Đề tài
ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VÀ
SỰ QUÁN TRIỆT CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA
ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG CÔNG TÁC
QUẢN LÝ ĐẦU TƯ
Mục lục
Nhóm 1_Lớp Kinh tế Đầu tư 2 1
Lời mở đầu
Sau chiến tranh, Việt Nam trong con mắt nhìn nhận của thế giới vẫn chỉ là một quốc
gia nghèo, đông dân, cơ sở hạ tầng bị tàn phá nặng nề. Trong thời điểm đó, chúng ta
đã phải đối mặt với muôn vàn khó khăn từ kinh tế (mất mát viện trợ tài chính từ khối
các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, sự yếu kém của nền kinh tế tập trung) cho đến
chính trị (bộ máy nhà nước non trẻ). Sau một loạt các chính sách sai lầm đẩy Việt
Nam vào các cuộc khủng hoảng trầm trọng thì tới Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986,
chính phủ đã chấp thuận chính sách Đổi mới theo đó cải tổ bộ máy nhà nước, và
chuyển đổi nền kinh tế theo hướng kinh tế thị trường. Từ đó, nền kinh tế Việt Nam
dần khởi sắc. Từ tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, đến nay nước ta đã trở thành một trong
những quốc gia có tốc độ tăng trưởng vào loại nhanh nhất trong khu vực và trên thế
giới, được đánh giá cao và được cả thế giới công nhận về thành tích xoá đói giảm
nghèo và phát triển con người.
Để có được sự thay đổi bộ mặt đất nước như hiện nay, không thể phủ nhận vai trò của
hoạt động đầu tư phát triển và công tác quản lý hoạt động đầu tư. Với các chủ trương,
cơ chế, chính sách thông thoáng mở cửa thu hút nguồn lực cả trong và ngoài nước ,
nguồn vốn đầu tư không còn bó hẹp trong ngân sách nhà nước mà đã được mở rộng
rất nhiều và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, cũng
cần tinh táo nhận định hiện trạng đầu tư hiện nay của Việt Nam: tình trạng tham
nhũng không được cải thiện và luôn bị xếp hạng ở mức độ cao của thế giới cộng với
các khó khăn về vốn, đào tạo lao động, đất đai, cải cách hành chính, cơ sở hạ tầng gây
ra cho hoạt động đầu tư với hàng chục ngàn thủ tục từ 20 năm trước đang tồn tại và
không phù hợp với nền kinh tế thị trường nên với con số cam kết đầu tư trực tiếp của
nước ngoài (FDI) cao kỷ lục 61 tỉ USD năm 2008 chưa nói lên được mức độ tin tưởng
tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất
(nhà xưởng thiết bị...) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng...), gia tăng năng lực sản
xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển.
*Phân biệt đầu tư phát triển với các loại đầu tư khác
a. Đầu tư tài chính: Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc
mua các chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước (gửi tiết kiệm, mua trái phiếu
chính phủ) hoặc lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty phát hành. Đầu tư tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu
không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài chính
của tổ chức, cá nhân đầu tư.
b. Đầu tư thương mại: Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ ra để mua hàng hoá
và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận cho chênh lệch giá khi mua và khi
Nhóm 1_Lớp Kinh tế Đầu tư 2 4
bán. Loại đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến
ngoại thương), mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của người đầu tư trong quá trình mua
đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa người bán với người đầu tư và
người đầu tư với khách hàng của họ. Đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quá
trình lưu thông của cải vật chất do đầu tư phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư phát
triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanh
dịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã hội nói chung.
c. Đầu tư phát triển: Xét về bản chất chính là đầu tư tài sản vật chất và sức lao động
trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo
ra tài sản mới cho mình đồng thời cho cả nền kinh tế, từ đó làm tăng tiềm lực sản xuất
kinh doanh và mọi hoạt động sản xuất khác, là điều kiện chủ yếu tạo việc làm, nâng
cao đời sống của mọi người dân trong xã hội. Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng,
sửa chữa nhà cửa và kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền
bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền
với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì hoặc tăng thêm tiềm lực hoạt động
của các cơ sở đang tồn tại, bổ sung tài sản và tăng thêm tiềm lực của mọi lĩnh vực hoạt
động kinh tế - xã hội của đất nước.
chính xác cao
• Đầu tư sản xuất là loại đầu tư dài hạn ( 5, 10, 20 năm hoặc lâu hơn ), vốn đầu tư lớn,
thu hồi chậm, thời gian thực hiện đầu tư lâu, độ mạo hiểm cao vì tính kỹ thuật của
hoạt động đầu tư phức tạp, phải chịu tác động của nhiều yếu tố bất định trong tương
lai không thể dự đoán hết và dự đoán chính xác được ( về nhu cầu, giá cả đầu vào và
đầu ra, cơ chế chính sách, tốc độ phát triển khoa học kĩ thuật, thiên tai, sự ổn định
chính trị...). Loại đầu tư này phải được chuẩn bị kỹ, phải cố gắng dự đoán những gì có
liên quan đến kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư trong tương lai xa, xem xét các
biện pháp xử lý khi các yếu tố bất định xảy ra để đảm bảo thu hồi đủ vốn và có lãi khi
hoạt động đầu tư kết thúc
1.2.6. Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư
Có thể phân chia thành:
• Đầu tư dài hạn là việc đầu tư xây dựng các công trình đòi hỏi thời gian đầu tư dài,
khối lượng vốn lớn, thời gian thu hồi vốn lâu. Đó là các công trình thuộc lĩnh vực sản
xuất, đầu tư phát triển khoa học kĩ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng...Đầu tư dài hạn
thường chứa đựng những yếu tố khó lường, rủi ro lớn do đó cần có những dự báo dài
hạn, khoa học.
• Đầu tư ngắn hạn là loại đầu tư tiến hành trong một thời gian ngắn, thường do những
chủ đầu tư ít vốn thực hiện, đầu tư vào những hoạt động nhanh chóng thu hồi vốn.
Tuy nhiên rủi ro đối với hình thức đầu tư này cũng rất lớn
1.2.7. Theo quan hệ quản lí của chủ đầu tư
Nhóm 1_Lớp Kinh tế Đầu tư 2 7
Hoạt động đầu tư có thể phân chia thành:
• Đầu tư gián tiếp: là loại đầu tư trong đó người bỏ vốn không trực tiếp tham gia điều
hành quản lí quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư.Người có vốn thông
qua các tổ chức tài chính trung gian để đầu tư phát triển.Đó là việc Chính phủ thông
qua các chương trình tài trọ không hoàn lại hoặc hoàn lại với lãi suất thấp cho Chính
phủ của nước khác vay để phát triển kinh tế xẫ hội, là việc các cá nhân hay các tổ
chức mua các chứng chỉ có giá như cổ phiếu, trái phiếu...để hưởng lợi tức (hay là đầu
tư tài chính).Đầu tư gián tiếp là phương thức huy động vốn cho đầu tư phát triển
mở rộng, xây dựng lại hay là khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trong
nền kinh tế. Quy mô các dự án đầu tư có lớn hay không thể hiện ở nguồn vốn đầu
tư.
2.1.2. Vận dụng
Quy mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý,
xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ
Nhóm 1_Lớp Kinh tế Đầu tư 2 9
tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tư trọng tâm trọng
điểm.
Nguồn vốn huy động cho các dự án có thể do ngân sách nhà nước cấp phát, ngân
hàng cho vay, vốn góp cổ phần, vốn liên doanh , vốn tự có hoặc vốn huy động từ
các nguồn khác. Để đảm bảo tiến độ thực hiện đầu tư của dự án, vừa để tránh ứ
đọng vốn nên các nguồn tài trợ không chỉ xem xét về mặt lượng mà cả về thời
điểm nhận được tài trợ. Các nguồn vốn dự kiến này phải đảm bảo chắc chắn. Sự
đảm bảo này thể hiện ở tính pháp lý và cơ sở thực tế của các nguồn vốn huy động.
Lao động cần sử dụng cho các dự án rất lớn, đặc biệt đối với các dự án trọng điểm
quốc gia. Do đó, công tác tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ cần tuân thủ một
kế hoạch định trước, sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu từng loại nhân lực theo tiến
độ đầu tư, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực do vấn
đề “hậu dự án” tạo ra như việc bố trí lại lao động, giải quyết lao động dôi dư…
Vốn, lao động, vật tư là những tiền đề cho bất kì cho một hoạt động đầu tư phát
triển nào. Vì các dự án tiêu tốn một lượng rất lớn các yếu tố trên, do đó người lập dự
án phải tính toán chi tiết cả về mặt chi phí và mặt lợi nhuận để đảm bảo dự án phải có
lãi cho nhà đầu tư và đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội.
2.2. Thời kì đầu tư kéo dài
2.2.1. Đặc điểm
Thời kỳ đầu tư được tính từ khi khởi công thực hiện dự án cho đến khi dự án hoàn
thành và đưa vào hoạt động. Do quy mô các dự án đầu tư thường rất lớn nên thời
gian hoàn thành các dự án thường tốn rất nhiều thời gian, có khi tới hàng chục năm
như các công trình thuỷ điện, xây dựng cầu đường...
thể kéo dài hàng chục năm hoặc lâu hơn thế như Vạn lý trường thành ở Trung
Quốc, nhà thờ và đấu trường La Mã ở Italia...trong quá trình vận hành các kết quả
của đầu tư phát triển chịu tác động cả hai mặt, tích cực và tiêu cực của nhiêù yếu tố
tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội.... Đây là đặc điểm có ảnh hưởng rất lớn đến
công tác quản lý hoạt động đầu tư.
2.3.2. Vận dụng
Để thích ứng với đặc điểm này, công tác quản lý hoạt động đầu tư cần chú ý một số
nội dung sau:
• Cần xây dựng cơ chế và phương pháp dự báo khoa học cả ở cấp vĩ mô và
vi mô về nhu cầu thị trường đối với sản phẩm đầu tư tương lai, dự kiến khả
năng cung từng năm và toàn bộ vòng đời dự án. Nếu như sản phẩm không
có toàn bộ thông tin về nhu cầu thị trường thì hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp sẽ không đảm bảo đúng theo quy luật cung cầu,
đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Mặt khác nếu việc dự báo
không khoa học và chính xác thì hoạt động của doanh nghiệp có thể sẽ bị
thiệt hại.
• Quản lý tốt quá trình vận hành, nhanh chóng đưa các thành quả đầu tư vào
sử dụng, hoạt động tối đa công suất, nhanh tróng thu hồi vốn đầu tư tránh
hao mòn vô hình. Để vận hành tốt, cũng cần phải chú ý bảo dưỡng, nâng cấp
Nhóm 1_Lớp Kinh tế Đầu tư 2 12
thành phần của công trình để đem lại hiệu quả thu hồi vôn nhanh nhất, kéo
dài thời gian thu lợi nhuận sau đó.
• Chú ý đúng mức đến yếu tố độ trễ thời gian trong đầu tư. Đầu tư trong năm
nhưng thành quả đầu tư chưa chắc đã phát huy tác dụng ngay trong năm đó
mà từ những năm sau và kéo dài trong nhiều năm. Đây là đặc điểm rất
riêng của đầu tư, ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý hoạt động đầu tư.
Sau khi kết thúc quá trình thực hiện, nhà thầu bàn giao kết quả cho nhà đầu tư.
Nhà đầu tư sẽ cần phải tìm những phương pháp quản lý, nghiên cứu thị trường để
vận hành kết quả đó một cách tốt nhất.
2.4. Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công
o Môi trường tự nhiên phải phù hợp với yêu cầu đặt ra của dự án
o Đia điểm lựa chọn có diện tích đủ rộng để bố trí các cơ sở sản xuất dễ
dàng cho mở rộng đầu tư.
o Địa điểm lựa chọn phải tiện lợi cho việc vận tải, gần vùng cung cấp
nguyên vật liệu
Địa điểm đầu tư là một nhân tố quan trọng quyết định quá trình thực hiện dự án và
quá trình vận hành kết quả thuận lợi và đạt hiệu quả hay không. Do đó người lập dự
án đầu tư phải luôn luôn tính đến tất cả các yếu tố về tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng
Nhóm 1_Lớp Kinh tế Đầu tư 2 14
ảnh hưởng đến dự án, và tùy vào từng dự án mà ảnh hưởng của từng yếu tố là khác
nhau.
2.5. Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao
2.5.1. Đặc điểm
Mọi kết quả và hiệu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu nhiều ảnh hưởng của
các yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của không gian. Do
quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quả
đầu tư cũng kéo dài...nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thường rất
cao. Có rất nhiều rủi ro trong hoạt động đầu tư.
a) Phân loại rủi ro
• Rủi ro về kinh tế: rủi ro về kinh tế là khi một doanh nghiệp hay một ngành có
thể bị ảnh hưởng xấu do nền kinh tế của Quốc gia có những sự biến động suy
thoái và có khả năng làm giảm nhu cầu về những sản phẩm của Doanh nghiệp,
do đó làm giảm doanh thu và lợi nhuận của Doanh nghiệp.
o Rủi ro về lãi xuất : đối với một Doanh nghiệp sản xuất thì rủi ro lãi suất
là rủi ro khi chi phí trả lãi vay của Doanh nghiệp cao hơn khả năng tạo ra
lợi nhuận của Doanh nghiệp và mức độ rủi ro về lãi suất cũng khác nhau
giữa các ngành với nhau tùy theo cơ cấu nợ vay của các ngành đó.
o Rủi ro về ngoại hối : là rủi ro khi có sự biến động bất lợi về tỷ giá ngoại
hối đến giá thành các nguồn vật tư đầu và hoặc giá bán các sản phẩm,
kết quả làm giảm lợi nhuận của Công ty
pháp khắc phục phù hợp.
• Đánh giá mức độ rủi ro. Rủi ro xảy ra có khi rất nghiêm trọng nhưng có
khi chưa đến mức gây nên những thiệt hại về kinh tế. Đánh giá đúng mức
độ rủi ro sẽ giúp đưa ra những biện pháp phòng chống phù hợp.
• Xây dựng các biện pháp phòng và chống rủi ro. Mỗi loại rủi ro và mức độ
rủi ro nhiều hay ít sẽ có biện pháp phòng và chống tương ứng nhằm hạn
chế đến mức thấp nhất các thiệt hại có thể có do rủi ro này gây ra.
Cụ thể, công cụ quản lý rủi ro đầu tư là một phần trong lập dự án, chiến lược đầu
tư có thể đem lại lợi nhuận hoặc gây ra thiệt hại Nâng cao công cụ phân tích rủi ro
có thể đảm bảo rằng dự án có thể đem lại lợi nhuận lớn nhất và tránh được những
thiệt hại. Hai công cụ được đưa ra:
• Các quy định giới hạn : để tránh những nguy cơ phát sinh trong quá trình
thi công dự án, một là nhà nước phải cung cấp các quy định , hai là bên chủ
đầu tư và bên thi công phải thống nhất với nhau về các điều khoản sử dụng
vốn, tiến trình thực hiện trên cơ sở phân tích chi phí lợi ích, tác động ngoại
ứng ( như môi trường, xã hội …)
• Phân tích thị trường bằng phần mềm Một số phần mềm máy tính cung
cấp phần mềm cơ sở dữ kiệu nội bộ công ty và tích hợp tất cả mọi thứ mà
một nhà lập và quản lý dự án cần. Tạo điều kiện dêc dàng tổ chức và chia sẻ
thông tin với các nhân viên chịu trách nhiệm quản lý rủi ro đầu tư.
Nhóm 1_Lớp Kinh tế Đầu tư 2 17
Tùy chọn khác cho quản lý rủi ro đầu tư
Chiến lược đầu tư thay thế (AIS) - Các doanh nghiệp có đủ nguồn lực để chi
cho việc phân tích tài chính có thể quyết định xem xét đầu tư vào các quỹ phòng
hộ cho tương lai cho phép quản lý rủi ro hiệu quả hơn.
Quản lý Đầu tư công ty - khi phần mềm quản lý rủi ro có thể mất quá nhiều tài
nguyên của mình để thực hiện, đặc biệt nếu bạn là một phần của một công ty nhỏ..
Thuê một công ty chuyên nghiệp, hay một chuyên gia là giải pháp tối ưu.
Các rủi ro đầu tư ảnh hưởng lớn đến việc thi công cũng như việc vận hành thu
lợi nhuận. Nhà đầu tư cần phải có những biện pháp phòng tránh phát hiện và
trưởng kinh tế. Luật đầu tư mới đã xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa các doanh
nghiệp, các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa đầu tư trong nước và
đầu tư nước ngoài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và quá trình hội nhập
toàn diện.
Tuy vậy, sau khi ban hành và đưa vào áp dụng, Luật đầu tư 2005 cũng bộc lộ nhiều
bất cập. Nhiều ý kiến của doanh nghiệp cũng như của các chuyên gia pháp luật,
kinh tế cho rằng, các cơ chế quản lý như trong Luật Đầu tư chung thể hiện sự can
thiệp quá sâu của Nhà nước vào các hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư. Các quy
định chi tiết của Luật Đầu tư chung đã làm sinh ra thêm những giấy phép “con”,
tạo ra sự nặng nề về mặt thủ tục cho các hoạt động đầu tư. Trong tương lai, Luật
Đầu tư 2005 có thể tiếp tục được sửa đổi, bổ sung nhằm tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp cũng như các tổ chức, cá nhân trong hoạt động đầu tư, đáp ứng nhu
cầu phát triển của nền kinh tế.
1.2. Quản lý vĩ mô
Dựa trên việc nắm bắt các đặc điểm của đầu tư phát triển, ở mức độ vĩ mô chính
phủ đã có những cơ chế chính sách trong lĩnh vực đầu tư phát triển có nhiều đổi
mới, góp phần quan trọng trong việc cải thiện môi trường đầu tư, khuyến khích các
chủ thể trong nền kinh tế đầu tư. Do nguồn vốn đầu tư phát triển rất lớn, đầu tư
phát triển có độ rủi ro cao đòi hỏi ở cấp độ vĩ mô phải xây dựng các chính sách,
quy hoạch, kế hoạch dầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn
Nhóm 1_Lớp Kinh tế Đầu tư 2 20
đầu tư, thực hiện đầu tư có trọng tâm trọng điểm.Cùng với đó phải đưa ra các
phương pháp dự báo nhận diện rủi ro cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Chính phủ đã ban hành các chính sách phù hợp huy động các nguồn lực cho đầu tư
phát triển, nguồn vốn đầu tư phát triển ngày càng được đa dạng hoá, cơ chế bao
cấp trong dầu tư dần được xoá bỏ. Cùng với đó đã nâng cao hiệu quả sử dụng và
nỗ lực cải thiện môi trường kinh tế chính trị cho đầu tư, củng cố lòng tin đối với
các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Cơ chế quản lý vốn đầu tư phát triển đã có nhiều thay đổi. Các văn bản pháp quy
trong lĩnh vực đầu tư phát triển luôn được cập nhật, đổi mới, phù hợp theo hướng
thực tế hiệu quả sử dụng các nguồn vốn của Việt Nam thì chưa cao. Theo chuyên
gia kinh tế Phạm Chi Lan: “Việt Nam, tồn tại một nghịch lý là nước nghèo nhưng
không biết tiêu tiền hợp lý, gây lãng phí”. Chúng ta chưa quan tâm đầy đủ việc sử
dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư kể cả ngân sách, nguồn đầu tư trong nước
cũng như nước ngoài và ODA. Đầu tư trong nước là một nguồn lực tốt, thậm chí
năm 2006, đầu tư trong nước còn lớn hơn FDI. Hầu hết đầu tư trong nước là các
DN tư nhân, các cá nhân, do đó, họ có lợi ích thực, thúc đẩy hiệu quả càng cao
càng tốt. Tuy nhiên hiệu quả sử dụng vốn trong nước vẫn còn hạn chế do tác động
chung của cac nguôn lực khác: Cơ chế chính sách, vấn đề cơ sở hạ tầng và cả
những ưu đãi lớn dành cho DN nhà nước. Đáng ra, tư nhân có thể sử dụng nguồn
vốn hiệu quả hơn rất nhiều. Tất nhiên không phủ nhận sự yếu kém của DN tư nhân
Nhóm 1_Lớp Kinh tế Đầu tư 2 22
trong nước, nhưng yếu tố quan trọng chính là môi trường kinh doanh còn quá
nhiều nhân tố bất ổn, do chính nhà nước tạo ra. Về cơ sở hạ tầng, nhiều nhà đầu tư
nước ngoài mong đầu tư nhưng bản thânViệt Nam lai chưa tạo điều kiện đầy
đủ.Hình thức BOT đã được luật hoá nhưng chưa có hướng dẫn thực sự để DN nước
ngoài tham gia. Cách đây chưa lâu, Phần Lan đã mất 5-7 năm để đàm phán để
tham gia xây dựng hạ tầng, để đạt được kí kết. Họ phải mất them 2 năm đàm phán
về giá cung cấp điện nhưng không có kết quả. Cuối cùng nước này đã rút dự án ra
khỏi Vệt Nam. Chúng ta càn rút ra kinh nghiệm để tránh những sai lầm trong công
tác quản lý đầu tư.
1.3. Quản lý vi mô
Cùng với cải thiện đáng kể của công tác quản lý đầu tư ở cấp độ vĩ mô thì ở các
cấp độ doanh nghiệp công tác quản lý đầu tư ngày càng được chú trọng. Năm 2007
số lượng các công ty tư vấn giám sát tăng khoảng 10% so với năm 2006. Điều này
chứng tỏ các nhà quản lý đã chú trọng rất nhiều đến chất lượng công trình và tiến
độ công trình.Công tác lập dự án cũng đóng vai trò quan trọng trong công tác
đầu.Trong nhiều dự án có quy mô lớn và trình độ kỹ thuật phức tạp các công ty còn
thuê chuyên gia nước ngoài để tư vấn lâp và thẩm định khả thi của dự án đầu tư.
Các công ty cũng sẵn sang bỏ một số chi phí không nhỏ để thuê các tổ tư vân để
trong dân cư, doanh nghiệp, thu hút vốn nước ngoài. Tuy nhiên, những kênh huy động
vốn như vậy không ổn định và phụ thuộc nhiều vào tình hình kinh tế thế giới.
Thống kê hàng năm của bộ tài chính (đơn vị: tỷ dồng)
Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009
Vốn ngân sách nhà nước 86.400 97.000 98.130 161.000
Vốn tín dụng đầu tư 34.900 40.300 45.000 50.000
Vốn của DNNN 61.600 60.000 65.000 60.000
Vốn tư nhân 133.900 168.300 180.000 220.500
Vốn FDI 65.800 129.300 189.900 180.892
Vốn huy động khác 16.500 17.000 44.600 49.200
Giải ngân nguồn vốn đầu tư trong năm 2009 chia thành hai thái cực rõ rệt: đạt thấp,
hoặc là tăng cao so với kế hoạch đặt ra.
Các nguồn vốn giải ngân vượt kế hoạch:
• Vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước tăng gần 63% so với năm 2008, tăng
42,7% so với kế hoạch năm, và chiếm 22,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
• Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước tăng 25% so với thực hiện năm
2008, chiếm 7% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Tuy nhiên do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng của kinh tế toàn cầu nên một số kênh
huy động vốn chưa đạt mục tiêu đề ra:
• Nguồn vốn đầu tư trái phiếu Chính phủ đạt 80,4% kế hoạch giao.
• Vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước chỉ bằng 75,9% kế hoạch, giảm 7,7% so
với thực hiện năm 2008, chiếm 8,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội
• Vốn đầu tư của dân cư và doanh nghiệp tư nhân đạt 93,8% kế hoạch, tăng
22,5% so với thực hiện năm 2008, chiếm 30,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội
• Vốn FDI đạt khoảng 82% kế hoạch, giảm 22% so với thực hiện năm 2008,
chiếm 21% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Nhóm 1_Lớp Kinh tế Đầu tư 2 25