công tác xóa đói giảm nghèo ở xã mỹ yên huyện đại từ, tỉnh thái nguyên - Pdf 25

LỜI CẢM ƠN
Qua chuyến đi thực tế đầy thú vị và bổ ích trong vòng sáu ngày tại xã Mỹ
Yên huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên, lớp Cử nhân Khoa học Quản lý K8 chúng
tôi đã có cơ hội vận dụng những kiến thức đã được học ở Nhà trường vào trong
thực tế chuyến đi của mình, có được sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. Đồng
thời giúp chúng tôi học hỏi và lĩnh hội thêm nhiều kiến thức về các lĩnh vực kinh
tế - chính trị - văn hóa – xã hội của xã Mỹ Yên để từ đó thấy được đời sống vật
chất, tinh thần của người dân nơi đây và cả những mong muốn mà người dân
muốn gửi gắm tới Đảng và nhà nước, tới lãnh đạo chính quyền địa phương và tới
cả chúng tôi nữa – những chủ nhân, Nhà Quản lí tương lai của đất nước. Họ hy
vọng rằng những đóng góp nhỏ của chúng tôi trong đề tài nghiên cứu sẽ phần nào
giúp đỡ được bà con nhân dân trong xã dù nó mới chỉ là trên lí thuyết.
Cũng thông qua chuyến đi này đã giúp cho các thành viên trong lớp từ chỗ
chưa biết tên nhau trở thành những người bạn tốt của nhau, gắn bó và đoàn kết.
Chúng tôi cũng đã học được cách làm việc với một tập thể, với cán bộ xã và cả
những người dân nữa. Đây quả thực là một môi trường rèn luyện rất tốt cho chúng
tôi, là điều kiện giúp cho chúng tôi tự hoàn thiện bản thân mình.
Để có được những kết quả thành công như trên đó chính là nhờ vào sự giúp
đỡ tận tình của các thầy cô giáo cũng như các cấp chính quyền và nhân dân xã Mỹ
Yên. Vì vậy, trước tiên chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu
trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên cùng các thầy cô trong Khoa
Văn – Xã hội đã tạo điều kiện và giúp đỡ chúng em có được chuyến đi thực tế này.
Chúng em xin gửi tới cô Nguyễn Thị Linh – giảng viên khoa Văn–Xã hội
lời cảm ơn chân thành nhất. Cảm ơn cô đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn chúng
em trong suốt quá trình đi thực tế và viết báo cáo thu hoạch để nhóm hoàn thành
đề tài.
Cuối cùng, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cấp lãnh đạo và
toàn thể bà con nhân dân xã Mỹ Yên đã luôn luôn sát cánh, giúp đỡ chúng em
trong suốt quá trình hực hiện đề tài tại địa phương.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 09 năm 2011

2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
2.2.Tình hình thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo tại xã Mỹ Yên, huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên
2.2.1.Tình trạng đói nghèo tại xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
2.2.2. Một số chính sách, chương trình hỗ trợ xóa đói giảm nghèo đã và đang
được thực hiện tại xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
2.2.3 kết quả thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo ở xã Mỹ Yên giai đoạn 2008
– 2010
2.2.4. Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong quá trình thực hiện công
tác xóa đói giảm nghèo
2.2.4.1. Một số hạn chế
2.2.4.2. Nguyên nhân của hạn chế
Chương 3: Một số khuyến nghị và giải pháp
3.1. Khuyến nghị
3.1.1. Đối với chính quyền xã
3.1.2. Đối với hộ nghèo đói
3.2. Đề xuất một số giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo
3.2.1. Tạo điều kiện cho người nghèo phát tiển sản xuất – tăng thu nhập
3.2.2. Tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ
3.2.3. Đối với lãnh đạo chính quyền ở địa phương
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đói nghèo là một vấn đề mang tính toàn cầu, là sự quan tâm hàng đầu của
mọi quốc gia và mọi nền kinh tế. Khi xã hội càng phát triển thì sự tồn tại của một
bộ phận lớn những người nghèo lại làm cho khoảng cách giữa người giầu và người
nghèo trở nên lớn hơn và khi đó người nghèo lại càng khó tiếp cận được với các
dịch vụ của xã hội. Có thể khẳng định chắc chắn rằng, nghèo đói chính là một rào
cản lớn thực hiện tiến bộ xã hội, là nguyên nhân của tình trạng thất học, dịch bệnh,
ô nhiễm môi trường, sự ra tăng các loại tệ nạn xã hội và mất ổn định anh ninh

huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu
Đảng và nhà nước ta đã nhận thấy tầm quan trọng của công cuộc xoá đói
giảm nghèo, nên ngay trong phiên họp đầu tiên khi mới thành lập nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa (tháng 1/1946), Hồ Chủ Tịch đã khẳng định một trong những
nhiệm vụ tiên quyết lúc này là cần chống lại giặc đói. Những đại hội Đảng sau đó,
đặc biệt là từ Đại hội VI đến Đại hội X, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản, nghị
quyết đề cập tới vấn đề xóa đói giảm nghèo tiêu biểu như NQ 30A/2008/NQ-CP
về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo,
được Chính Phủ ban hành ngày 21 tháng 5 năm 2002. Đại hội XI của Đảng, tiếp
tục nhấn mạnh phải “ Tập trung triển khai có hiệu quả Chương trình xóa đói,
giảm nghèo, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn”.
Công tác xoá đói giảm nghèo ở nước ta cũng nhận được sự quan tâm của
đông đảo cộng đồng giới các nhà khoa học. Tiêu biểu như:
Tác giả Nguyễn Thị Hằng với “Vấn đề xoá đói giảm nghèo ở nông thôn
nước ta hiện nay”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1997.
Vũ Thị Ngọc Phùng với “Vấn đề tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và
vấn đề xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam”. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội,
1993.
Hoàng Văn Bẩy với đề tài “Tìm hiểu chính sách xoá đói giảm nghèo tại
tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2000 – 2002” Niên khoá 1998 – 2002, Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn.
Ngoài ra, còn khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề xoá đói giảm
nghèo, song hầu hết những đề tài này tiếp cận vấn đề xoá đói giảm nghèo ở tầm vĩ
mô mà chưa đi vào nghiên ở từng địa bàn nhỏ, cụ thể, đặc biệt cho đến nay chưa
có công trình nghiên cứu nào đề cập tới vấn đề xoá đói giảm nghèo ở xã Mỹ Yên,
huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, nên đề tài “Công tác xóa đói giảm nghèo tại xã
Mỹ Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” mà chúng tôi lựa chọn hoàn toàn mang
tính mới.
3. Đối tượng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

phỏng vấn sâu trong qúa trình nghiên cứu.
- Về phía cán bộ xã, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn các đồng chí:
+ Đồng chí Chu Thị Nhì – Chủ tịch Ủy Ban nhân dân xã Mỹ Yên.
+ Đồng chí Nguyễn Quang Khê – Phó Chủ tịch ủy Ban nhân dân xã Mỹ
Yên, đồng thời là trưởng ban xóa đói giảm nghèo.
+ Đồng chí Nguyễn Thị Khoa – Cán bộ phòng chính sách xã hội.
+ Các đồng chí là Hội trưởng Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến
binh.
- Ngoài ra, chúng tôi còn tiến hành phỏng vấn đối với 30 hộ thuộc diện gia
đình nghèo ở 4 thôn trong xã.
5.2. Phương pháp quan sát
Trong quá trình thực hiện phương pháp phỏng vấn sâu, được tiếp xúc với
các hộ gia đình thuộc diện nghèo trên địa bàn xã, chúng tôi đã hiểu được phần nào
sự nghèo khó và nguyện vọng của người dân nơi đây. Đặc biệt, để có thêm tư liệu
phục vụ cho nội dung của báo cáo, chúng tôi đã tìm đến xóm Thuận Yên, một xóm
xa nhất và nghèo nhất của xã Mỹ Yên (21/30 hộ nghèo) để điều tra, nghiên cứu.
5.3. Phương pháp phân tích tài liệu
- Bên cạnh phương pháp quan sát và phỏng vấn sâu, nhóm chúng tôi còn sử
dụng phương pháp phân tích tài liệu trong quá trình nghiên cứu. Sử dụng phương
pháp này, chúng tôi đã tiến hành phân tích, thống kê những tài liệu đã thu thập
được tại địa bàn nghiên cứu như: báo cáo tổng kết, danh sách thống kê hộ nghèo,
cận nghèo, danh sách hộ nghèo được vay vốn…)
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Việc tìm hiểu về “Công tác xóa đói giảm nghèo ở xã Mỹ Yên, huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên” đã góp phần làm sáng tỏ và hệ thống hoá một số khái niệm
liên quan đến vấn đề xoá đói giảm nghèo như nghèo, đói, đói nghèo, chuẩn nghèo,
chính sách xóa đói giảm nghèo ở nước ta. Đồng thời, làm rõ những quan điểm của
Đảng và nhà nước ta về vấn đề xóa đói giảm nghèo.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn

ủng hộ người nghèo như đấu giá từ thiện vì người nghèo, nhắn tin ủng hộ người
nghèo, thành lập quỹ vì người nghèo… Trên bình diện lý luận, quan điểm và khái
niệm về nghèo đói cũng nhận được sự quan tâm của cộng đồng các quốc gia và
giới khoa học. Ở những quốc gia và nền kinh tế khác nhau thì quan niệm về nghèo
đói cũng có sự khác biệt, điều này tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế và trình độ phát
triển của những xã hội đặc thù.
* Khái niệm nghèo, đói.
- Theo Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
(ESCAP): Nghèo đói là trạng thái một bộ phận dân cư không được hưởng và thão
mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội
thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa
phương.
- Khái niệm nghèo đói có thể chia thành hai loại: nghèo tuyệt đối và nghèo
tương đối.
+ Nghèo tuyệt đối là sự không thoã mãn những nhu cầu tối thiểu của con
người để duy trì cuộc sống như: cơm ăn không đủ no, áo không đủ mặc, nhà cửa
không bảo đảm chống được mưa nắng, thiên tai bão lũ không so sánh với ai khác
nhưng bản thân họ không đủ lượng calo cần thiết để duy trì cuộc sống.
+ Nghèo tương đối là sự thõa mãn chưa đầy đủ nhu cầu cuộc sống của con
người như: cơm ăn chưa ngon, quần áo chưa mặc đẹp, nhà ở chưa khang trang
hay nói cách khác là có sự so sánh về thoã mãn các nhu cầu cuộc sống giữa người
này với người khác, vùng này với vùng khác.
- Ở Việt Nam, Nghèo được hiểu là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả
năng thõa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang
bằng với mức sống tối thiểu của cộng động xét trên mọi phương diện (Nguồn
Chính phủ.vn)
- Theo Chương trình Quốc gia Xoá đói giảm nghèo và phương hướng từ năm
2006-2010 của Thủ tướng Chính phủ, đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo
có mức sống dưới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc
sống.

theo chuẩn nâng lên.
* Khái niệm “hộ cận nghèo”
- Hộ cận nghèo: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người gần ngưỡng đói
nghèo.
- Ngày 21/9/2010 Thủ tướng ban hành Quyết định số 1752/CT – TTg chuẩn
hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015. Hộ cận nghèo ở nông
thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 – 510.000 đồng/người/tháng. Hộ
cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 510.000 – 650.000
đồng/người/tháng. Mức quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách an
sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác. Quyết định có hiệu lực thi hành từ
ngày 1/1/ 2011.
* Khái niệm “hộ vượt nghèo”
- Hộ vượt nghèo hay hộ thoát nghèo: Là những hộ mà sau một quá trình thực
hiện chương trình xoá đói giảm nghèo cuộc sống đã khá lên và mức thu nhập đã ở
trên chuẩn mực nghèo đói. Hiện nay, ở một số địa phương có sử dụng khái niệm
hộ thoát (hoặc vượt) đói và hộ thoát nghèo. Hộ thoát nghèo đương nhiên không
còn là hộ đói nghèo nữa. Trong khi đó, hộ thoát nghèo đói có thể đồng thời thoát
hẳn nghèo (ở trên chuẩn nghèo), nhưng đa số trường hợp thoát đói (rất nghèo)
nhưng vẫn ở trong tình trạng nghèo.
- Số hộ nghèo giảm hay tăng trong một khoảng thời gian: Là hiệu số giữa tổng
số hộ nghèo ở thời điểm đầu và cuối. Như vậy, giảm số hộ đói nghèo khác với
khái niệm số hộ vượt nghèo và thoát nghèo. Số hộ thoát nghèo là số hộ ở đầu kỳ
nhưng đến cuối kỳ vượt ra khỏi ngưỡng nghèo. Trong khi đó, số hộ nghèo giảm đi
trong kỳ chỉ phản ánh đơn thuần chênh lệch về mặt số lượng hộ nghèo, chưa phản
ánh thật chính xác kết quả của việc thực hiện chương trình.
* Khái niệm “xã nghèo”
- Xã nghèo: Theo Quyết định số 587/2002/QĐ-LĐTBXH ngày 22/05/2002 của
Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc ban hành tiêu chí xã
nghèo giai đoạn 2001-2005. Quy định xã nghèo là xã có
+ Tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên.

nghèo
* Quan điểm
1. Xoá đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và nhà nước và là sự nghiệp
của toàn dân. Phải huy động nguồn lực của nhà nước, xã hội và của người dân để
khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng địa phương.
2. Công cuộc giảm nghèo nhanh đối với các huyện nghèo là nhiệm vụ chính trị
trọng tâm hàng đầu, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng và sự phối hợp tích
cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
3. Trung ương tập trung huy động các nguồn lực để đầu tư, hỗ trợ giảm nghèo
nhanh và bền vững.
* Mục tiêu
Với quan điểm như trên, Đảng và nhà nước ta đã xác định mục tiêu tổng thể
cho chương trình xóa đói giảm nghèo như sau:
- Đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhóm
hộ nghèo, hạn chế khoảng cách chênh lệch giàu nghèo.
- Để tiếp tục thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng cao và bền vững, thực hiện
có hiệu quả chính sách xóa đói giảm nghèo, trong giai đoạn 2006 – 2010, Chính
phủ Việt Nam đã xây dựng nhiều chương trình, chính sách như:
+ Nhóm chính sách, chương trình dự án tạo điều kiện cho người nghèo
phát triển sản xuất, tăng thu nhập: Chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ đất sản xuất
cho hộ nghèo; Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triển ngành nghề.
+ Nhóm chính sách tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội:
Chính sách hỗ trợ về y tế, giáo dục , trợ giúp pháp lý cho người nghèo.
+ Nhóm dự án nâng cao năng lực và nhận thức.
Trên đây là quan điểm và mục tiêu của Đảng và nhà nước ta trong việc thực
hiện chính sách xóa đói giảm nghèo. Những quan điểm này đóng vai trò là kim chỉ
nam cho việc thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo trên phạm vi cả nước
trong thời gian tới.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI XÃ MỸ YÊN

vệ sinh là 981 hộ, chiếm 67% số hộ toàn xã. Tuy nhiên, về mùa khô, nguồn nước
ít, không đủ phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt.
Khí hậu: Cùng với đặc điểm về địa hình, những đặc điểm về khí hậu cũng
ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống và sinh hoạt của cư dân trong vùng. Khí hậu
nhiệt đới ẩm gió mùa, tương đối thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp lâu năm
(chè và một số loại cây ăn quả như nhãn, hồng, na ). Tuy nhiên, về mùa đông
nhiệt độ xuống thấp và kéo dài, xuất hiện sương muối, gây hại cho sản xuất nông
nghiệp và đàn gia súc. Về mùa hạ, mưa nhiều, tập trung và độ ẩm không khí cao,
tạo thuận lợi cho trồng lúa, song khí hậu ẩm ướt lại là điều kiện thuận lợi cho sâu
bọ nảy nở.
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Dân cư và nguồn lao động: Xã Mỹ Yên gồm có 25 thôn với 1431 hộ, tổng
số nhân khẩu hiện nay là 5314 người, trong đó có 63,8% số người trong độ tuổi
lao động. Trong tổng số 1431 hộ, có 80 hộ là người dân tộc thiểu số, chiếm 5,47%.
Trên địa bàn xã hiện có 5 dân tộc anh em cùng chung sống là Kinh, Tày, Dao,
Nùng, Thái. Điều đó, đã tạo nên một bức tranh văn hoá đa dạng, muôn màu, muôn
vẻ nhưng cũng gây khó khăn không nhỏ trong việc quản lý và phổ biến chủ
trương, chính sách của Đảng và nhà nước tới người dân, đặc biệt là những hộ gia
đình thuộc dân tộc thiểu số.
Mỹ Yên là một xã nghèo của huyện Đại Từ. Theo số liệu thống kê, năm
2008 số hộ nghèo là 342 hộ ( chiếm 25,92% ) trong 1319 hộ , năm 2009 số hộ
nghèo là 206 trong tổng số 1412 hộ dân của toàn xã ( chiếm 14,59% ). Đến năm
2010, số hộ nghèo tăng lên là 385/1431 hộ, chiếm 26,90% (do quy định mới về
chuẩn nghèo của thủ tướng Chính Phủ, thu nhập bình quân\người\tháng là 400.000
đồng). Cho tới nay, nhìn chung, cuộc sống của người dân nơi đây đã được cải
thiện, nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn.
Về nông nghiệp: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp trong xã chủ yếu được
trồng lúa với 280 ha (chiếm 8,24% diện tích tự nhiên của xã), diện tích trồng chè
là 130 ha (chiếm 3,82% diện tích tự nhiên của xã), diện tích trồng ngô là 35 ha
(chiếm 1,02% diện tích tự nhiên của xã). Ngoài ra, người dân nơi đây còn chăn

địa phương trong cả nước, trạm y tế xã Mỹ Yên còn thiếu thốn về thuốc men, cơ
sở vật chất và đội ngũ y bác sĩ nên đã hạn chế phần nào nhu cầu khám chữa bệnh
của người dân.
Như vậy, bên cạnh những mặt thuận lợi, điều kiện tự nhiên và điều kiện
kinh tế xã hội của xã Mỹ Yên cũng mang lại một số khó khăn trong phát triển kinh
tế, đặc biệt là nông lâm nghiệp. Vì vậy, đòi hỏi chính quyền và nhân dân trong xã
phải có những biện pháp thiết thực để phát triển kinh tế nông nghiệp, thủ công
nghiệp…phát huy thuận lợi và khắc phục những khó khăn đó.
2.2.Tình hình thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo tại xã Mỹ Yên, huyện
Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
2.2.1.Tình trạng đói nghèo tại xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
* Tỉ lệ hộ nghèo và cận nghèo
- Theo kết quả điều tra năm 2008, tỉ lệ hộ nghèo và cận nghèo trên địa bàn
xã Mỹ Yên được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 1: Tỉ lệ số hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn xã Mỹ Yên năm 2010
TT Tên xóm Tổng số hộ rà
soát (hộ)
Tổng số hộ
nghèo qua phiếu
điều tra sơ bộ
(hộ)
Tỉ lệ hộ nghèo
sơ bộ (%)
Ghi chú
1 Kỳ Linh Ngoài 60 27 45
2 Kỳ Linh Trong 39 9 23,08
3 Đồng Khâm 67 13 19,40
4 Xóm Cao 43 12 27,91
5 Xóm Chùa 50 18 36
6 La Yến 60 12 20

22 Việt Yên 38 26 68,42

23 Bắc Hà 1 33 3 9,09

24 Bắc Hà 2 30 6 20

25 Bắc Hà 3 25 10 40

Tổng cộng 1319 342 25,92
(Nguồn UBND xã Mỹ Yên)
- Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy, Xã Mỹ Yên có tỉ lệ hộ nghèo khá cao,
số hộ nghèo là 342/1319 hộ (chiếm 25,92%). Theo kết quả thống kê năm 2010, tỉ
lệ hộ nghèo có cả ở 25 thôn trong toàn xã, trong đó:
+ 01 xóm có tỉ lệ hộ nghèo trên 70% là thôn Thuận Yên.
+ 10 xóm có tỉ lệ hộ nghèo từ 30% - 70% là Kỳ Linh Ngoài; Xóm Chùa;
La Tre; La Hồng; Đồng Phiêng và một số thôn khác.
+ 5 xóm có tỉ lệ hộ nghèo từ 20% – 29% là các thôn: Kỳ Linh Trong; Xóm
Cao; Đầm Pháng; Bắc Hà 2 và La Yến.
+ Còn lại là các thôn có tỉ lệ hộ nghèo dưới 20%.
- Tình trạng nghèo đói ở Mỹ Yên được thể hiện trên nhiều mặt:
+ Ở Mỹ Yên, hầu hết các hộ dân sống trên địa bàn xã làm việc trong lĩnh
vực sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, diện tích đất trồng lúa lại không đáng kể,
phần lớn là diện tích đất là đồi núi chỉ thích hợp cho việc trồng chè. Phương thức
canh tác lạc hậu, năng suất lao động thấp, sản lượng lương thực làm ra không đáp
ứng đủ cho nhu cầu tích lũy và phát triển chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi lợn.
Trong xã không có nhà máy hay doanh nghiệp sản xuất, cơ sở chế biến mặt hàng
công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Cơ sở hạ tầng còn yếu kém, nhất là về giao
thông, chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại của người dân.
+ Toàn xã có một trường mầm non, một trường tiểu học và một trường
trung học cơ sở tập trung tại xã. Các trường đã có những cơ sở vật chất thiết yếu

Có thể thấy rằng người dân nghèo đang gặp phải rất nhiều khó khăn. Nếu
không có sự quan tâm đúng mức của các cấp chính quyền địa phương thì vấn đề
nghèo đói ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn. Vấn đề đặt ra ở đây là cần phải có
sự chung tay, góp sức của cả cộng đồng thì tình trạng nghèo đói mới có thể giảm
dần được.
2.2.2. Một số chính sách, chương trình hỗ trợ xóa đói giảm nghèo đã và
đang được thực hiện tại xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn
2008-2010
* Chủ thể tham gia triển khai thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo tại
địa phương
- Được sự quan tâm sát sao, chỉ đạo kịp thời của Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái
Nguyên và Uỷ ban nhân dân huyện Đại Từ, Ban công tác xóa đói giảm nghèo tại
xã Mỹ Yên - Đại Từ đã được thành lập từ năm 1999. Qua mỗi giai đoạn, thành
viên trong Ban công tác xóa đói giảm nghèo của xã cũng có sự điều chỉnh để phù
hợp với tình hình mới. Ban xoá đói giảm nghèo xã Mỹ Yên hiện nay bao gồm:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status