định “xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
là một nội dung cơ bản của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta. Phải có cơ chế
và cách làm cụ thể để thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra” đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Thực
hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân: làm chủ thông qua đại diện, làm chủ trực
tiếp cùng các hình thức tự quản tại cơ sở” [37, tr.44].
Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã thông
qua Nghị quyết về “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng nhà
nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh”. Nghị quyết
đề ra nhiệm vụ đầu tiên là: “Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền
làm chủ của nhân dân trong xây dựng và quản lý nhà nước”. Với tinh thần:
“Nâng cao chất lượng chế độ dân chủ đại diện, mở rộng và có cơ chế từng bước
thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp một cách thiết thực, đúng hướng và có hiệu
quả”.
Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương để bảo đảm quyền
làm chủ của nhân dân trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều 11, Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992) khẳng định “Công dân
thực hiện quyền làm chủ của mình ở cơ sở bằng cách tham gia công việc của
Nhà nước và xã hội, có trách nhiệm bảo vệ của công, bảo vệ quyền và lợi ích

22


hợp pháp của công dân, giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, tổ
chức đời sống công cộng”.
1.1.2. Dân chủ ở cơ sở
Trong việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ ở cơ sở có ý

kinh doanh của các thành phần kinh tế.
Thực hiện dân chủ ở cơ sở là thực hiện những nội dung về dân chủ một
cách trực tiếp và rộng rãi đối với từng người dân, nhằm phát huy cao độ quyền
làm chủ của nhân dân lao động trong phát triển sản xuất, tổ chức đời sống, quản
lý xã hội, giữ gìn an ninh trật tự cộng đồng. Cơ sở là nơi diễn ra các trạng thái
dân chủ về chính trị, tư tưởng, kinh tế, tổ chức, văn hóa xã hội…một cách trực
tiếp, sinh động và rất nhạy cảm đối với con người.
Dân chủ ở cơ sở được thực hiện thông qua các tổ chức trong hệ thống
chính trị ở cơ sở và trình độ nhận thức đúng đắn với khả năng tổ chức thực hiện
của mỗi người. Dân chủ ở cơ sở được thực hiện dưới hai hình thức: dân chủ trực
tiếp và dân chủ đại diện. Dân chủ trực tiếp là mọi người dân đều được tham gia
vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, các công việc của đất nước,
tất cả công dân được tham gia một cách bình đẳng không phân biệt giới tính, địa
vị xã hội, tôn giáo… và được tham gia trực tiếp vào các quyết định liên quan
đến chính trị, kinh tế, xã hội, đời sống dân sinh, được tham gia đóng góp ý kiến
hay biểu quyết theo đa số. Dân chủ trực tiếp còn được thể hiện qua việc bầu cử
những người đại diện cho mình như bầu hội đồng nhân dân các cấp, Quốc hội.
Dân chủ đại diện là hình thức nhân dân thể hiện quyền làm chủ của mình tham
gia quản lý nhà nước và xã hội thông qua hoạt động của những người đại diện,
cơ quan đại diện của chính quyền, hội đồng nhân dân, Quốc hội, Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân
chủ đại diện kết hợp, bổ sung lẫn nhau nhằm thực hiện quyền làm chủ của nhân
dân.
Dân chủ ở cơ sở là nói tới sự làm chủ của nhân dân ở thôn, làng, xã,
phường trong việc ban hành và thực hiện các quyết định quan trọng về chính trị,
kinh tế, xã hội trước hết trong phạm vi thôn, xã. Đối với cấp chính quyền cơ sở,
24


việc thực hiện dân chủ ở cơ sở có nghĩa là cán bộ ở đây phải nhận thức và hành


Trích đoạn Thực trạng phát triển nông dân, nông nghiệp, nông thôn của tỉnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status