Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo từ 1997-2010 : Luận văn ThS. Lịch sử: 60 22 56 - Pdf 67

®¹i häc quèc gia hµ néi
TR¦êNG ®¹i häc khoa häc x· héi vµ nh©n v¨n

            

TRẦN THỊ XOA

ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: TS. Văn Thị Thanh Mai

Hµ Néi - 2014


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1.Lý do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ..................................................... 3
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.................................................................... 8
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .................................................................... 8
5. Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu...................................................... 8
6. Đóng góp của luận văn .................................................................................. 9
7. Bố cục luận văn ........................................................................................... 10
Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN

hiê ̣n XĐGN. ..................................................................................................... 63
2.3.2. Kết quả lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo từ năm 2006 - 2010................. 74
Tiểu kết chương 2 .......................................................................................... 79
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ............................ 80
3.1. Nhận xét về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh ......................... 80
3.1.1. Thành tựu .............................................................................................. 80
3.1.2. Một số hạn chế ...................................................................................... 88
3.2. Một số kinh nghiệm................................................................................ 96
KẾT LUẬN .................................................................................................. 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 104
PHỤ LỤC .................................................................................................... 112


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BCH

: Ban chấp hành

BHYT

: Bảo hiểm y tế

HĐND

: Hội đồng nhân dân

LĐTB&XH

: Lao động Thương binh và Xã hội

tranh, thảm họa của thiên tai, dịch bệnh với bao nỗi kinh hoàng. Thế nhưng
hậu quả do những nạn đói gây ra cũng vô cùng khủng khiếp. Điều đáng sợ
hơn nữa là: Nếu như các cuộc chiến tranh dù khốc liệt vô cùng nhưng rồi
trước sau cũng được giải quyết nếu như những thảm họa do thiên tai, dịch
bệnh gây ra từng bước cũng sẽ được khắc phục thì vấn đề nghèo đói của nhân
loại lại là một vấn đề vừa cấp bách, vừa phức tạp và kéo dài dai dẳng đối với
mỗi quốc gia.
Thực tế là, một phần ba số dân thế giới vẫn đang phải sống trong tình
trạng khốn cùng và đói khát. Đói nghèo diễn ra trên tất cả các châu lục với
những mức độ khác nhau. Đặc biệt, ở các nước đang phát triển, sự đói nghèo
của người dân đang là một vấn đề nhức nhối, cấp bách, phải tháo gỡ và đó
đồng thời cũng là khó khăn của công tác XĐGN.
Để khắc phục tình trạng nghèo đói, mỗi quốc gia đều có những chương
trình hoặc những chính sách để thực hiện việc XĐGN và Việt Nam không
phải là một ngoại lệ. Hướng tới mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh", Đảng và Nhà nước đã đề ra các chủ trương, chính sách
nhằm tạo cơ hội cho người nghèo thoát khỏi cảnh nghèo khó, từng bước nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần. Nhiều địa phương đã triển khai thực hiện
chương trình XĐGN với các biện pháp sáng tạo, linh hoạt, giúp đỡ hộ nghèo,
xã nghèo tháo gỡ khó khăn trong xây dựng cơ sở hạ tầng, ổn định và phát
1


triển sản xuất. Theo đó, công tác XĐGN của nước ta trong những năm qua đã
đạt được những thành tựu đầy ấn tượng. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn xếp vào
trong nhóm các nước nghèo trên thế giới. XĐGN là một chính sách lớn của
Đảng và Nhà nước ta, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa
khuyến khích nhân dân làm giàu chính đáng, vừa giúp đỡ người nghèo tự tin
vươn lên hòa nhập với sự phát triển chung của đất nước. Theo đó, giải quyết
đói nghèo hiện nay không chỉ dừng lại ở việc có đủ về lương thực, thực phẩm

giả, các chuyên ngành và những cá nhân nghiên cứu. Việc nghiên cứu thực
trạng đói nghèo và tìm ra giải pháp để đẩy mạnh thực hiện XĐGN là đề tài
được nhiều giới nghiên cứu quan tâm và tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau,
có thể quy về các nhóm sau:
2.1. Các công trình là sách
Trong rất nhiều cuốn sách trình bày về vấn đề XĐGN, có thể kể đến một
số cuốn sách như:
Cuốn „„Vấn đề xóa đói giảm nghèo của nông thôn nước ta hiện nay‟‟ của
Nguyễn Thị Hằng, Trần Đình Hoan, Bùi Trọng Thành, (1997), Nxb Lao
động- Xã hội, Hà Nội đã nghiên cứu vấn đề đói nghèo ở các chế độ xã hội và
ở nước ta, nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh về mục tiêu lý tưởng của chế độ xã hội chủ nghĩa, nêu nên tính tất
yếu khách quan của việc XĐGN, thực trạng đói nghèo và một số phương
hướng, biện pháp XĐGN ở nông thôn nước ta hiện nay. Cuốn sách đã cung
cấp cho tôi những quan điểm và lý luận về XĐGN và công tác XĐGN.
Cuốn sách „„Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam‟‟ (2001) của
Chu Quang Tiế n (Chủ biên), Nxb Nông Nghiê ̣p, Hà Nội đã chỉ ra thực trạng
đói nghèo và những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo ở Việt Nam.
Đồng thời, cuốn sách cũng chỉ ra những giải pháp và những mặt còn tồn tại
trong công tác XĐGN ở Việt Nam giai đoạn 2001 trở về trước. Cuốn sách đã
cung cấp cho tôi những nền tảng về lý luận và thực tiễn để tiếp cận vào đề tài

3


nghiên cứu của mình trong vấn đề XĐGN ở Việt Nam nói chung và tỉnh Bắc
Ninh nói riêng.
Cuố n “Chính sách xóa đói giảm nghèo - thực trạng và giải pháp”
(2013) của PGS.TS. Lê Quốc Quý , NXB Chính trị quốc gia , Hà Nội , đã
nghiên cứu hê ̣ thố ng các chiń h sách về XĐGN ở Viê ̣t Nam từ trước đế n nay

việc giúp phụ nữ XĐGN một cách có hiệu quả. Đây là một cách thực hiện
XĐGN mà các địa phương có thể áp dụng...
Những bài viế t này giúp tôi có cái nhiǹ đa da ̣ng về công tác XĐGN ở các
điạ phương khác ngoài tin
̉ h Bắ c Ninh để từ đó có cái nhìn so sánh về công tác
XĐGN ở Bắ c Ninh với các điạ phương khác trong cả nước.
2.3. Các hội thảo, tọa đàm khoa học
Đói nghèo không phải riêng của Việt Nam mà là một vấn đề mang tính
toàn cầu. Do vậy, không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới cũng có rất nhiều
những hội thảo và tọa đàm khoa học về vấn đề đói nghèo và XĐGN.
Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á- Thái Bình Dương do Ủy ban
kinh tế- xã hội châu Á- Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băngkốc (Thái
Lan) đã bàn về khái niệm chung, các tiêu chí đánh giá sự nghèo đói và các
giải pháp chống đói nghèo trong khu vực. Các quốc gia trong hội nghị đã trình
bày các hoạt động, quan điểm và giải pháp XĐGN ở nước mình, từ đó đề xuất
khuyến nghị phối hợp cùng nhau giải quyết vấn đề đói nghèo.
Hội nghị về phát triển xã hội do Liên hợp quốc tổ chức tại Copenhaghe
(Đan Mạch) tháng 3/1995 đã tập chung thảo luận vấn đề XĐGN, nêu nên
trách nhiệm của các tổ chức quốc tế và các nước phát triển trong việc hỗ trợ,
giúp đỡ các nước đang phát triển XĐGN, thu hẹp khoảng cách giữa nước giàu
và nước nghèo.
Hội nghị thượng đỉnh thiên niên kỷ của Liên hợp quốc năm 2000 đã
thông qua tuyên bố thiên niên kỷ và xác định mục tiêu giảm 50% tỷ lệ đói
nghèo năm 2000 (tức là 600 triệu người) vào năm 2015. Hội nghị cấp cao của
Đại hội đồng Liên hợp quốc họp vào tháng 9/2005 cũng khẳng định nỗ lực
toàn cầu trong việc giải quyết mục tiêu thiên niên kỷ về XĐGN.
5


Công ty ADUKI (Tổ chức nghiên cứu và hợp tác quốc tế Thụy ĐiểnSIDA), „„Vấn đề nghèo ở Việt Nam‟‟ (1996), đã đưa ra khái niệm về nghèo, đi

Quốc gia Hồ Chí Minh); Đào Tấn Nguyên, „„Giải pháp tín dụng góp phần
thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của ngân hàng chính sách xã hội
Việt Nam‟‟, luận án Tiến sỹ Kinh tế; Nguyễn Trọng Xuân (2004), Quân đội
tham gia xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay (luận án Tiến sĩ Kinh
tế, Học viện chính trị quân sự); Nguyễn Anh Dũng (2009), … Đây là những
luận án về XĐGN nhưng dưới góc độ của những nhà hoạch định kinh tế. Do
vậy, các giải pháp cho vấn đề XĐGN chủ yếu là tiếp cận ở một khía cạnh về
mặt kinh tế mà chưa có sự tiếp cận tổng quát trên tất cả các mặt.
Các Nghiên cứu sinh và học viên cao học Lịch sử Đảng có các đề tài
của Ma Thi Tuyề
n „„Quá trình thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo của
̣
Đảng ở tỉnh Cao Bằng từ năm 2001 đến năm 2010”, (Luận văn Thạc sỹ Lịch
sử Đảng, Trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn); “Chương trình mục
tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo với đời sống kinh tế, xã hội của người
Mường tỉnh Phú Thọ” (Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Đại học khoa học xã hội và
Nhân văn); Lương Thị Thuần (2011), “Quá trình thực hiện chính sách xóa
đói giảm nghèo của Đảng ở tỉnh Yên Bái từ năm 1996 đến năm 2010” (Luận
văn Thạc sĩ khoa học Lịch sử, Đại học khoa học xã hội và Nhân văn)…
Những luận văn này đã có cách tiếp cận tổng quát về những chính sách của
Đảng và Nhà nước về vấn đề XĐGN và đã được áp dụng vào từng địa
phương cụ thể. Những đề tài này đã giúp cho tôi rất nhiều trong việc tiếp cận
vấn đề để giải quyết đề tài nghiên cứu của mình.
Nhìn chung từ cách tiếp cận và nghiên cứu của các chuyên ngành khác
nhau, các công trình trên đã góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn
của vấn đề đói nghèo và công tác XĐGN ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của các công trình đó có giá trị tham khảo tốt để thực hiện
luận văn. Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nghiên cứu một cách toàn
diện dưới góc độ khoa học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam


- Các chủ trương, biện pháp của Đảng bộ tỉnh Bắ c Ninh về XĐGN
- Các hoạt động ở tỉnh Bắ c Ninh nhằm thực hiện XĐGN.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung:
- Các thuận lợi và khó khăn của tỉnh Bắ c Ninh trong thực hiện XĐGN
8


- Các hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắ c Ninh đối với công
cuộc XĐGN.
- Thực tiễn XĐGN ở tỉnh Bắ c Ninh.
Thời gian và không gian: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Bắ c Nin h từ
năm 1997 đến năm 2010.
5. Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu
- Hệ thống các văn kiện của Đảng và Nhà nước; các nghị quyết, chỉ thị,
hướng dẫn của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh và các huyện trong tỉnh có liên quan;
các quy định của Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh và các
huyện ở Bắc Ninh.
- Kết quả các công triǹ h nghiên cứu, bài viết liên quan đã được công bố.
- Tài liệu khảo sát của tác giả.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic và sự kết
hợp của hai phương pháp này là chủ yếu. Ngoài ra còn sử dụng các phương
pháp khác như so sánh, phân tích, tổng hợp, phương pháp chuyên gia, từ đó
rút ra luận diểm khoa học để thực hiện luận văn.
6. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh
thực hiện công tác XĐGN từ năm 1997- 2010, từ đó khẳng định sự đúng đắn,
sang tạo của Đảng bộ tỉnh lãnh đạo thực hiện XĐGN ở địa phương. Chỉ ra

đến 21o 16‟ vĩ độ Bắc và 105o 54‟ đến 106o 19‟ kinh độ Đông. Phía Bắc giáp
tỉnh Bắc Giang; Phía Đông và Đông Nam giáp với tỉnh Hải Dương; Phía Nam
giáp tỉnh Hưng Yên; Phía Tây giáp thành phố Hà Nội.
Địa hình: Với vị trí nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ nên địa hình của
tỉnh Bắc Ninh khá bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và
từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy nước mặt đổ về sông
Cầu, sông Đuống và sông Thái Bình. Mức độ chênh lệch địa hình trên toàn
tỉnh không lớn. Vùng đồng bằng chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh có độ cao
phổ biến từ 3 – 7m so với mực nước biển và một số vùng thấp trũng ven đê
thuộc các huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ. Địa hình trung du đồi núi
chiếm tỷ lệ rất nhỏ khoảng (0,53%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh
được phân bố rải rác thuộc thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, huyện Quế
Võ, các đỉnh núi có độ cao phổ biến từ 60 – 100m, đỉnh cao nhất là núi Bàn
Cờ (thành phố Bắc Ninh) cao 171m, tiến đến là núi Bu (huyện Quế Võ) cao
103m, núi Phật Tích (huyện Tiên Du) cao 84m và núi Thiên Thai (huyện Gia
Bình) cao 71m.
Thủy văn: Mạng lưới sông ngòi thuộc tỉnh Bắc Ninh khá dày đặc, mật độ
khá cao từ 1,0 – 1,2km/km2 (theo số liệu của Đài KTTV Bắc Bộ) với 3 hệ

11


thống sông lớn chảy qua gồm sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình. Ngoài
ra trên địa bàn tỉnh còn có sông Cà Lồ nằm ở phía Tây của tỉnh, một phần của
sông có chiều dài 6,5km là đường ranh giới tỉnh giữa Bắc Ninh với thành phố
Hà Nội và hệ thống sông ngòi nội địa như sông Ngũ Huyện Khê, sông
Dâu, sông Bội, sông Tào Khê, sông Đồng Khởi, sông Đại Quảng Bình.Với
hệ thống sông ngòi khá dày đặc và có lưu lượng nước mặt dồi dào, thủy
văn của tỉnh Bắc Ninh đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác tưới
và tiêu thoát nước trên địa bàn toàn tỉnh.

Ninh có những nét còn mang tính chất của vòng cung Đông Triều vùng Đông
Bắc. Với đặc điểm này địa chất của tỉnh Bắc Ninh có tính ổn định hơn so với
Hà Nội và các đô thị vùng đồng bằng Bắc Bộ khác trong việc xây dựng công
trình. Bắc Ninh là tỉnh nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu thiên về vật
liệu xây dựng với các loại khoáng sản sau: đất sét, cát xây dựng và than bùn.
Trong đó, đất sét được khai thác làm gạch, ngói, gốm có trữ lượng lớn được
phân bổ dọc theo sông Cầu, sông Đuống thuộc phạm vi các huyện Thuận
Thành, Gia Bình, Quế Võ, Yên Phòng và Tiên Du; Đất sét làm gạch chịu lửa
phân bổ chủ yếu tại khu vực phường Thị Cầu, thành phố Bắc Ninh. Cát xây
dựng cũng là nguồn tài nguyên chính có trữ lượng lớn của Bắc Ninh được
phân bố hầu như khắp toàn tỉnh, dọc theo sông Cầu, sông Đuống.
Thảm thực vật: Thực vật của Bắc Ninh chủ yếu là cây trồng hàng năm,
cây trồng lâu năm và rừng trồng. Trong đó diện tích cây trồng hàng năm
chiếm 54% diện tích đất tự nhiên, diện tích đất tự nhiên, diện tích đất trồng
cây lâu năm và đất rừng trồng chiếm diện tích thấp.
Điều kiện kinh tế- xã hội: Gần một thế kỷ đã qua, Bắc Ninh - đất Kinh
Bắc thủa nào vẫn là một miền đất trù phú tiềm ẩn những điểu kiện thuận lợi
cho phát triển kinh tế và gìn giữ những giá trị văn hoá truyền thống của dân
tộc Việt Nam. Đặc biệt trên chặng đường hơn 10 năm kể từ ngày tái lập,
Bắc Ninh đã phát huy truyền thông cách mạng, năng động, sáng tạo để thực

13


hiện công cuộc đổi mới, tạo nên những bước chuyển biến mạnh mẽ trên
mọi lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội.
Dân cư – lao động: Theo số liệu thống kê mới nhất năm 2010, Bắc ninh
có 1.038.229 người . Trong đó dân cư nông thôn chiếm trên 74,1%, dân số
thành thị chiếm 25,9%. Thành phần dân số này có xu hướng chuyển dịch theo
cơ cấu tăng dân số thành thị và giảm dần số nông thôn. Dân số Bắc Ninh là

Nông nghiệp: Mặc dù diện tích đất nông nghiệp giảm, sản xuất còn gặp
nhiều khó khăn do diễn biến bất thường của thời tiết nhưng giá trị sản xuất
nông nghiệp tăng bình quân 3,5% (theo giá năm 1994). Năng xuất, sản lượng
cây trồng tăng đáng kể: năng suất lúa ước đạt 60 tạ/ha; sản lượng lương thực
có hạt ước đạt 60 tấn; giá trị trồng trọt ước đạt 73,9 triệu đồng/ha năm 2010.
Cơ cấu cây trồng gắn với luân canh hợp lý, nhiều vùng sản xuất hàng hóa tập
trung cho thu nhập gần 200 triệu đồng/ha như: lúa, khoai tây, rau xanh, hoa,
cây cảnh… Quan hệ sản xuất ở nông thôn có chuyển biến tích cực, bước đầu
xuất hiện mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp đô thị,
doanh nghiệp nông nghiệp, kinh tế trang trại tiếp tục phát triển. Năm 2009,
toàn tỉnh có 2.477 trang trại hoạt động đạt hiệu quả tốt đồng thời có 568 hợp
tác xã, 2 liên hiệp hợp tác xã, 628 tổ hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp. Việc chuyển giáo, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, cơ giới hóa tăng nhanh,
dịch vụ nông nghiệp phát triển, “dồn điền đổi thửa” gắn với quy hoạch hạ tầng
vùng sản xuất được coi trọng. Chăn nuôi phát triển khá, đàn gia súc, gia cầm
tăng đáng kể, bước đầu chuyển sang chăn nuôi tập trung, giá trị sản xuất khu
vực chăn nuôi tăng bình quân 4,6%/năm; nuôi trồng thủy sản tăng bình quân
11,4%/năm; trồng rừng tập trung, trồng cây phân tán, cải tạo vườn tạp được
duy trì và phát triển. Hình thành mô hình chuỗi giá trị trong nông nghiệp với
tổ hợp sản xuất giống, thức ăn chăn nuôi, chế biến thực phẩm, tạo liên kết
doanh nghiệp hỗ trợ nông dân sản xuất, tiêu thụ hàng hóa.
Giao thông: Bắc Ninh là tỉnh có điều kiện thuận lợi để phát triển giao
thông vận tải. Mạng lưới giao thông bao gồm đường sắt, đường bộ, đường
15


thuỷ đã được hình thành từ lâu. Hơn nữa, đây là cửa ngõ của thủ đô Hà Nội,
trong khu vực tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nôi - Hải Phòng - Quảng Ninh
nên được Chính phủ quan tâm đầu tư cho phát triển các tuyến đường huyết
mạch. Quốc lộ 1, quốc lộ 18, quốc lộ 38 và tuyến đường sắt Hà Nội - Bắc

học phổ thông.
Y tế - Sức khoẻ: Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân luôn
luôn được tỉnh đặc biệt chú trọng, Thể hiện ở mạng lưới các bệnh viện, phòng
khám đa khoa khu vực rải đều khắp các huyện/thị, 100% các xã/phường thị
trấn có trạm y tế. Cơ sở vật chất và đội ngũ y sĩ, bác sĩ tăng dần qua các năm.
Số giường bệnh trong toàn tỉnh 2.340; số cán bộ công tác ở ngành y là 3.249
người; trong đó tiến sĩ, thạc sĩ là 55 người, bác sĩ là 650 người. Năm 2010 đã
thực hiện tiêm chủng cho 21.718 trẻ em trên toàn tỉnh.
Những điề u kiê ̣n về tự nhiên và kinh tế

- xã hội của tỉnh Bắc Ninh nói

trên đã góp phầ n không nhỏ vào sự phát triể n kinh tế nói chung

và công tác

XĐGN nói riêng . Với điạ thế tự nhiên đa da ̣ng đươ ̣c thiên nhiên ưu đãi đã
mang la ̣i thuâ ̣n lơ ̣i cho sản xuấ t cũng như là giao thương là cơ sở cho phát
triể n kinh tế . Bên ca ̣nh đó , cùng với truyền thống cách mạng, năng động sáng
tạo, truyền thống hiếu học, và nét văn hoá đặc sắc của người dân Kinh Bắc là
nguồn tài sản quý báu của tỉnh Bắc Ninh, tạo nguồ n lực cho việc thực hiện
công tác XĐGN hiệu quả. Những điề u kiê ̣n thuâ ̣n lơ ̣i trên là cơ sở để các cấp
ủy đảng , chính quyề n tỉnh Bắ c Ninh triể n khai đa da ̣ng các biê ̣n pháp cho
công tác XĐGN. Tuy nhiên, bên cạnh đó, những điề u kiê ̣n tự nhiên và kinh tế xã hội của tỉnh Bắc Ninh vẫn còn có những khó khăn nhất định như hê ̣ số sử
dụng đất thấp, đấ t nông nghiê ̣p ngày càng bi ̣thu he ̣p, thiên tai… đặc biệt là sự
chênh lệch mức sống giữa các bộ phận dân cư. Đây là vấn đề đang đặt ra cho
sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh cũng như các cấp, các ngành có liên
quan để thực hiện hiệu quả công tác XĐGN. Nếu không giải quyết tốt những
vấ n đề này thì sẽ dẫn đế n hiê ̣n tươ ̣ng tái nghèo và khoảng cách giữa hô ̣ giàu
và hộ nghèo ngày càng xa khiến cho người nghèo khó hòa nhập được với xã.hội

Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo. Coi một bộ

18


phận dân cư giàu trước là cần thiết cho sự phát triển‟‟[31, tr.424]. Trong quá
trình đổi mới, Đảng xác định tăng trưởng kinh tế phải đồng thời tiến hành
công tác XĐGN, thực hiện công bằng xã hội, tránh tình trạng phân hóa giàu
nghèo vượt quá giới hạn cho phép. XĐGN chính là để góp phần giảm bớt
khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn- thành thị, miền núimiền xuôi và giữa các tầng lớp dân cư. Qua quá trình chỉ đạo và từ thực tiễn
phong trào XĐGN, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VII (6/1993) đã cụ thể hóa
thêm một bước chủ trương này: „„Phải trợ giúp người nghèo bằng cách cho
vay vốn, hướng dẫn cách làm ăn, hình thành quỹ xóa đói giảm nghèo ở từng
địa phương trên cơ sở dân giúp dân. Nhà nước giúp dân và tranh thủ các
nguồn tài trợ quốc tế, phấn đấu tăng hộ giàu đi đôi với xóa đói giảm
nghèo‟‟[24, tr.24]. Đây là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân nên đã
nhanh chóng đi vào đời sống. Năm 1992, phong trào bắt đầu từ thành phố Hồ
Chí Minh với tên gọi „„Chương trình phấn đấu thu hẹp và từng bước xóa hộ
nghèo đói‟‟ và chỉ sau một thời gian ngắn đã trở thành phong trào rộng khắp
trong cả nước với tên gọi quen thuộc là phong trào XĐGN. Từ thực tiễn
phong trào, đặc biệt từ Nghị quyết Trung ương 5 khóa VII (6/1993) đến nay,
XĐGN trở thành một cuộc vận động và là một chủ trương, quyết sách lớn của
Đảng và Nhà nước ta có ý nghĩa nhân văn cao cả.
Góp phần giải quyết khó khăn thực tế của một tỉnh chủ yếu sản xuất
nông nghiệp, kinh tế chậm phát triển, nhiệm vụ XĐGN là một vấn đề cấp
bách thời kỳ đổi mới, ngày 9/6/1993, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Bắc đã họp
bàn về nhiệm vụ “xóa đói, giảm nghèo”. Tiếp đó, Ủy ban nhân dân tỉnh có
Quyết định số 40-QĐ/UB về thành lập Ban Chỉ XĐGN do đồng chí Chủ tịch
UBND tỉnh làm Trưởng ban, quyết định lấy huyện Quế Võ làm điểm để rút
kinh nghiệm và chỉ đạo thực hiện ra toàn tỉnh.

cực…[23, tr.38]. Cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng được đầu tư, nâng cấp phục
vụ tốt cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, XĐGN. Công tác xây
dựng Đảng không ngừng đổi mới, hoạt động của hội đồng nhân dân , Ủy ban
nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và của các đoàn thể nhân dân có nhiều tiến bộ,

20


quyền dân chủ của nhân dân được phát huy, tạo sức mạnh tổng hợp đẩy nhanh
quá trình XĐGN trong thời kỳ mới.
Tuy nhiên công tác XĐGN giai đoạn này vẫn còn một số hạn chế hạn chế.
Một là, nhận thức về trách nhiệm đối với công tác XĐGN ở một số
ban ngành, địa phương, cơ sở chưa thực sự đầy đủ, còn thiếu chủ động
trong tổ chức thực hiện. Công tác cán bộ chưa được coi trọng đúng mức,
chưa bố trí được cán bộ có trình độ chuyên môn, năng lực và nhiệt tình tâm
huyết với công tác XĐGN.
Hai là, bản thân người nghèo còn ỷ lại vào sự trợ giúp của nhà nước như
trong thời kỳ bao cấp, chưa chủ động trong việc ý thức tự mình vươn lên thoát
nghèo, cải thiện đời sống vật chất của bản thân.
Ba là, nguồn vốn, hệ thống chính sách, cơ chế còn thiếu đồng bộ linh
hoạt, do đó, kết quả đạt được chưa cao và bền vững.
Trên cơ sở đường lối chung của Trung ương về công tác XĐG N, căn cứ
tình hình thực tế ở địa phương, Đảng bộ tỉnh Hà Bắc phải tiế p tu ̣c quán triê ̣t
hơn nữa tới các cấ p , ban, ngành trong tỉnh về tầm quan trọng của công tác
XĐGN đố i với sự phát triể n của tỉnh . Do đó , Đảng bô ̣ tỉnh phải có những chủ
trương, giải pháp phù hợp để đưa kinh tế Hà Bắc phát triển , từ đó ta ̣o cơ sở để
giải quyết tốt vấn đề XĐGN . Đồng thời, Ban chỉ đa ̣o XĐGN trong tin̉ h cũng
phải nhìn nhận rõ những mặt còn tồn tại của công tác XĐGN giai đoạn

này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status