Đảng bộ tỉnh lạng sơn lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo từ năm 2000 đến năm 2015 - Pdf 45

I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC KHOA HC X HI V NHN VN

HONG TH NAM

Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lãnh đạo
thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo
từ năm 2000 đến năm 2015

LUN VN THC S LCH S

H NI - 2017

1


I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC KHOA HC X HI V NHN VN

HONG TH NAM

Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lãnh đạo
thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo
từ năm 2000 đến năm 2015

Chuyờn ngnh : Lch s ng Cng sn Vit Nam
Mó s

: 60 22 03 15

LUN VN THC S LCH S

: Ban chỉ đạo

BHYT

: Bảo hiểmytế

CCB

: Cựuchiếnbinh

HĐND

: Hội đồngnhândân

LĐTB&XH

: Lao động Thương binh và Xã hội

LHPN

: Liên hiệpphụnữ

MTTQ

: Mặt trận Tổ quốc

UBND

: Uỷ ban nhân dân



6


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đói nghèo đã và đang diễn ra trên khắp các châu lục với những mức
độ khác nhau, là một thách thức lớn đối với sự phát triển của từng khu vực,
từng quốc gia, dân tộc. Xóa đói giảm nghèo (XĐGN) đã trở thành vấn đề toàn
cầu và thế giới đã lấy ngày 17 tháng 10 hàng năm là “Ngày thế giới xóa đói
giảm nghèo”. Mục tiêu XĐGN luôn được đặt ra trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội không chỉ ở Việt Nam, mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Vì
vậy, những năm gần đây nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế rất quan tâm
đưa ra các giải pháp hạn chế nghèo đói và giảm dần khoảng cách phân hoá
giàu, nghèo trên phạm vi toàn cầu.
Ở Việt Nam, XĐGNđược coi là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Chính sách XĐGN là tổng thể các
quan điểm, tư tưởng, giải pháp, công cụ mà Đảng và Nhà nước sử dụng để tác
động lên các chủ thể kinh tế xã hội nhằm giải quyết vấn đề nghèo đói, thực
hiện mục tiêu XĐGN, từ đó xây dựng một xã hội giàu đẹp.Ngay từ khi mới ra
đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu giải phóng dân tộc, xây
dựng chế độ mới để đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Sau Cách mạng
tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ mục tiêu của Nhà
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòalà: Làm cho dân có ăn, làm cho dân có
mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành. Để làm được điều đó,
Người đã đề ra nhiệm vụ cấp bách là diệt “giặc đói” và “giặc dốt”. Người
nhắc nhở nhiệm vụ thường xuyên là xóa đói nghèo, làm cho kinh tế phát triển;
người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu và người khá giàu thì giàu
thêm. Kinh tế có phát triển, đời sống đồng bào có ấm no thì đất nước mới
cường thịnh.

nghĩa thực hiện mục tiêu chung của Quốc gia mà còn có vai trò thúc đẩy kinh

8


tế - xã hội của tỉnh phát triển, vươn lên tránh tụt hậu; đồng thời hội nhập với
các vùng khác trong khu vực và cả nước.
Vì vậy, việc nghiên cứu, lý giải một cách đầy đủ và có hệ thống vấn
đềXĐGN, xác định các giải pháp thực hiện vừa đảm bảo đúng nguyên lý
chung, vừa phù hợp với thực tiễn của địa phương là yêu cầu cấp thiết. Nhằm
góp phần đáp ứng đòi hỏi cấp bách đó, tác giả đã chọn vấn đề: “Đảng bộ tỉnh
Lạng Sơn lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo từ năm 2000
đến năm 2015” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đói, nghèo và XĐGN là vấn đề lớn, bức thiết ở Việt Nam hiện nay, đã
và đang thu hút các cơ quan, các nhà khoa học nghiên cứu tìm giải pháp. Kết
quả nghiên cứu của các công trình, các nhà khoa học đã được đăng tải trong
các tài liệu khác nhau.
2.1. Nhóm các công trình khoa học nghiên cứu về XĐGN nói
chung:
Trong cuốn sách Vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện
nay (1997) của tác giả Nguyễn Thị Hằng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Đề
cập đến nội dung thực trạng đói nghèo ở nông thôn Việt Nam, tác giả đã lý
giải các nguyên nhân và những vấn đề cần được giải quyết trong trong công
tácXĐGNtrong khu vực nông thôn ở nước ta.
Hà Quế Lâm trong cuốn Xóa đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số
nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp (2002),Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội. Đã phân tích những đặc điểm về địa lý, văn hóa, kinh tế ở những vùng
đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, khái quát tình trạng đói nghèo và thực

nước ta được các tác giả đề cập trên nhiều khía cạnh khác nhau như: phát
triển kinh tế nông nghiệp; nguồn vốn đầu tư cho chính sáchXĐGN; kết quả

10


trong công tác XĐGN ở nước ta đều được nhiều bài viết trên các tạp chí đề
cập như: Tăng trưởng, đói nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam,Tạp chí Lao
động và Xã hội, 2004, số 240 - 241 - 242;Cuộc chiến chống đói nghèo ở Việt
Nam - Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Lao động và Xã hội, 2005, số 272;
Giải pháp tài chính cho chống đói nghèo một cách bền vững,Tạp chí Kinh tế
và Dự báo, 2006, số 1.
Đặc biệt, trong bài viết Tác động của chính sách xóa đói, giảm nghèo
đối với sự phân hóa xã hội ở nước ta, Trần Văn Phong, Tạp chí Lý luận chính
trị, 2006, số 4. Tác giả đã nêu bật những kết quả thực hiện chính sáchXĐGN,
trong đó nhấn mạnh kết quả XĐGNđã tác động đến đời sống xã hội ở nước ta
rất rõ rệt.
Trong cuốn sáchPhân hóa giàu - nghèo ở Việt Nam hiện nay - Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn của tác giả Bùi Thị Hoàn (2013), Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách trình bày khái niệm phân hóa giàu - nghèo,
những vấn đề liên quan và tác động của nó đối với sự phát triển xã hội. Ngoài
ra, tác giả tập trung phân tích thực trạng, nguyên nhân, xu hướng vận động và
những vấn đề đặt ra đối với sự phân hóa giàu - nghèo trong nên kinh tế thị
trường ở Việt Nam. Hơn nữa, tác giả đề ra một số giải pháp chủ yếu nhằm
hạn chế sự phân hóa giàu - nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Nhiều tác giả đã trình bày trong cuốn sách Toàn cầu hóa, tăng trưởng
và nghèo đói - xây dựng một nền kinh tế hội nhập(2002), Nxb Văn hóa Thông
tin, Hà Nội. Đã nêu lên lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng
kinh tế, công bằng xã hội với vấn đề XĐGN, nêu lên thực trạng đói nghèo và
một số giải pháp XĐGN bền vững ở Việt Nam, đưa nền kinh tế hội nhập với

các chính sách xã hội khách. Từ đó, trong thực tế, XĐGN với tính chất của
một chính sách xã hội được thực thi bởi chủ thể nhà nước, đồng thời có sự
tham gia hỗ trợ của các tổ chức xã hội nhằm góp phần đẩy mạnh phong trào.

12


Cuối cùng tác giả kết luận “Chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng là cơ
sở quan trọng để phát huy hơn nữa vai trò của các tổ chức xã hội trong thực
hiện Chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN bền vững 2011- 2015”.
Trong bài viết Về thực hiện chính sách XĐGN ở Việt Nam giai đoạn
2011- 2020”tác giả Trần Ngọc Hiên (Tạp chí Cộng sản điện tử ngày 11- 72011) nêu lên những nhân tố tác động đến chính sách XĐGN Việt Nam trong
thời gian từ năm 2011- 2020 như tăng trưởng kinh tế phiến diện, môi trường
bị tàn phá, sự hạn chế về năng lực tổ chức, quản lý của bộ máy nhà nước các
cấp, trên cơ sở đó, tác giả đưa ra định hướng chính sách XĐGN cho Đảng và
Nhà nước trong thời gian 2011- 2020. Đó là đổi mới mô hình tăng trưởng
kinh tế; tạo lập những tiền đề, điều kiện để giải quyết vấn đề đói nghèo trong
mô hình mới; đổi mới tổchức và thể chế quản lý của Nhà nước theo yêu cầu
đổi mới mô hình kinh tế. Mặt khác, tác giả đề xuất, để XĐGN hiệu quả cần
đổi mới tư duy và phương pháp hoạch định thực hiện chính sách XĐGN.
Bài “Thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững ở Việt Nam” của
Nguyễn Trọng Đàm (Tạp chí Lịch sử Đảng số tháng 9- 2012) tổng kết một số
thành công của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và các chương trình giảm
nghèo (2006- 2010), đồng thời chỉ ra những chính sách mới trong Nghị quyết
số 80/NQ-CP ngày 19 tháng5 năm 2011 của chính phủ. Bên cạnh đó tác giả
còn nêu lên một số mục tiêu và giải pháp cần thực hiện trong thời gian từ năm
2012- 2015 như cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người
nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo
sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện về công tác giảm nghèo ở các vùng
nghèo; góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa thành thị

nhau.
Trong luận văn thạc sĩ Khoa học Chính trị có đề tài: Đảng bộ tỉnh Kon
Tum lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay (2007), Lê Như
Nhất, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Tác giả đã mô tả quá trình

14


Đảng bộ tỉnh Kon Tum quán triệt chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước vào việc lãnh đạo thực hiện XĐGN ở tỉnh. Những thành tựu, hạn
chế và rút ra một số kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Kon Tum
đối với công tácXĐGN.
Tiếp cận dưới góc độ kinh tế có đề tài “Những giải pháp kinh tế xã
hội chủ yếu nhằm XĐGN ở Hà Tĩnh” (Luận án Tiến sỹ kinh tế, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) của tác giả Trần Đình Đàn (2001); “Giải
pháp tín dụng góp phần thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo trong giai
đoạn hiện nay” (Luận án Tiến sỹ kinh tế, Học viện chính trị quân sự) của tác
giả Đào Tấn Nguyên… Đây là những luận án về XĐGN nhưng dưới góc độ
của những nhà hoạch định kinh tế. Do vậy, các giải pháp cho vấn đề XĐGN
chủ yếu là tiếp cận ở một khía cạnh về mặt kinh tế mà chưa có sự tiếp cận
tổng quát trên tất cả các mặt.
Nhiều luận văn có phạm vi thời gian và không gian khác nhau nhưng
đều có chung vấn đề nghiên cứu về Đảng bộ tỉnh lãnh đạo thực hiện XĐGNở
địa phương như: Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm
nghèo từ năm 1996 đến năm 2005 (2008), Trần Thị Thúy Hạnh, Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội.
Đề tài “Đảng bộ tỉnh Bến Tre lãnh đạo xóa đói giảm nghèo từ năm
1986 đến năm 2011” (Luận án Tiến sỹ lịch sử Đảng, Trường Đại học khoa
học xã hội và Nhân văn) của tác giả Nguyễn Tôn Phương Du; “Quá trình thực
hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Đảng ở tỉnh Cao Bằng từ năm 2001

tiến; xây dựng gia đình văn hoá; xây dựng làng, bản, khu phố văn hoá; xây
dựng cơ quan, đơn vị có nếp sống văn hoá; đẩy lùi hủ tục lạc hậu, các loại tội
phạm và tệ nạn xã hội góp phần giữ gìn và phát huy những giá trị bản sắc dân
tộc từ năm 2000 đến năm 2010. Đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong công
tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng nếp sống văn hóa của Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn.

16


Trong luận văn thạc sĩ kinh tế với đề tài: Nâng cao vai trò của Nhà
nước trong xóa đói giảm nghèo ở Lạng Sơn, (2010), Tạ Đức Thanh, Đại học
Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả đã hệ thống hóa lý luận về
XĐGNvà vai trò của Nhà nước trong hoạt độngXĐGN. Phân tích, đánh giá
thực trạng về vai trò của Nhà nước trong hoạt động XĐGNtại Lạng Sơn. Đề
xuất và luận cứ có cơ sở khoa học về những giải pháp nhằm nâng cao vai trò
của Nhà nước trong hoạt động XĐGNở Lạng Sơn.
Nhìn chung, từ cách tiếp cận và nghiên cứu nhiều chuyên ngành
khác nhau của các công trình trên đã góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận
và thực tiễn của vấn đề đói nghèo và công tác XĐGN ở nước ta trong giai
đoạn hiện nay. Kết quả nghiên cứu của các công trình đó có giá trị tham
khảo để thực hiện đề tài luận văn. Tuy nhiên, đến nay chưa có công
trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện dưới góc độ của khoa
học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam về sự lãnh đạo của
Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn đối với công tác XĐGN trên địa bàn tỉnh từ năm
2000 đến năm 2015 (từ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đến kết thúc
nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV).
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở phục dựng một cách có hệ thống chủ trương và sự chỉ đạo
thực hiện chính sách XĐGN của Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn từ năm 2000 đến

5. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
5.1. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic là chủ
yếu, bên cạnh đó kết hợp các phương pháp khác nhau như: phân tích, tổng
hợp, thống kê, so sánh…
5.2. Nguồn tài liệu:
- Các văn ki ện của Đảng, Nhà nước và địa phương có liên quan trực
tiếp đến đề tài.

18


- Các tài liệu tổng kết của các cơ quan Đảng, Nhà nước và địa phương
có liên quan đến đề tài.
- Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học qua sách chuyên
khảo, bài đăng tạp chí, luận văn, luận án có đề cập trực tiếp hoặc liên quan
đến đề tài đã được công bố.
Các nguồn tài liệu đó là cơ sở thực tiễn - lịch sử để tác giả dựa vào
thực hiện luận văn, trong đó quan trọng nhất là các Nghị quyết, Chỉ thị của
Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Đảng
bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn có liên quan đến XĐGN.
6. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa quan điểm, chủ trương của Đảng và của Đảng bộ tỉnh Lạng
Sơn trong lãnh đạo thực hiện chính sách XĐGN từ năm 2000 đến năm 2015.
- Cung cấp một cách có hệ thống, phong phú những tư liệu, sự kiện cơ
bản về quá trình Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lãnh đạo thực hiện chính sách XĐGN
từ năm 2000 đến năm 2015 qua hai giai đoạn 2000 - 2010 và 2011 - 2015.
- Đánh giá một cách khách quan những kết quả đạt được, những hạn
chế và luận giải nguyên nhân về những ưu điểm, hạn chế trong quá trình lãnh
đạo thực hiện chính sách XĐGN từ năm 2000 đến năm 2015 của Đảng bộ

không có núi cao. Độ cao trung bình là 252m so với mực nước biển; Nơi thấp
nhất là 20m ở phía Nam huyện Hữu Lũng, trên thung lũng sông Thương; Nơi
cao nhất là đỉnh Phia Mè (thuộc khối núi Mẫu Sơn) cao 1.541m so với mặt
biển. Hướng địa hình rất đa dạng và phức tạp: Hướng Tây Bắc - Đông
Namthể hiện ở máng trũng Thất Khê - Lộc Bình, trên đó có thung lũng các
sông Bắc Khê, Kỳ Cùng và Tiên Yên (Quảng Ninh) và dãy hồ Đệ Tam đã
được lấp đầy trầm tích Đệ Tam và Đệ Tứ, tạo thành các đồng bằng giữa núi
có giá trị đối với ngành nông nghiệp của tỉnh như Thất Khê, Na Dương, Bản

20


Ngà; Hướng Đông Bắc - Tây Nam thể hiện ở hướng núi thuộc các huyện Hữu
Lũng, Bắc Sơn, Chi Lăng, Văn Quan và phần lớn huyện Văn Lãng, hướng
này cũng thấy ở núi đồi huyện Cao Lộc (các xã Lộc Yên, Thanh Lòa và
Thạch Đạn); Hướng Bắc Nam thể hiện ở hướng núi thuộc các huyện Tràng
Định, Bình Gia và phần phía Tây huyện Văn Lãng; Hướng Tây Đông thể hiện
ở hướng của quần sơn Mẫu Sơn với khoảng 80 ngọn núi.
Đất đai: Theo thống kê (10/1995), diện tích đất tự nhiên là 818.725ha,
trong đó: đất nông nghiệp là 64.630,61 ha (chiếm 7,59%); đất lâm nghiệp có
rừng (rừng tự nhiên và rừng trồng) là 172.635,01ha (chiếm 21,08%); đất
chuyên dùng là 10.787 ha (chiếm 1,33%); đất ở là 4.611,48 ha (chiếm
0,56%); đất chưa sử dụng và các loại đất khác là 565.969,7 ha (chiếm
69,13%). Đất đai Lạng Sơn được chia thành 7 vùng với 16 tiểu vùng địa lý
thổ nhưỡng gồm 43 loại đất khác nhau phù hợp với nhiều loại cây trồng khác
nhau [64; tr. 5].
Khoáng sản: Trong địa phận tỉnh Lạng Sơn, nhóm khoáng sản kim loại
gồm có kim loại đen (sắt, man-gan), kim loại màu (nhôm, quặng bô-xít,
quặng alít, đồng, chì, kẽm), kim loại quý (vàng) và kim loại hiếm (thiếc, môlíp-đen, van-an-đi, thủy ngân); khoáng sản phi kim loại gồm có khoáng sản
nhiên liệu (than nâu, than bùn); khoáng sản dùng làm nguyên liệu áp quang và

độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2005 đạt 10,04%, năm
2006 đạt 10,34%, năm 2007 tăng trưởng kinh tế đạt 11,58%. Cơ cấu kinh tế
chuyển dịch theo hướng tích cực: (năm 2006) nông lâm nghiệp là 40,38%,
công nghiệp-xây dựng 21,14%, thương mại- dịch vụ 38,48%; năm 2007 nông
lâm nghiệp là 38,9%, công nghiệp-xây dựng 21,8%, thương mại- dịch vụ
39,3% [64; tr. 21].
Lĩnh vực nông lâm nghiệp - nông thôn: Tốc độ tăng trưởng bình quân
hàng năm giai đoạn 2001 - 2005 đạt 4,75%; năm 2007 là 8,25%. Sản lượng

22


lương thực bình quân hàng năm là 250.000-270.000 tấn. Năm 2006 đạt
260.000 tấn, năm 2007 ước đạt 280.000 tấn[64; tr. 24].Cơ cấu nông nghiệp và
nông thôn có bước chuyển dịch tích cực trên cơ sở khai thác và phát huy lợi
thế kinh tế đồi rừng để phát triển hàng hoá, đa dạng hoá ngành nghề, kinh tế
trang trại tiếp tục phát triển. Kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn được ưu
tiên đầu tư, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, chất lượng cuộc sống của nhân
dân được nâng lên, các dịch vụ sản xuất ngày càng được mở rộng và phát
triển. Tỉ lệ che phủ rừng năm 2006 là 43,06%, năm 2007 là 44,4%.
Ngành công nghiệp: Tỉnh chưa có cơ sở sản xuất lớn, một số sản phẩm
chủ yếu là gạch nung; khai thác đá; quặng sắt; bô-xít,; lắp ráp; sửa chữa cơ
khí; chế biến lâm sản…Một số cơ sở công nghiệp như: Nhà máy nhiệt điện
Na Dương (công suất 100MW) hoạt động từ năm 2005; Nhà máy xi măng
Hồng Phong (công suất 10 vạn tấn năm) hoạt động từ giữa năm 2006; Nhà
máy xi măng Đồng Bành (công suất 90 vạn tấn năm). Tốc độ tăng trưởng
bình quân hàng năm giai đoạn 2000 - 2005 là trên 19%, năm 2006 là 24,9%,
năm 2007 là 10,85% [64; tr. 31].
Phát triển thương mại, dịchvà kinh tế cửa khẩu: được xác định là lĩnh
vực mũi nhọn, là khâu đột phá trong thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ

thuỷ lợi đảm bảo nước tưới cho trên 56% diện tích cây lương thực; 100% số
xã có điện thoại cố định (đạt 6,5 máy/100 dân); 67% số xã có điểm bưu điện
văn hoá xã; 100% xã có báo đọc trong ngày [64; tr. 47].
Văn hoá - xã hội: Có nhiều chuyển biến tiến bộ, đời sống của nhân dân
tiếp tục được cải thiện. Giáo dục - Đào tạo có bước phát triển mới, mở rộng
về quy mô và từng bước nâng cao về chất lượng. Tỉnh đã được công nhận đạt
chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ từ năm 1995 và đạt chuẩn phổ
cập Giáo dục THCS vào năm 2006. Có 48 trường Tiểu học và Trung học cơ
sở đạt chuẩn quốc gia. Lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, dân số - kế

24


hoạch hoá gia đình từng bước nâng cao về chất lượng, 100% xã có trạm y tế,
trong đó 70% xã có bác sỹ, 79,7% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã. Văn
hoá, văn nghệ, thông tin, thể dục thể thao được đẩy mạnh, việc giữ gìn và
phát huy các giá trị truyền thống,bản sắc văn hoá dân tộc được coi trọng; 70%
số hộ gia đình được công nhận là gia đình văn hoá; 30% số thôn, bản, khối
phố đạt tiêu chuẩn văn hoá; 75% số cơ quan, đơn vị được công nhận danh
hiệu cơ quan văn hoá; 100% số hộ nghe được Đài Tiếng nói Việt Nam; 74%
số hộ được xem truyền hình[64; tr. 52].
Các chương trình XĐGN, giải quyết việc làm, phát triển kinh tế-xã hội
các xã đặc biệt khó khăn, các xã biên giới; hoạt động đền ơn đáp nghĩa, giúp
đỡ các đối tượng chính sách xã hội,… được triển khai tích cực, góp phần quan
trọng nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội.
Ngoài những điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, văn hoá nhân
văn phong phú… Lạng Sơn còn là tỉnh miền núi có hệ thống giao thông thuận
lợi có đường biên giới chung với Trung Quốc dài 253km, có 2 cửa khẩu quốc
tế (cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị và cửa khẩu đường sắt Đồng Đăng) 2 cửa
khẩu quốc gia (Chi Ma, Bình Nghi) và 7 cặp chợ biên giới đã tạo điều kiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status