THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở TỈNH HÀ TĨNH - Pdf 69

THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO VÀ CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
Ở TỈNH HÀ TĨNH
I. GIỚI THIỆU ĐÔI NÉT VỀ TỈNH HÀ TĨNH:
1. Đặc điểm tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên:
1.1. Vị trí địa lý:
Hà Tĩnh là một tỉnh thuộc miền trung (Khu IV cũ) được tách ra từ Tỉnh
Nghệ Tĩnh ( từ năm 1991), nằm ở từ 17
0
54

độ vĩ Bắc đến 18
0
50

Bắc và 105
0
đến 108
0
kinh đông. Phía Bắc của tỉnh giáp Nghệ An, Phía Tây giáp Lào, phía
Nam giáp Quảng Bình, còn phía Đông là bờ biển dài 137 km.
Hà Tĩnh có vị trí khá thuận lợi và đặc biệt quan trọng không chỉ với cả
nước, mà còn với nước bạn Lào và vùng Đông Bắc của Thái Lan. Hà Tĩnh có
điều kiện trở thành cầu nối của hai miền Nam, Bắc và điểm đầu mối giao thông
quan trọng trên trục hành lang Đông, Tây, với các tuyến giao thông huyết mạch
đi qua: đó là Quốc lộ 1A, đường sắt, đường Hồ Chí Minh, đường biển (trục giao
thông Bắc, Nam); Quốc lộ 8 và quốc lộ 12 (trục hành lang Đông - Tây).
Tỉnh Hà Tĩnh có một thành phố Hà Tĩnh và một thị xã Hồng Lĩnh, 10
huyện: Hương Sơn, Đức Thọ, Hương Khê, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên,
Kỳ Anh, Vũ Quang, Lộc Hà.
1.2. Địa hình:
Nằm ở phía Đông dãy Trường Sơn, địa hình Hà Tĩnh hẹp và dốc, nghiêng

Đất tôn giáo tín ngưỡng 302,13 0,05
Đất nghĩa trang, nghĩa địa 4.792,56 0,8
Đất sông suối và mặt nước 28.228,88 4,69
Đất phi nông nghiệp khác 66,58 0,01
3 Đất chưa sử dụng 65.117,61 10,82
Đất bằng chưa sử dụng 17.432,09 2,9
Đất đồi chưa sử dụng 44.959,63 7,47
Núi đá không có rừng cây 2.725,89 0,45
Nguồn: Kết quả kiểm kê đất đai tỉnh Hà Tĩnh năm 2005 và Sở Thuỷ sản
1.4. Khí hậu:
Hà Tĩnh cũng như các tỉnh phía Bắc Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt
đới gió mùa, ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền
Bắc và miền Nam, với đặc trưng khí hậu nhiệt đới điển hình của miền Nam và
có 1 mùa đông giá lạnh của miền Bắc. Hàng năm, tỉnh có hai mùa rõ rệt:
- Mùa mưa: có nhiều bão lụt kéo dài từ tháng 8 đến tháng 11, lượng mưa
trung bình cao trên 2000 mm, do vậy lũ lụt thường xảy ra hàng năm vào tháng
8, tháng 9…
- Mùa khô: kéo dài từ tháng 12 đến tháng 7. Đây là mùa gay gắt, có gió
Tây Nam (thổi từ Lào) nóng, lượng bốc hơi lớn gây hạn hán nghiêm trọng. Do
đó, việc xây dựng các công trình thuỷ lợi để giữ nước có một ý nghĩa quan trọng
đối với phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh, làm tiền đề cho việc xoá hộ đói, giảm
hộ nghèo.
1.5. Tài nguyên nước:
Nhìn chung, với trữ lượng hàng trăm triệu m
3
, hiện tại tài nguyên nước của tỉnh có khả năng cung cấp
đủ cho các ngành kinh tế và nước sinh hoạt cho người dân trừ một số vùng bãi ngang ven biển, vùng đặc biệt
khó khăn việc sử dụng nước sinh hoạt còn gặp nhiều khó khăn. Với sự phát triển nhanh của kinh tế, nhât là phát
triển công nghiệp và mức độ đô thị hoá thì nhu cầu nước ngày càng nhiều do đó cần sử dụng hợp lý và tránh
lãng phí.

nghiên cứu khoa học.
1.9. Tài nguyên du lịch, tự nhiên và nhân văn:
Từ góc độ tiềm năng, Hà Tĩnh tương đối giàu tài nguyên du lịch: có tiềm năng di sản văn hoá phong
phú, đa dạng, có giá trị và mang bản sắc riêng, độc đáo.
- Tài nguyên du lịch sinh thái: Hiện tại Hà Tĩnh có hai khu bảo tồn thiên nhiên: hồ Kẻ gỗ và vườn quốc gia Vũ
Quang. Rừng Hương Sơn là một hệ thống động, thực vật lớn nhất trong tỉnh, là vùng tiểu khí hậu nằm ở vị trí
liền kề với các khu vực được bảo tồn ở Nghệ An và biên giới Lào, vì vậy đây có thể trở thành khu vực bảo tồn
lớn trong tương lai.
- Tài nguyên du lịch tự nhiên: Cửa Sót - Nam Giới, Đèo Ngang, sinh thái Đèo Con, Hoành Sơn Quan, bãi
tắm Xuân Thành, Thiên Cầm, Thạch Hải, Nước Sốt, bãi biển Kỳ Ninh, Núi Hồng Lĩnh..., có thể kết hợp với
nhau thành các tuyến du lịch.
- Tài nguyên du lịch nhân văn: Toàn tỉnh có hơn 400 di tích lịch sử, trong đó có 62 di tích quốc gia, 2 di
tích danh thắng như Hồ và Chùa Thiên Tượng, chùa Hương Tích ; nhóm di tích tưởng niệm các danh nhân và
nhân vật lịch sử chiếm số lượng lớn (36 di tích). Tiêu biểu trong nhóm này là các di tích tưởng niệm Nguyễn
Du, Lê Hữu Trác, Nguyễn Công trứ, Nguyễn Biểu, ... Nhóm di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật chiếm 8 di tích,
gồm Đình, Chùa, Đền, Miếu... Nhóm di tích cách mạng (14 di tích), tiêu biểu là Khu căn cứ địa Vũ Quang về
cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, Khu lưu niệm Bác Hồ về tham Hà Tĩnh ở phường Tân Giang - thị xã Hà
Tĩnh, Khu lưu niệm Trần Phú và đặc biệt là di tích Ngã Ba Đồng Lộc.
- Có nhiều lễ hội như hội chùa Hương Tích, Chiều Trưng, Hạ Thủy, hội đua thuyền ở Tiên Điền.
Hà Tĩnh cũng là điểm du lịch quan trọng trên tuyến du lịch xuyên Việt có tính chất trung chuyển trên
các tuyến Bắc - Nam, Tây - Đông. Nhờ đó tạo việc làm cho người lao động và đóng góp vào phát triển kinh tế
và XĐGN của tỉnh.
2. Tình hình phát triển kinh tế
2.1. Đặc điểm về kinh tế:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế ( GDP ): Trong những năm qua kinh tế Hà Tĩnh đạt được mức tăng trưởng
khá cao. Tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm trên 8%, đặc biệt năm 2007 đạt khoảng 10,5%, GDP bình quân
đầu người đạt 5,25 triệu đồng/năm, thu ngân sách trên địa bàn 1920 tỷ đồng trong đó thu nội địa đạt 630 tỷ
đồng đây là điều kiện cơ bản để gia tăng quỹ vật chất cần thiết cho công tác XĐGN.
- Cơ cấu kinh tế: Cơ cấu kinh tế đã có sự thay đổi theo hướng tăng dần tỉ
trọng công nghiệp và dich vụ, giảm dần nông lâm, tuy nhiên nền kinh tế chủ yếu

2.2.3 Nông, lâm, ngư nghiệp:
Trong những năm qua nông lâm, ngư nghiệp là ngành sản xuất chính, góp
phần ổn định đời sống nhân dân trong tỉnh. Năm 2007, GDP nông, lâm ngư
nghiêp là 2757 tỷ đồng, chiếm 37,9% tổng GDP cả tỉnh, gấp 1.52 lần năm 2001.
2.2.3.1. Nông nghiệp:
a) Tr ồng trọt
Sản xuất nông nghiêp là ngành nghề chính của cả vùng, lao động và thu nhập
chủ yếu là nông nghiệp trong đó có thế mạnh về đất đai, chất đất thích nghi với
cây lương thực, cây công nghiệp và cây ăn quả, tuy vậy năng suất thấp, khai
thác sử dụng đất chưa hiệu quả. Đất nông nghiệp bình quân đầu người 0.36
ha/lao động. Diện tích đất chưa sử dụng còn khá lớn, chiếm 1/3 diện tích tự
nhiên.
Sản lượng cây lương thực tăng và tương đối ổn định. Năm 2007 đạt 40,1 vạn
tấn, trong đó lúa là cây lương thực chính, chiếm tới 89.9% diện tích cây lương
thực có hạt với 35120 tấn. Ngoài lúa một số cây lương thực cũng đưa vào sản
xuất như ngô, khoai, lạc, sắn nhưng diện tích còn ít và năng suất chưa cao.
Biểu 5: Cơ cấu các nhóm cây trồng
Diện tích gieo trồng (ha) Cơ cấu (%)
Tổng 192.498 100
Cây lương thực 109.616 57.2
Cây thực phẩm 23.450 12.0
Cây công nghiệp ngắn ngày 23.682 12.4
Cây ăn quả 7.127 3.7
Cây công nghiệp dài ngày 4954,3 2.5
Cây lâu năm khác 23.669 12.2
Nguồn: Số thống kê và kế hoạch 2006-2010
Cây công nghiệp dài ngày thích nghi vùng đất và khí hậu của vùng như chè
công nghiệp, cao su. Hiện nay trên toàn tỉnh đã có quy hoạch và triển khai bước
đầu đã trồng được một số diện tích đáng kể, năm 2007, diện tích cây cao su là
5210 ha, diện tích chè là 1570 ha nhưng tốc độ phát triển còn chậm, đầu ra của

hải sản 22.300 tấn.
Như vậy, sản xuất nông nghiệp là nghề chính của các tỉnh, nhất là các xã
đặc biệt khó khăn nhưng giá trị sản phẩm còn thấp. Chăn nuôi là thế mạnh của
vùng (nhất là trâu bò) đã góp phần tăng thu nhập và có nơi trở thành hàng hoá.
Nghề nuôi trồng thuỷ sản có phát triển nhưng chưa mạnh mẽ còn nghề rừng là
thế mạnh của vùng nhưng chưa được khai thác có hiệu quả nên sản phẩm còn
chiếm tỷ trọng thấp.
2.2.4. Công nghiệp
Sản xuất Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp từng bước phát triển, tuy
nhiên quy mô và trình độ phát triển của công nghiệp Hà Tĩnh tương đối thấp.
Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 1.390 tỷ đồng, tăng 22%
so với năm 2006. Trong đó: Khu vực kinh tế Nhà nước tăng 40%, khu vực kinh
tế ngoài nhà nước tăng 7% và khu vực kinh tế có vốn ĐTNN tăng 70% so với
năm 2006. Giá trị tăng thêm đạt 746 tỷ đồng, tăng 16,5%.
2.2.5. Thương mại và dịch vụ
Thương mại và du lịch đã có bước phát triển khá, nhịp độ tăng trưởng cao,
có đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh.
Hoạt động Thương mại - Du lịch đáp ứng nhu cầu về trao đổi hàng hoá,
tiêu thụ sản phẩm cho người sản xuất, đảm bảo thực hiện đúng chính sách của
nhà nước và góp phần ổn định giá cả. Năm 2007, Tổng mức lưu chuyển hàng
hoá đạt 4.850 tỷ đồng, tăng 23% so với năm 2006.
Chương trình du lịch được quan tâm và triển khai có hiệu quả. Tổng lượng
khách du lịch đạt trên 240.000 lượt người, tăng 20% so với năm 2006, trong đó
khách nước ngoài tăng 11%; doanh thu ngành du lịch đạt 80 tỷ đồng, tăng 15%
so với năm 2006. Cơ sở hạ tầng và chất lượng dịch vụ tại một số điểm du lịch
Thiên Cầm, Xuân Thành, Ngã ba Đồng Lộc, Đèo Ngang, Chùa Hương Tích
được cải thiện một bước, đây là
Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 đạt 45 triệu USD, tăng 18,5% so năm
2006; Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như quặng kim loại, thuỷ sản, dăm gỗ,
hàng nông sản… đạt thấp. Kim ngạch nhập khẩu đạt 8 triệu USD, tăng 60% so

Khu vực dịch vụ % 11,9
Biểu 8: Dân số và nguồn lao động năm 2007
Chỉ tiêu 2007
Tổng dân số (1000 người) 1289,1
- Dân số thành thị (1000 người) 142,5
% so với tổng số 11,0
- Dân số nông thôn (1000 người) 1147,05
- Dân số trong tuổi LĐ (1000 người) 678,244
% so với dân số 52,59
-Lao động có nhu cầu việc làm 647,6
% so tổng số 93
Nguồn lực lao động dồi dào, hiện tượng dư thừa lao động nông thôn gây
sức ép rất lớn về nhiều mặt cho quá trình phát triển nền kinh tế nhất là xoá đói
giảm nghèo và giải quyết việc làm hiện nay. Do đó, để sử dụng tốt hơn nguồn
lao động nông nghiệp trong nông thôn, trước mắt phải giải quyết vấn đề khó
khăn phức tạp như: chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, phát
triển ngành nghề, mời gọi các công ty, liên doanh trong nước và nước ngoài vào
tỉnh để giải quyết lao động dư dôi trong nông thôn nhằm góp phần XĐGN một
cách có hiệu quả nhất.
3.2. Y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân và kế hoạch hoá gia đình
Mạng lưới y tế chăm sóc sức khỏe phát triển khá hoàn chỉnh, từ tỉnh xuống
xã đáp ứng nhu cầu chữa trị bệnh thông thường cho nhân dân trong tỉnh. Đội
ngũ cán bộ y tế được tăng cường, năm 2007 bình quân 6.75 bác sỹ/1vạn dân, có
37,5% số xã có bác sỹ, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng từ 43,5% năm 2000,
26% năm 2005 xuống còn 24,7 năm 2007. Hàng năm tổ chức nhiều đợt khám
bệnh miễn phí cho hàng vạn lượt người thuộc diện chính sách, hộ nghèo, vùng
sâu vùng xa. Đồng thời công tác KHHGĐ được triển khai, thực hiện tốt tạo
nhiều chuyển biến về nhận thức của người dân, đặc biệt là các hộ nghèo. Song,
cơ sở vật chất phục vụ khám chữa bệnh đang xuống cấp và thiếu trong khi nhu
cầu người dân ngày càng cao.

khẩu lao động. Từ năm 2001- 2007 đã giải quyết việc làm cho 201.080 người
góp phần giảm tỷ lệ lao động chưa có việc làm ở đô thị từ 4,9% (năm 2001)
xuống 3,15% (năm 2007); tỷ lệ sử dụng lao động ở nông thôn từ 78% (năm
2001) lên 89,5% năm 2007.
Chương trình xoá đói giảm nghèo được triển khai đồng bộ, mua bảo hiểm
y tế cho 424.534 người nghèo, trị giá 33 tỷ đồng, tổ chức khám chữa bệnh cho
28.600 lượt người thuộc đối tượng chính sách, hộ nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo giảm
xuống còn 32,06% (chỉ giảm 0,7% do ảnh hưởng nặng nề của cơn bão số 2 và
số 5).
II. NHỮNG CHÍNH SÁCH XĐGN CỦA NHÀ NƯỚC VÀ ĐỊA PHƯƠNG ÁP DỤNG TRONG
THỜI GIAN QUA
1. Các chủ trương, chính sách về công tác XĐGN của Nhà nước
Xoá đói giảm nghèo là một chủ trương lớn, một quyết sách lớn của Đảng,
Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới để thực hiện tăng trưởng kinh tế ổn định, bền
vững gắn với thực hiện công bằng xã hội. Cùng với đó, giải quyết vấn đề đói
nghèo cũng thể hiện mạnh mẽ cam kết của Đảng, Nhà nước Việt Nam với cộng
đồng quốc tế trong việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ. Chính vì vậy, xoá đói
giảm nghèo luôn là trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, của
mọi người dân và của chính người nghèo nhằm thực hiện mục tiêu “ Dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Từ đại hội VII (năm 1991) Đảng ta đã đề ra chủ trương chính sách xoá
đói giảm nghèo. Nghị quyết đại hội VII nêu rõ “ Cùng với quá trình đổi mới,
tăng trưởng kinh tế, phải tiến hành công tác XĐGN, thực hiện công bằng xã hội,
tránh sự phân hoá giàu nghèo vượt quá giới hạn cho phép”. Đến nghị quyết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status