THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ Ở KHU DU LỊCH LỄ HỘI CHÙA HƯƠNG - Pdf 64

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VÀ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ Ở KHU DU LỊCH LỄ HỘI
CHÙA HƯƠNG
2.1. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN Ở KHU DU LỊCH CHÙA
HƯƠNG.
2.1.1. Khách du lịch.
2.1.1.1. Lượng khách
- Hàng năm cứ vào mùa hội có tới bốn- năm chục vạn người về đây vãng
cảnh. Khách du lịch tới chùa Hương bao gồm khách Quốc tế và khách nội địa
với mục đích chung là tham dự lễ hội, hành hương, tham quan thắng cảnh chùa
Hương. Lượng khách đến Chùa Hương theo thời gian không ngừng tăng lên
điều đó khẳng định vị thế của khu vực Chùa Hương trên bản đồ du lịch Hà Tây
nói riêng và Du lịch cả nước nói chung.
Bảng 3 : Lượng khách tới chùa Hương từ 1998-2002
(Đơn vị tính: nghìn người)
Nội Dung
Năm 1997 Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000 Năm 2002
NĐ QT NĐ QT NĐ QT NĐ QT NĐ QT
Chùa
Hương
LK 250,0 6,75 262,0 8,0 387,0 8,0 380,1 22,9 396,3 23,0
% 97.3 2.7 87.8 2.2 98 2 94.4 5.6 94.2 5.8
Hà Tây
LK 373,0 45 388,8 46,0 1.135 55,6 1.148 84,91 1.415 85,0
% 98.8 1.2 94.8 5.2 95.2 4.8 93.1 6.9 94.3 5.7
(Nguồn: Sở Du lịch Hà Tây)
Nhìn vào kết quả trên ta thấy tổng lượng khách đến chùa Hương từ năm
1997 – 2002 có tăng nhưng không đều; Tổng lượng khách đến chùa Hương năm
1999 tăng mạnh đạt 395.000 lượt khách, tức tăng 125.000 lượt khách tương
đương 146%và tăng đều năm 2000. Năm 2002 lượng khách quốc tế và khách
nội địa tăng không đáng kể so với năm 2000. Tổng lượng khách năm 2002 chỉ

+ Khách đến với mục đích tín ngưỡng hoàn toàn: 78%.
+ Khách đến với mục đích tham quan du lịch: 19%.
+ Khách đến với mục đích khác: 03%.
Theo kết quả khảo sát cho thấy lượng khách đến chùa Hương chiếm tỉ lệ
lớn so với lượng khách đến với Hà Tây. Trong số này hầu hết là những người
hành hương tín ngưỡng, với đủ các thành phần những người già, thương nhân,
học sinh, sinh viên đến cầu tài, cầu lộc, cầu an cho gia đình và bản thân. Trong
đó, khách thường đi theo 3 tuyến chính:
+ Động Hương Tích: 100%
+ Chùa Tuyến Sơn: 40%
+ Chùa Long Vân: 35%
- Khách tới chùa Hương chủ yếu là khách trong ngày, một số ít khách ở
xa thì lưu lại qua đêm (2%) chủ yếu nghỉ lại các nhà trọ bình dân.
2.1.2. Doanh thu.
Do lượng khách đến chùa Hương chiếm phần lớn tổng lượng khác đến Hà
Tây nên doanh thu tại khu vực này chiếm một tỉ lệ cao so với tổng doanh thu
của toàn ngành Du lịch tỉnh Hà Tây.
Bảng 4 : Tình hình doanh thu của chùa Hương năm 1998-2001.
Nội dung VND 1997 1998 1999 2000 2002
2002 So với
2000 (%)
Tổng Doanh thu
Triệu 65.000 72000 82000 83723 96439 115
Doanh thu từ
DNNN
Triệu 27690 29570 35629 39000 40870 109
DT thành phần
kinh tế khác
Triệu 37310 42430 46371 44723 55569 119.7
Chi tiêu TB/ 1

dịch vụ, đưa ra các món ăn độc đáo hợp khẩu vị của du khách với giá cả hợp lý.
Tỷ trọng của du lịch chùa Hương so với GDP toàn tỉnh có xu hướng tăng
từ 1997 - 2000 nhưng đến năm 2002 có giảm do ở Hà Tây có xuất hiện nhiều
điểm du lịch mới hấp dẫn như Suối Hai - Ba Vì…Vậy ban quản lý khu du lịch
và các ban nghành chức năng cần có biện pháp thu hút khách du lịch, phát huy
được lợi thế về tài nguyên của điểm du lịch.
2.1.3. Tình hình nộp ngân sách của chùa Hương trong một số năm
Hàng năm du lịch Chùa Hương đóng góp một phần đáng kể trong cơ cấu
nộp ngân sách của ngành du lịch vào ngân sách toàn tỉnh. Biểu hiện qua số liệu
sau
Bảng 5 : Tình hình nộp ngân sách của chùa Hương từ 1998 - 2002.
Nội dung Đvị tính 1997 1998 1999 2000 2002 So sánh với
Số nộp ngân sách
tại chùa Hương
Tỷ
đồng
2.18 2.3 3.3 4.6 4.2
KH
2002
TH
2000
Số nộp ngân sách
toàn tỉnh
Tỷ đồng 7.81 7.95 8.1 8.8 9.0 92% 90.1%
Tỷ trọng tổng nộp
NSNN về DL của
Hà Tây.
% 8.6 8.9 9.4 8,7 9.0 100% 101%
(Nguồn: Sở Du lịch Hà Tây)
Nhận xét:

nhà nghỉ
Khách sạn 9
Số phòng Phòng
80
Nhà trọ Nhà
100
(Nguồn: Sở Du lịch Hà Tây)
Nhận xét :
Đây là toàn bộ đơn vị kinh doanh lưu trú trong khu vực có đăng kí kinh
doanh. Đây là lĩnh vực kinh doanh phục vụ khách còn rất nhiều hạn chế chưa
tìm ra được biện pháp tốt. Tuy số các khách sạn còn ít so với lượng khách đến
vào mùa lễ hội nhưng vẫn không sử dụng hết công suất phong vì rất nhiều yếu
tố như chất lượng cơ sở vất chất cũng nh trình độ phục vụ của đội ngũ nhân
viên. Trong các khách sạn của công ty và khách sạn tư nhân đều chưa đạt tiêu
chuẩn. Các khách sạn nhìn chung còn có chất lượng kém do lâu ngày không
được tu bổ sửa chữa. Các tiện nghi sinh hoạt trong khách sạn còn nghèo nàn,
trang thiết bị không đồng bộ nên khả năng đáp ứng nhu cầu của khách là kém.
Điều này dẫn đến tình trạng doanh thu từ việc thuê phòng của các công ty Du
lịch chưa cao và không hấp dẫn khách ở lại qua đêm tại các điểm Du lịch.
Các nhà trọ của người dân trong vùng càng không đảm bảo đáp ứng nhu
cầu của khách. Tình trạng chen lấn mất vệ sinh kéo dài. Thêm vào đó công trình
vệ sinh không có hoặc không đảm bảo. Mặc dù điều kiện như vậy nhưng giá cả
thường không ổn định gây ra không ít khó khăn cho khách.
2.1.4.2. Cơ sở phục vụ dịch vụ ăn uống.
Trong những năm qua, dịch vụ ăn uống tại đây còn tỏ ra yếu kém, không
đủ năng lực phục vụ khách. Thực tế là trong các cửa hàng ăn uống của các Nhà
hàng, món ăn chưa được phong phú, nấu nướng chưa ngon, thái độ phục vụ
chưa tốt, đặc biệt là giá cả quá đắt đỏ. Với những lý do đó thì hầu như các cửa
hàng ăn uống của các công ty Du lịch chỉ phục vụ một số ít các khách theo đoàn
còn chủ yếu khách mang theo đồ ăn hoặc ăn tại các quán tư nhân.

lấn chiếm của nhân dân hai bên đường. Nhiều đoạn đường bị cày xới khấp
khểnh do đào cống thoát nước hay sử dụng lâu ngày mà không được tu sửa đặc
biệt là đoạn đường cách chùa hơn 10km.
- Thêm vào đó khu vực chùa Hương là vùng đồng chiêm trũng thường
xuyên bị ngập úng và hàng năm có từ 2-5 trận lũ núi vì vậy đường xá bị sạt lở
xuống cấp gây nhiều khó khăn cho du khách.
- Hệ thống đường mòn nối giữa các đền chùa, hang động cũng không
đảm bảo an toàn cho khách du lịch. Với chất lượng đường như vậy vào mùa lễ
hội tình trạng ách tắc giao thông luôn xẩy ra, một số vụ tai nạn trên các tuyến
đường này cũng tăng nhanh trong trong những năm vừa qua. Tình trạng này gây
nên tốc độ di chuyển của các phương tiện vận chuyển là thấp, tốn thời gian nghỉ
ngơi của du khách trong các chuyến Du lịch gây bất tiện và tâm lý không thoải
mái cho khách.
- Ngoài ra, đặc điểm của khu Du lịch chùa Hương là phải qua suối Yến
bằng đò một đoạn đường dài trong thời gian hơn 1 tiếng do đó giao thông trên
nước ở đây cũng rất quan trọng. Tuy nhiên số xuồng được trang bị đủ thậm chí
rất nhiều hơn so với lượng khách tới tham quan (6000 đò) nên dẫn đến tình
trạng tranh giành khách mất trật tự trị an.Vào mùa lễ hội lượng khách tập trung
rất đông đặc biệt vào thứ bảy và chủ nhật nên khu vực bến đò lúc nào cũng tắc
đường gây cản trở khó khăn cho khách.
- Vệ sinh trên suối tuy đã được công ty vệ sinh môi trường xử lý nhưng
vẫn chưa đảm bảo. Vẫn còn nhiều rác trên suối Yến gây mất vệ sinh và mất mỹ
quan. Dọc hai bên bờ suối các hộ kinh doanh và khách du lịch vứt xuống không
được dọn kịp thời.
2.1.4.4. Các cơ sở vật chất kĩ thuật khác.
* Hệ thống cung cấp nước:
- Hệ thống cung cấp nước máy cho toàn khu vực đường là một vấn đề
nóng bỏng của toàn khu vực này. Nước đã được đưa lên các vùng cao để phục
vụ ăn uống và sinh hoạt cho khách nhưng chưa được đáp ứng đầy đủ gây ấn
tượng xấu đối với khách du lịch.

mắt, với suy nghĩ khách hiếm khi trở lại tham quan lần nữa nên phục vụ có
những hành vi tiêu cực như bắt chẹt khách, ép giá khách. Muốn khu du lịch
chùa Hương ngày càng phát triển thì phải phổ biến nâng cao hiểu biết cho nhân
dân địa phương.
2.1.4.6. Y tế, bảo hiểm.
Khu Du lịch thắng cảnh chùa Hương là khu Du lịch có cả địa hình sông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status