Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Hồ Sỹ Thái
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh” đã và
đang là mục tiêu phấn đấu ngày ngày của đất nước chúng ta . Xóa đói giảm
nghèo luôn là cuộc cách mạng xã hội mang tính nhân văn sâu sắc, là môt
chiến lược lâu dài, một quyết sách, một chương trình hành động quan trọng.
Ngay từ khi đất nước ta giành được độc lập (1945) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
xác định: Giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm là ba thứ giặc nguy hiểm.
Trước tiên, phải diệt giặc đói sau đó diệt giặc dốt mới đánh thắng được giặc
ngoại xâm. Rõ ràng, muốn đất nước phát triển thì toàn dân phải xóa được đói
giảm được nghèo. Bởi dân có giàu thì nước mới mạnh.
Thực tế thấy rằng: nghèo đói ảnh hưởng rất nhiều đến hàng loạt những
yếu tố như: đời sống và thu nhập, bệnh tật, ô nhiểm môi trường, các tệ nạn xã
hội.v…v Chính vì thế, nghèo đói luôn là mối quan tâm, lo lắng của toàn xã
hội
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều cơ
chế, chính sách có hiệu quả trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Chẳng hạn
như: Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo, Chương trình 135, Chương
trình hành động Quốc gia vì trẻ em, Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng,
Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, Chiến lược Quốc gia về
cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn v v Nhờ đó mà đời sống của
nhân dân đang gặp khó khăn từng bước được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo có
phần thuyên giảm đáng kể. Tuy nhiên, cái nghèo vẩn còn đeo đẳng và nó trở
thành vấn đề rất phức tạp, đa dạng. Đặc biệt là ở vùng nông thôn, hầu hết đời
sống của nhân dân còn nghèo và thiếu thốn.
Nói đến cái nghèo ở nước ta là không thể không kể đến các tỉnh duyên
hải miền Trung, trong đó có tỉnh Quảng Bình là tỉnh được xếp vào một trong
SVTH: Trần Thị Hương 1 Lớp: LT CTXH K2012
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Hồ Sỹ Thái
các tỉnh nghèo của cả nước và thường xuyên chịu nhiều thiên tai.Với bối cảnh
kỳ đổi mới, nền kinh tế đất nước đã có sự tăng trưởng, phát triển đáng kể, đời
sống của đại bộ phận nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên ở các vùng
sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người và nông thôn vẫn còn một bộ phận dân cư
đang phải sống trong cảnh đói nghèo. Từ thực trạng đó nếu như công tác xóa
đói giảm nghèo không được triển khai, thực hiện bằng các chương trình xóa
đói giảm nghèo thì chúng ta đã vô tình đẩy một bộ phận người nghèo rơi
xuống tận cùng của xã hội làm cho bộ phận người nghèo họ không có cơ hội
tiếp cận, hưởng lợi và phát triển gây nên bất ổn chính trị, bất ổn xã hội.
Do đó, việc triển khai công tác xóa đói giảm nghèo được thực hiện
bằng các chính sách xóa đói giảm nghèo là phù hợp và cần thiết đối với thực
trạng đói nghèo hầu khắp các địa phương trong cả nước.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Các nghiên cứu xã hội về các vấn đề liên quan tới vấn đề nghèo đói đã
bắt đầu từ những năm của thế kỷ XX. Việt Nam đã có những cam kết mạnh
mẽ trong cuộc chiến giảm nghèo, bằng cách thực hiện các chương trình mục
tiêu ngay từ năm 1998, sau đó xấy dựng các chương trình đặc biệt, phù hợp
và đồng bộ với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở cấp quốc gia.
Tác giả Bùi Thị Tân trường đại học khoa học Huế đã có bài nghiên
cứu về “ Vấn đề nghèo đói và các khuynh hướng xóa đói giảm ngnhèo ở Việt
Nam”. Trong đó nghiên cứu vì sao phải thay đổi chuẩn nghèo qua các giai
đoạn, thực trạng nghèo đói hiện nay, các tiêu chí để đánh giá một xã nghèo,
nghiên cứu các chính sách hỗ trợ hộ nghèo, người nghèo có hiệu quả.
Tác giả Huỳnh Thị Trúc Giang trường đại học Quy Nhơn có bài nghiên
cứu về “ Thực trạng nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số huyện An Lão, tỉnh
Bình Định hiện nay, một số giải pháp khắc phục”. Bài nghiên cứu này thiên
về khía cạnh nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện An Lão, tỉnh Bình
Định.
SVTH: Trần Thị Hương 3 Lớp: LT CTXH K2012
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Hồ Sỹ Thái
Tác giả Lê Thị Minh Thùy lớp LTCTXHK2011 trường đại học khoa
mới… Từ đó, giúp cho việc nhìn nhận, theo dõi thực trạng nghèo đói một
cách tương đối chính xác và mang tính cấp thiết.
Nghiên cứu phương pháp luận xác định chuẩn nghèo ở Việt Nam bảo
đảm tính thực tiển cao và đảm bảo cơ sở khoa học. Chẳng hạn: phương pháp
phân loại hộ nghèo dựa trên thu nhập. Nghiên cứu các giải pháp xóa đói giảm
nghèo ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Nghiên cứu các giải pháp,
chính sách hổ trợ hộ nghèo, người nghèo có hiệu quả. Hàng loạt những câu
hỏi đăt ra trong quá trình nghiên cứu đó là: bằng giải pháp gì để mang lại hiệu
quả cao hơn? Những giải pháp hiện đang sử dụng có phù hợp hay không? Cần
đầu tư những khâu công việc nào hợp lý để giải quyết những khó khăn? Mức
độ hổ trợ như vậy đã đủ chưa? Phương thức hổ trợ và chính sách hổ trợ thực
sự hợp lý chưa?. Như vậy, nghiên cứu và giải quyết vấn đề nghèo đói là hết
sức phức tạp, đòi hỏi phải có sự hợp sức của nhiều ban ngành, tổ chức, cá
nhân, huy động nhiều nguồn lực, đảm bảo An sinh xã hội luôn bền vững. Góp
phần thực hiện công cuộc xóa đói giảm nghèo mang lại kết quả cao.
4. Phạm vi nghiên cứu
Địa bàn xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
5. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5.1 Khách thể nghiên cứu
Người nghèo tại xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
5.2 Đối tượng nghiên cứu
Tình hình thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo ở xã Võ Ninh, huyện
Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình hiện nay
6. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá hiệu quả của công tác xoá đói giảm nghèo của xã Võ Ninh,
huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình trong thời gian qua.
-Đưa ra một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả trong quá trình
SVTH: Trần Thị Hương 5 Lớp: LT CTXH K2012
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Hồ Sỹ Thái
thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo của xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh,
phương pháp quan sát để có thể thu thập thông tin một cách trực tiếp, cũng có
thể nắm bắt dược đặc điểm tâm lý, nhu cầu của người nghèo và thái độ của
cộng đồng nơi đây về công tác xóa đói giảm nghèo hiện nay trên địa bàn xã,
để có thể đưa ra những đánh giá một cách khách quan về công tác xóa đói
giảm nghèo ỡ xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình hiện nay.
7.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Trong đề tài này của tôi, đây là phương pháp được lựa chọn hàng đầu,
cần nghiên cứu các tài liệu liên quan đến vấn đề của người nghèo, trước hết là
các tài liệu về mặt lý luận để làm cơ sở tiến hành nghiên cứu một cách có hệ
thống. Việc nghiên cứu phân tích các tài liệu từ những con số định lượng
chúng ta có thể đưa ra những thông tin định tính cho phép tôi có thể chọn lọc
các thông tin hữu ích phục vụ cho đề tài, và thấy được nhiều vấn đề của đời
sống sinh hoạt người nghèo nơi đây. Từ đó tôi có thể tiến hành đưa ra
những đánh giá, nhận xét, đưa ra những giải pháp và kiến nghị đối với các
cấp, các cơ quan có liên quan giúp đỡ người nghèo có được cuộc sống ngày
càng tốt hơn, góp phần vào công tác xóa đói giảm nghèo nơi đây.
8. Cấu trúc của nội dung đề tài
Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề nghèo đói
Chương 2: Tình hình thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo tại xã Võ
Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình hiện nay.
Chương 3: Một số biện pháp về công tác xóa đói giảm nghèo cho xã
Võ Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
SVTH: Trần Thị Hương 7 Lớp: LT CTXH K2012
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Hồ Sỹ Thái
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI
1.1 Định nghĩa nghèo
Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng
với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo của các tiêu chuẩn này và các
nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời
ở Việt Nam như sau:
Hộ đói là những hộ có thu nhập bình quân đầu người một tháng quy đổi
ra gạo dưới 13kg (tương đương với 45000 đồng )
Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người một tháng quy đổi ra
gạo dưới 25kg (tương đương với 90000 đồng ). Ở thành thi dưới 20kg (tương
đương với 70000 đồng ), ở vùng đồng bằng và trung du dưới 15kg (tương
đương với 55000 đồng )
Đến năm 2006, Bộ lao động Thương binh và Xã hội lại điều chỉnh
chuẩn nghèo như sau:
Vùng nông thôn thu nhập 200.000 đồng / người / tháng hay 2400000
đồng / người / năm
Vùng thành thị thu nhập 260.000 đồng / người / tháng hay 3120000
đồng / người / năm
Một xã được coi là nghèo khi có tỷ lệ hộ nghèo từ 40% trở lên, không
có 1 trong 6 công trình cơ sở cơ bản như: điện, đường giao thông, trường học,
trạm y tế, chợ….
1.2 Vấn đề nghèo đói
1.2.1 Các quan điểm tiếp cận vấn đề nghèo đói
Theo cách tiếp cận hẹp:
Nghèo đói là một phạm trù chỉ mức sống của một một cộng đồng hay
một nhóm dân cư là thấp nhất so với mức sống của một cộng đồng hay một
SVTH: Trần Thị Hương 9 Lớp: LT CTXH K2012
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Hồ Sỹ Thái
nhóm dân cư khác.
Theo cách tiếp cận này về vấn đề nghèo đói chưa bao quát được tính
chất tuyệt đối của nghèo đói nghĩa là mới chỉ đánh giá theo tiêu chuẩn nghèo
đói tương đối mà trên thực tế thì lúc nào trong xã hội hiện đại cũng tồn tại
nghèo đói. Nếu đứng trên phương diện so sánh mức sống, mức thu nhập của
dân cư thì lúc nào cũng có một nhóm dân cư đứng thấp nhất, nhóm đứng cao
nhất và nhóm đứng trung bình. Đó là nghèo tương đối của từng nhóm dân cư.
giao lưu buôn bán trao đổi hàng hóa và nhờ vào được hướng các dự án kinh
tế, văn hóa, xã hội.Nhưng nhóm này tỏ ra kém năng động hơn nhóm thứ nhất
và cũng dễ bị đẩy xuống diện đói nghèo nếu các chương trình, dự án trên địa
bàn kết thúc. Chúng ta thường gọi đó là nhóm thiếu bền vững.
Nhóm thứ 3: Đây là nhóm chiếm đa số những người không hoặc rất ít
khả năng tham gia vào các hoạt động của nền kinh tế thị trường đang ngày
càng phát triển. Họ chỉ biết trông chờ vào ruộng nương để hy vọng có lương
thực khá lớn, thậm chí ngay cả trong điều kiện thuận lợi về giao thông, chợ,
tín dụng ưu đãi mà họ vẫn không dám nghĩ ra hoặc không dám mạnh dạn tìm
cơ hội thay đổi cuộc sống.
1.3 Chuẩn nghèo trên thế giới
Chuẩn nghèo của thế giới hiện nay là thu nhập bình quân 1,25
USD/người/ngày (tương đương 600000đồng/người/tháng).Chuẩn nghèo của
Châu Á là 1,35 USD/người/ngày (650000đồng/người/tháng). Theo tính toán
của ngân hàng thế giới hiện có trên 1,4 tỷ người (hơn 20% dân số thế giới )
sống ở mức nghèo khổ.
Theo số liệu của ngân hàng thế giới thì trong năm 2001 trên toàn thế
giới có 1,1 tỷ người (tương ứng 21% dân số thế giới) ít hơn 1 đôla Mỹ tính
theo sức mua địa phương và vì thế được xem là rất nghèo.
Điển hình nạn nghèo tại một số nước:
Ở Áo theo số liệu của Bộ xã hội thì trong năm 2003 có hơn 1 triệu
SVTH: Trần Thị Hương 11 Lớp: LT CTXH K2012
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Hồ Sỹ Thái
người Áo (13,2% dân cư) có nguy cơ nghèo.
Ở Đức theo số liệu từ (báo cáo giàu nghèo) do Chính phủ Liên bang
đưa ra trong tháng 3 năm 2005 thì có 13,5% dân số nghèo.
Ở Mỹ theo số liệu báo cáo từ cục điều tra dân số tháng 8 năm 2005 có
12,7% dân số hoặc 37 triệu người nghèo.
1.4 Chuẩn nghèo tại Việt Nam
Đối với Việt Nam, Chính phủ đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo trong
giảm nghèo
Thời kỳ đổi mới 1975 – 1986, do hoàn cảnh chiến tranh và khắc phục
hậu quả sau chiến tranh đồng thời do chủ quan nóng vội trong việc đề ra
đường lối xây dựng và phát triển kinh tế. Mặt khác, ảnh hưởng của chế độ bao
cấp, nền kinh tế đất nước lúc này gặpnhiều khó khăn. Vì vậy,Đảng và Nhà
nước giải quyết đói nghèo cho nhân dân dân chủ yếu là cứu tế, chưa giải
quyết tận gốc những nguyên nhân cơ bản nên tình trạng đói nghèo vẫn tồn tại
triền miên. Mặc dù cố gắng rất nhiều nhưng hộ đói nghèo vẫn còn nhiều.
Từ thực trạng đó thì chính sách đói nghèo là tổng thể các quan điểm, tư
tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các
chủ thể kinh tế nhằm giải quyết vấn đề nghèo đói, thực hiện mục tiêu xóa đói
giảm nghèo để từ đó xây dựng một xã hội vững mạnh.
Nghị định 67/2007/NĐ – CP về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo
trợ xã hội (Nghị định 67 quy định 9 đối tượng được hưởng bảo trợ xã hội thì
có tới 7 đối tượng chỉ được hưởng chính sách này với điều kiện thuộc diện hộ
nghèo. Do vậy nhiều người đang được hưởng chế độ bảo trợ xã hội trước đây
không trong diện nghèo bị bắt diện nghèo. Trong khi đó với mức chuẩn quá
thấp 200.000đ/người/tháng ở khu vực nông thôn, nhiều hộ thực sự khó khăn
nhưng nếu thu nhập cả gia đình hơn chuẩn này dù chỉ 20 – 30 nghìn đồng vẫn
không được xếp vào diện nghèo.
Nghị định 13 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị đinh
SVTH: Trần Thị Hương 13 Lớp: LT CTXH K2012
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Hồ Sỹ Thái
67/2007/NĐ =- CP về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội. Cụ
thể về sửa đổi một số điều trong Nghị định 67 về mức trợ cấp đối với đối
tượng bảo trợ xã hội tại cộng đồng do phường, xã quản lý.
Chương trình xóa đói giảm nghèo 134,135 của Chính phủ.
Các chính sách đối với người nghèo:
1.Chính sách về y tế: Trợ giúp người nghèo trong việc chăm sóc sức
khỏe ban đầu, miễn giảm phí khám chữa bệnh bằng các hình thức như mua
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Hồ Sỹ Thái
Chương 2 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC
XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI XÃ VÕ NINH, HUYỆN QUẢNG NINH,
TỈNH QUẢNG BÌNH HIỆN NAY
1.Tổng quan về địa bàn xã Võ Ninh,huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
hiện nay
1.1 Điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Dọc theo đường Quốc Lộ 1A qua Quán Hàu trung tâm huyện lỵ Quảng
Ninh, là xã Võ Ninh.
Xã Võ Ninh có diện tích tự nhiên 21,66km
2
(kể cả vùng Ông Đồng).
Trong đó đất nông nghiệp 502ha (có 400ha lúa 2 vụ), 37ha đất thổ cư,10 ha
đất xây dựng, 220ha đất ao, hồ, đầm mặt nước và 1.366ha đất nông nghiệp
trên cát.
Bắc giáp Bảo Ninh, Lương Ninh, thị trấn Quán Hàu và Vĩnh Ninh.
Nam giáp Gia Ninh
Đông giáp Hải Ninh
Tây giáp Hàm Ninh, Duy Ninh
1.1.2 Khí hậu
Võ Ninh nằm vào vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa. Thời tiết có hai mùa
rõ rệt. Mùa khô từ tháng 4 dương lịch đến tháng 9. Mùa mưa từ tháng 10 đến
tháng 3. Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 29-30
0
C, tháng thấp nhất 18-
19
0
C. Có lúc nhiệt độ lên đến 39
Ly, đến thôn Hà đến Hữu Thiệp lại quặt thẳng hướng Bắc. Giữa dòng sông
nổi lên hai cồn. Cồn Võ xá là cồn nổi, phía trên. Cồn Văn La là cồn rạn đá
ong, phía dưới.
1.1.4 Dân cư
Xã Võ Ninh đến năm 2000 có 8.273 người, 1800 hộ, cư trú trong cộng
đồng 7 thôn: thôn Hà Thiệp, thôn Tây, thôn Trung, thôn Tiền, thôn Thượng,
thôn Trúc Ly, thôn Hữu Hậu.
Lịch sử hình thành dân cư Võ Ninh trải qua nhiều thời kỳ và quần tụ
ngày càng đông đúc, đa dạng về họ tộc, về quá trình nhập cư trong cộng đồng
SVTH: Trần Thị Hương 17 Lớp: LT CTXH K2012
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Hồ Sỹ Thái
thống nhất góp phần hun đúc truyền thống yêu nước, cách mạng, truyền
thống kiên cường, dũng cảm, thông minh, sáng tạo, chịu thương, chịu khó.
Năm 1470, cai đội Võ Thắng và ông họ Lê trong đoàn vua Lê Thánh
Tông nam chinh đã định cư ở vùng đất Võ Xá sinh cơ lập nghiệp và mở đầu
cho sự hình thành cư dân để lập làng Võ xá.
Thời kỳ chiến tranh Trinh – Nguyễn, Võ Xá là quân doanh Đạo Lưu
Đồn. Trung tâm chỉ huy đóng quân ở Tráng Tiệp. Các cơ đội quân được bố trí
trên toàn tuyến phòng thủ từ lũy Động Hồi đến lũy Trường Sa.
Năm 1672, cuộc chiến quyết liệt giữa hai tập đoàn Trịnh- Nguyễn đã
kết thúc, sông Gianh đã trở thành ranh giới Đàng Ngoài và Đàng Trong. Đạo
Lưu Đồn vẫn duy trì với vai trò Chưởng Dinh của Nguyễn Hữu Dật, Tám họ
Lê, Nguyễn, Hoàng, Phạm, Trương, Trần, Cao, Phan nối tiếp định canh định
cư, Tám phường hình thành là phường Thượng, phường Ba Dãy, phường
Tiến, Phường Trung, Phường Tây, phường Hạ, phường Hà De, phường Hiệu.
Phường Ba Dãy sau nhập phường Thượng thành thôn Thượng. Phường Hà De
nhập với phường Hạ thành thôn Hà. Năm 1705, dựng đình Võ Xá trên đất
phường Tây giáp phường Trung(nay ở hội trường UBND xã)
1.1.5 Văn hóa
1.1.5.1 Phong tục tập quán tế lễ, hội hè, cưới hỏi, ma chay
tư, chày vồ, chày tay. Trong môi trường diễn xướng theo động tác lao động
những lời ca đối đáp ra đời. Nhịp chày giã gạo cầm canh cho nhịp hò khoan
đối đáp.Có khi vì say sưa giã gạo người ta đưa trấu về giã thâu đêm.
Sinh hoạt văn hóa dân gian còn có các trò chơi đu, bơi lội, ném cù,
đánh đáo, đánh khăng, đánh chuyền, đánh bi, thổi cút cút, chọi rế rế, thả diều,
đi cầu về quán, đánh giặc chỉ, u mọi, bịt mắt bắt dê, cướp cờ, đi khà kheo
Từ trong sinh hoạt dân gian đó, đạo lý sống đẹp, sống cao thượng dần
dần vun đắp nên phẩm chất con người Võ Ninh.
Dân trí nâng cao, nhân lực được đào tạo ngày càng cao, nhân tài đang
SVTH: Trần Thị Hương 19 Lớp: LT CTXH K2012
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Hồ Sỹ Thái
được bồi đắp, đó là nguồn lực mới để Võ Ninh bước vào thời kỳ mới, thời kỳ
cùng cả nước bước vào công nghiệp hóa hiện đại hóa.
1.1.6 Kinh tế
- Từ khi bước vào công cuộc đổi mới kinh tế đến nay, nền kinh tế - xã
hội của huyện đã có bước tăng trưởng kinh tế đáng kể, xã đã tập trung huy
động nhiều nguồn lực để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống
giao thông, thủy lợi và mạng lưới phục vụ sản xuất sinh hoạt.
Xã Võ Ninh nằm phía Nam của huyện Quảng Ninh có diện tích đất tự
nhiên là 2.172,86ha. Thu nhập kinh tế hàng năm chủ yếu dựa vào diện tích đất
nông nghiệp cây lúa và hoa màu ngắn ngày, sản xuất còn phụ thuộc vào thời
tiết, điều kiện đất đai.
Có nhiều ngành nghề truyền thống. Chẳng hạn như Võ Xá có ngề thợ
nề, Trúc Ly có nghề chạm trỗ nổi tiếng tinh xảo. Trước cách mạng tháng
Tám, các nơi trong phủ, trong tỉnh xây dựng đền thờ, miếu vũ, đình chùa đều
thường tìm rước thợ nề Võ Xá, thợ chạm Trúc Ly.
Rượu Võ Xá, một đặc sản nổi tiếng với kỹ thuật ủ men, kỹ thuật chưng
cất và nước Võ Xá trong mát nên rượu Võ Xá trong vắt, thơm nồng, có vị ngọt,
cay.
Võ Xá từ lâu đời đã nổi tiếng là làng nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Hồ Sỹ Thái
1.1.7.2 Tổ chức bộ máy UBND xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh
Quảng Bình hiện nay SVTH: Trần Thị Hương 22 Lớp: LT CTXH K2012
Bí thư Đảng ủy
Chủ tịch Hội đồng nhân dân
Phó Chủ tịch Hội đồng
nhân dân
Chủ tịch
Phó chủ tịch UBND
phụ trách kinh tế
Phó chủ tịch UBND
phụ trách văn hóa xã hội
Công
an
Xã đội
Văn
hóa
xã
hội
Văn
phòng
Tư
pháp
hộ
2.2 Y tế
Quan niệm y tế và giáo dục thuộc phạm trù dịch vụ xã hội là quan niệm
của chuẩn mực và giá trị hiện đại. Khuôn mẫu truyền thống, đặc biệt là cổ
truyền được bắt đầu từ giáo dục. Mỗi nhà tự lo giáo dục con cái và cũng tự
lo chăm sóc sức khỏe. Nhiều bài thuốc gia truyền không lan tỏa thàh dịch vụ
cộng đồng,chưa nói đến mức độ rộng lớn như vùng miền, quốc gia…dịch vụ
y tế cộng đồng, sự chăm sóc sức khỏe cộng đồng là khuôn mẫu mỡ rộng y tế.
Ngày nay ở các vùng nông thôn trong cả nước nói chung cũng như xã
Võ Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình nói riêng vẫn tồn tại những
ông thầy lang,bà đỡ vườn…đó là các nhân vật chuyên môn hóa chức năng y
tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng làng xã.
SVTH: Trần Thị Hương 23 Lớp: LT CTXH K2012
Báo cáo tốt nghiệp GVHD: Hồ Sỹ Thái
Dịch vụ xã hội thưc sự bắt đầu khi hình thành các trung tâm y tế: các
trạm xá xã và các bệnh viện huyện, phòng y tế huyện. Đó là hệ thống y tế Nhà
nước tại các địa phương. Trong cơ chế thị trường xuất hiện thêm y tế tư nhân
sự liên kết giữa Nhà nước và tư nhân tạo thành nhưng trung tâm tư nhân hóa
hoặc quốc doanh hóa. Có nhiều chỉ báo so sánh các khuôn mẫu truyền thống
và hiện đại. Trước hết là về cơ cấu tổ chức, y tế truyền thống thông thường là
phi chính thức, hoạt động không có kế hoạch, không có chế độ lương
bổng….trái lại, y tế hiện đại có thể chính thức , cán bộ chuyên trách ăn lương
, hoạt động có kế hoạch rõ ràng. Cơ sở vật chất kỷ thuật khác nhau cũng rất rõ
nét, y tế hiện đại có nhà xây kiên cố, giường bệnh, trang thiết bị phòng, chửa
bệnh được cơ khí hóa, tinh vi, chính xác: Y tế truyền thống không có các cơ
sở vật chất- kỷ thuật chuyên dụng cao cấp. Trình độ chuyên môn khác hẳn
thầy lang, bà đỡ vườn…hoạt động dựa vào kinh nghiệm gia truyền và kinh
nghiệm tự có, bác sĩ, y sĩ, y tá ngày nay được đào tạo chuyên nghiệp theo tiêu
chuẩn quốc gia và quốc tế.
Thành tích tăng tuổi thọ, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh khắc phục các
bệnh phổ biến như lao, sốt rét…chứng tỏ y tế hiện đaị có hiệu quả hơn hẳn so
đồng; các đơn vị tài trợ 1.057.700 triệu đồng.
Xóa nhà mái tranh cho hộ nghèo và chương trình hỗ trợ nhà ở theo
quyết định 167/CP qua hàng năm bình quân mỗi năm 9 hộ, đến năm 2013
toàn xã xóa mái tranh cho 65 hộ với trị giá 1.105.000 đồng trong đó vốn
Chính phủ, UBMT các cấp hỗ trợ và nhân dân trong toàn thôn đóng góp ngày
công.
2.4 Hỗ trợ vốn
Chương trình vay vốn xóa đói giảm nghèo tổng số hộ được được
vay1.076 hộ. Tổng số vốn vay trên địa bàn toàn xã đến nay là 22.223.000.000
đồng, trong đó:
SVTH: Trần Thị Hương 25 Lớp: LT CTXH K2012