Vận dụng một số quan điểm triết học của phật giáo trong công tác quản lý của HT trường Tiểu học - Pdf 12

ĐỀ TÀI: Vận dụng một số quan điểm triết học của Phật giáo trong công tác quản lí
giáo dục của hiệu trưởng trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm

I. MỞ ĐẦU
Phật giáo khởi nguồn từ Ấn Độ vào thế kỷ thứ V, VI trước Công nguyên với người sáng
lập là Kiều Đạt Ma Tất Đạt Đa. Vào thời kỳ thống trị của Vương triều Khổng Tước vua A Dục,
khoảng thế kỷ thứ III trước Công nguyên ở Ấn Độ, Phật giáo trở thành quốc giáo và bắt đầu phát
triển lan rộng mọi biên giới quốc gia Ấn Độ. Từ đó, Phật giáo hướng ra thế giới, từng bước phát
triển thành một tôn giáo có tính thế giới.
Ðạo Phật du nhập đầu tiên vào Việt-Nam trong khoảng cuối thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ
III, sau Tây lịch. Hơn hai nghìn năm có mặt ở Việt Nam, Phật giáo đã trải qua bao thăng trầm
cùng lịch sử dân tộc, đồng hành, gắn bó với truyền thống dân tộc và trở thành một tôn giáo của
Việt Nam. Với tinh thần “lợi đạo, ích đời”, Phật giáo Việt Nam đã tập hợp được lực lượng tín đồ
đông đảo để biểu dương các giá trị đạo đức, nhân văn vì hạnh phúc của chúng sinh, vì sự an bình
của đất nước.
Nhìn lại lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, trải qua các thời kỳ, từ khi du nhập
vào Việt Nam đến nay, Phật giáo đã hòa mình cùng văn hóa truyền thống của dân tộc và tô bồi
cho nền văn hóa, đạo đức nhân văn của dân tộc, xây dựng tình người nhân ái, thương yêu đùm
bọc lẫn nhau. Với tư tưởng nhập thế tích cực, tinh thần “hộ quốc an dân” và chủ trương “Phật
pháp bất ly thế gian pháp”, Phật giáo Việt Nam luôn trong lòng dân tộc, gần gũi mật thiết với sự
phát triển của dân tộc, đã bén rễ và ăn sâu vào văn hóa Việt Nam, đã có những đóng góp xứng
đáng cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nhấn mạnh: “Phát huy những giá trị đạo
đức, văn hoá tốt đẹp của các tôn giáo”. Thực tế cho thấy trong giáo lý, giáo luật và những lời răn
dạy của Phật giáo cũng như các tôn giáo khác đều hướng con người làm điều lành, tránh điều ác,
yêu thương con người, yêu thương đồng loại. Bên cạnh đó các hoạt động xã hội, từ thiện, nhân
đạo của tôn giáo góp phần cùng với các cấp, ngành chung tay giải quyết những vấn đề khó khăn
của xã hội.
Trong công tác quản lý giáo dục (QLGD), đối tượng tác động chính của nhà quản lí là con
người. Mỗi con người đều có đời sống tình cảm phong phú và phức tạp, do đó, với nền tảng tư
tưởng, cơ sở lý luận là Chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi nhà quản lí cần

sách: Bất Cọng Trụ; Ưng Đối Trị; Đại Phẩm; Tiểu Phẩm; Luật Tạng Tập Yếu.
Tạng kinh: Chép lời Phật dạy, ghi chép lại những lời thuyết pháp của đức Phật Thích-ca
Mâu-ni. Kinh tạng đề cập từ những giáo lý căn bản như Tam quy, Ngũ giới, Tứ đế, Duyên khởi,
Vô ngã, v.v…
Tạng luận: Cũng được gọi là Thắng pháp tập yếu luận, gồm những bài bình luận, luận giải
về giáo pháp của Phật giáo. Tạng luận gồm bảy bộ thể hiện một cách toàn diện các quan điểm về
giáo pháp của Phật giáo.
Tư tưởng triết học Phật giáo trên hai phương diện, về bản thể luận và nhân sinh quan, chứa
đựng những tư tưởng duy vật và biện chứng chất phác.
Phật giáo cho rằng các sự vật và hiện tượng trong vũ trụ là vô thuỷ, vô chung (vô cùng, vô
tận). Tất cả thế giới đều ở quá trình biến đổi liên tục (vô thường ) không có một vị thần nào sáng
tạo ra vạn vật cả. Tất cả các Pháp đều thuộc về một giới (vạn vật đều nằm trong vũ trụ) gọi là
Pháp giới. Mỗi một pháp (mỗi một sự việc hiện tượng, hay một lớp sự việc hiện tượng) đều ảnh
hưởng đến toàn Pháp. Như vậy các sự vật, hiện tượng hay các quá trình của thế giới là luôn luôn
tồn tại trong mối liên hệ, tác động qua lại và qui định lẫn nhau.
Đạo Phật cho rằng toàn bộ chư pháp đều chi chi phối bởi luật nhân quả, biến hoá vô
thường, không có cái bản ngã cố định, không có cái thực thể, không có hình thức nào tồn tại vĩnh
viễn cả. Tất cả đều theo luật nhân quả biến đổi không ngừng và chỉ có sự biến hoá ấy là thường
còn. Cái nhân nhờ có cái duyên mới sinh ra được mà thành quả. Quả lại nhờ có duyên mà thành
nhân khác, nhân khác lại thành quả. Quả lại nhờ có duyên mà thành nhân khác, nhân khác lại nhờ
có duyên mà thành quả mới… Cứ thế nối nhau vô cùng vô tận mà thế giới, vạn vật, muôn loài, cứ
sinh sinh, hoá hoá mãi.
Như vậy ngay từ đầu Phật giáo đã đặt ra mục đích giải quyết vấn đề cơ bản của Triết học
một cách biện chứng và duy vật. Phật giáo đã gạt bỏ vai trò sáng tạo thế giới của các “đấng tối
cao” của “Thượng đế” và cho rằng bản thể của thế giới tồn tại khách quan và không do vị thần
nào sáng tạo ra cả. Cái bản thể ấy chính là sự thường hằng trong vận động của vũ trụ, là muôn
ngàn hình thức của vạn vật trong vận động, nó có mặt trong vạn vật nhưng nó không dừng lại ở
bất kỳ hình thức nào. Nó muôn hình vạn trạng nhưng lại tuân hành nghiêm ngặt theo luật nhân
quả.
Do qui luật nhân quả mà vạn vật ở trong quá trình biến đổi không ngừng, thành, trụ, hoại,

nhân cho Thủ.
+ Thủ: Là lấy, chiếm đoạt cho minh. Do thủ mà có Hữu. Do vậy mà Thủ làm quả cho ái và làm
nhân cho Hữu.
+ Hữu: Là tồn tại, hiện hữu, ham, muốn, nên có dục gây thành cái nghiệp. Do Hữu mà có sinh, do
đó Hữu là quả của Thủ và làm nhân của Sinh.
+ Sinh: Hiện hữu là ta sinh ra ở thế gian làm thần thánh, làm người, làm súc sinh. Do sinh mà có
Tử, ấy là sinh làm quả cho Hữu và làm nhân cho Tử.
+ Lão tử: Là già và chết, đã sinh ra là phải già yếu mà đã già là phải chết. Nhưng chết – sống là
hai mặt đối lập nhau không tách rời nhau. Thể xác tan đi là hết nhưng linh hồn vẫn ở trong vòng
vô minh, cho nên lại mang cái nghiệp rơi vào vòng luân hồi (khổ não).
Thập nhị nhân duyên như nước chảy kế tiếp nhau không bao giờ cạn, không bao giờ
ngừng, nên đạo Phật là Duyên Hà. Các nhân duyên tự tập nhau lại mà sinh mãi mãi gọi là Duyên
hà mãn. Đoạn này do các duyên mà làm quả cho đoạn trước, rồi lại do các duyên mà làm nhân
cho đoạn sau. Bởi 12 nhân Duyên mà vạn vật cứ sinh hoá vô thường.
Mối quan hệ Nhân – Duyên là mối quan hệ biện chứng trong không gian và thời gian giữa
vạn vật. Mối quan hệ đó bao trùm lên toàn bộ thế giới không tính đến cái lớn nhỏ, không tính đến
sự giản đơn hay phức tạp. Một hạt cát nhỏ được tạo thành trong mối quan hệ nhân quả của toàn
vũ trụ. Cả vũ trụ hoà hơp tạo nên nó. Cũng như nó hoà hợp tạo nên cả vũ trụ bao la. Trong một có
tất cả trong tất cả có một. Do nhân Duyên mà vạn vật sinh hay diệt. Duyên hợp thì sinh, Duyên
tan thì diệt. Vạn vật sinh hoá vô cùng là do ở các duyên tan hợp, hợp tan nối nhau mà ra. Nên vạn
vật chỉ tồn tại ở dạng tương đối, trong dòng biến hoá vô tận vô thường vô thực thể, vô bản ngã,
chỉ là hư ảo. Chỉ có sự biến đổi vô thường của vạn vật, vạn sự theo nhân duyên là thường còn
không thay đổi.
Trang 3
Do vậy toàn bộ thế giới đa dạng, phong phú, nhiều hình, nhiều vẻ cũng chỉ là dòng biến
hoá hư ảo vô cùng, không có gì là thường định, là thực, là không thực có sinh, có diệt, có người,
có mình, có cảnh, có vật, có không gian, có thời gian. Đó chính là cái chân lý cho ta thấy được cái
chân thế tuyệt đối của vũ trụ. Thấy được điều đó gọi là “ chân như” là đạt tới cõi hạnh phúc, cực
lạc, không sinh, không diệt, niết bàn.
Thế giới của chúng sinh (loài người) cũng do nhân duyên kết hợp mà thành. Con người là

Nghiệp là cái do những hoạt động của ta, do hậu quả việc làm của ta, do hành động của
thân thể ta. Được gọi là “ thân nghiệp”, còn hậu quả của những lời nói của ta, phát ngôn của ta thì
được gọi làg “ khẩu nghiệp”. Hay những cái do ý nghĩ của ta, do tâm tuệ của ta gây nên được gọi
là ‘ý nghiệp”. Tất cả những thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp là do ta tham dục mà thành, do ta
muốn thoả mãn tham vọng của mình gây nên. Sở dĩ ta tham dục vì ta chưa hiểu đươc chân bản
vốn có của ta cũng như vạn vật là luôn luôn biến đổi không có gì là thường định và vĩnh viễn cả.
Cuộc đời con người là sự gánh chịu hậu quả của nghiệp đương thời và các kiếp sống trước rồi nó
tiếp tục chi phối cả đời sau. Nghiệp báo trong một đời là sự tổng hợp của các nghiệp gây ra trong
hiện tại cộng với các nghiệp gây ra trong quá khứ, nó quyết định đời sau xấu hay tốt, thiện hay ác.
Luân hồi có nghĩa là bánh xe quay tròn. Đạo phật cho rằng, sau khi một thể xác sinh vật
nào đó chết thì linh hồn sẽ tách ra khỏi thể xác và đầu thai vào một sinh vật khác nhập vào một
Trang 4
thể xác khác (có thể là con người, loài vật thậm chí cỏ cây). Cứ thế mãi do kết quả, quả báo hành
động của những kiếp trước gây ra. Đó cũng là cách lý giải căn nguyên nỗi khổ ở đời con người.
Sau khi lý giải được nỗi khổ ở cuộc đời con người là do “ thập nhị nhân duyên” làm cho
con người rơi vào bể trầm luân. Đạo Phật đã chủ trương tìm con đường diệt khổ. Con đường giải
thoát đó không những đòi hỏi ta nhận thức được nó mà cao hơn ta phải hành động, phải thấm
nhuần tứ diệu đế. Tứ diệu đế là bốn sự thật chắc chắn, bốn chân lý lớn, đòi hỏi chúng sinh phải
thấu hiểu và thực hiện nó. Tứ diệu đế gồm: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế.
Khổ đế: Con người và vạn vật sinh ra là khổ, ốm đau là khổ, già yếu là khổ, chết là khổ,
ghét nhau mà phải sống gần nhau là khổ, yêu nhau mà phải chia lìa nhau là khổ, mất là khổ mà
được cũng là khổ.
Tập đế: Đó là do con người có lòng tham, dâm (giận dữ ), si ( si mê, cuồng mê, mê muội)
và dục vọng. Lòng tham và dục vọng của con người xâu xé là do con người không nắm được
nhân duyên, vốn như là một định luật chi phối toàn vũ trụ, chúng sinh không biết rằng mọi cái là
ảo ảnh, sắc sắc, không không. Vì không hiểu được ra nỗi khổ triền miên, từ đời này qua đời khác.
Diệt đế: Là phải thấu hiểu được “ Thập nhị nhân duyên” để tìm ra được căn nguyên của sự
khổ – để dứt bỏ từ ngọn cho đến gốc rễ của cái khổ. Thực chất là thoát khỏi nghiệp chướng, luân
hồi, sinh tử.
Đạo đế: Là con người ta phải theo đế diệt khổ, phải đào sâu suy nghĩ trong thế giới nội tâm

Trang 5
+ Trí giới: Trung thành với điều răn, kiên trì tu luyện.
+ Nhẫn nhục: Phải biết kiên nhẫn, nhường nhịn, chịu đựng để làm chủ được mình.
+ Tịnh tiến: Cố gắng nỗ lực vươn lên.
+ Thiền định: Tư tưởng phải tập trung vào điều ngay, chính không để cho cái xấu che lấp.
+ Bát nhã: Trí tuệ thấy rõ hết, hiểu thấu hết mọi chuyện trên thế gian.
Tóm lại: Phật giáo cho rằng chỉ có bằng sự kiên định để thực hiện “Bát hành đạo”, “Ngũ
giới”, “Lục độ” thì chúng sinh mới có thể giải thoát mình ra khỏi nỗi khổ. Phật giáo không chủ
trương giải phóng bằng cách mạng xã hội. Mặc dù Phật giáo lên án rất gay gắt chế độ người bóc
lột người, chống lại chủ nghĩa duy tâm cua Bàlamôn giáo. Đó là một trong những nhược điểm
đồng thời cũng là ưu điểm nửa vời của Đạo phật. Đứng trước bể khổ của chúng sinh Phật giáo
chủ trương cải tạo tâm linh chứ không phải cải tạo thế giới hiện thực. Như vậy Phật giáo nguyên
thuỷ có tư tưởng vô thần, phủ nhận đấng sáng tạo ( vô ngã, vô tạo giả) và có tư tưởng biện chứng
( vô thường, lý thuyết Duyên khởi ). Tuy nhiên, Triết học Phật giáo cũng thể hiện tính duy tâm
chủ quan khi coi thế giới hiện thực là ảo giả và do cái tâm vô minh của con người tạo ra.
1.3 Sự truyền bá Phật giáo trên thế giới
Trước khi Thích ca Mâu Ni tạ thế, các khu vực truyền bá Đạo Phật chủ yếu ở miền Trung
lưu vực Sông Hằng, đặc biệt xung quanh các khu vực thành phố lớn mới nổi lên. Sau khi ngài tạ
thế, Đạo Phật dần mở rộng đến hạ lưu sông Hằng về phía Đông, phía Nam đến bờ sông
Caođaveri, phía Tây đến bờ biển Arập, phía Bắc tới khu vực Thaiysiro. Ở thời kỳ thống trị của
vua Asôca thuộc vương triều Maurya, Đạo phật bắt đầu phát triển tới các cùng biển của thứ Đại
lục, Đông tới Miama, Nam tới Xrilanca, Tây tới Xyri, Aicập …. Nhanh chóng trở thành tôn giáo
mang tính thế giới. Sau khi vương triều Casan (kushan) hưng khởi lại truyền tới Iran, các nơi ở
trung tâm Châu á, rồi qua con đường tơ lụa truyền vào Trung Quốc. Những năm gần đây ở một số
nước như: Italya, Thuỵ sỹ, thuỵ Điển, Tiệp …. Việc nghiên cứu Đạo Phật cũng rất sôi nổi, đã xây
dựng nên không ít cơ sở nghiên cứu Phật giáo và trung tâm nghiên cứu Phật học.
Trước đây Phật giáo được coi là một trong ba tôn giáo lớn của thế giới, nhưng trong những
năm gần đây do sự suy yếu của một số quốc gia, số tín đồ Phật giáo đã tụt xuống đứng sau Đạo
Cơ Đốc, Đạo Ixlam và Đạo ấn Độ, chiếm vị trí thứ tư. Căn cứ thống kê của “ Bách khoa toàn thư
Cơ Đốc giáo thế giới” xuất bản ở Oxford năm 1982, toàn thế giới hiện có 295.570.780 tín đồ Phật

Việt Nam vốn không phải một sự kiện đơn độc mà kéo theo nó là cái ảnh hưởng của tổng thể văn
hoá ấn độ đối với Việt Nam cổ diễn ra trên nhiều lĩnh vực: nông nghiệp, y dược, âm nhạc, vũ đạo,
ngôn ngữ.
Về khách quan, ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ là một đối trọng của văn hoá Trung Hoa
trên đất Việt, nó có tác dụng trung hoà sự ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hoá Trung Hoa; nó góp
sức cùng nền văn hoá Việt Nam cổ ngăn chặn sự đồng hoá của văn minh Trung Hoa, nó hội nhập
và làm giàu, làm nên cái khác của văn hoá Việt với văn hoá Trung Hoa.
Người Việt cổ, tổ tiên chúng ta vốn có một nội lực tự sinh quật cường, bất khuất, thích lối
sống riêng tự do thuần phác từ thời Bắc thuộc, một lối sống không quá ngăn cách giữa vua và
dân, một lối sống khá bình đẳng giữa cha và con, bình đẳng giữa vợ và chồng. đạo Phật đã chủ
trương bình đẳng, Phật là đức Phật đã thành, chúng sinh là Đức Phật sẽ thành, chúng sinh đều có
Phật tính, đều bình đẳng trước Phật. Nếu như Nho giáo Việt Nam dựng ra cái Đình ở làng quê với
một “ tiểu triều đình” trọng nam khinh nữ thì dân quê Việt Nam dựng và bảo vệ chùa, chùa làng
của dân gian và trước hết là giới đàn bà được loại khỏi sinh hoạt ở Đình đều có thể sinh hoạt thậm
chí trở thành lực lượng quan trọng trong sinh hoạt chùa làng.
Dòng Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài trong xã hội Việt Nam là Thiền Tông.
Thiền Tông có một số đặc điểm mà dân gian dễ chấp nhận. Phật giáo Thiền Tông ít bàn về lý luận
mà chuyển sang tông phong phong cách tu hành. Thiền Tông chủ trương “ Bất lập văn tự, giáo
ngoại biệt truyền trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành phật, tức tâm thị Phật”. Như vậy chủ chương
của Thiền tông là lôi kéo thế giới Tây Phương cực lạc về trần thế, đặt nó trong lòng con người,
tâm thị Phật. Thiền tông chủ trương lao động theo thanh qui của Bách Trượng (720-814): “ Nhất
nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (một ngày không làm, một ngày không ăn) và lấy việc phục vụ
xã hội làm điều kiện tu hành. Điều này khiến cho các tăng nhân không phải là một tầng lớp ăn
bám xã hội.
Thiền tông lại chấp nhận sự bần khổ coi sự chịu đựng bần khổ cũng là cách tu hành. Chấp
nhận bần khổ và lao động là điều khiến Thiền Tông dễ đi vào nông thôn, dễ bám vào làng xã,
đứng được trong làng quê. Thiền tông có khi còn đi xa hơn nữa, cho phép sát sinh, giết người,
giết mội người mà cứu được muôn người quả là điều phúc. Phật tử không hoàn toàn là người bị
động mà có thể vùng lên chống áp bức bóc lột. Do vậy ở Việt Nam thời phong kiến cũng có nhiều
cuộc nổi dậy giành chính quyền do nhà sư lãnh đạo.

lớn, năng động, lạc quan, tin tưởng, mở rộng sáng tạo. Những phẩm chất này phần lớn trái với
giáo lý nhà Phật, vì tham vọng trái với cấm dục, vô dục, ly dục của Nhà Phật … Vì vậy việc cần
làm hiện nay là phải xác định rõ Phật giáo có ảnh hưởng đến hệ tư tưởng của người Việt Nam
như thế nào để từ đó đưa ra những chính sách phát triển phù hợp với lòng dân, phát huy những
mặ tích cực của phật giáo góp phần làm cho xã hội ngày càng phát triển tiến bộ và tốt đẹp hơn.
3. Một số giá trị và hạn chế của triết lí đạo phật trong việc xây dựng con người Việt
Nam
3.1. Về bản chất tư duy biện chứng trong triết học phật giáo:
Hơn tất các học thuyết khác của phương đông, phật giáo chú ý đến mặt phát triển tự nhiên
của con người, đó là sinh, lão, bệnh, tử. Bốn chặng đó của cuộc đời đã nói lên sự phát triển tất
yếu của con người mà nếu ai đó nhận thức được sẽ không sợ hãi trước sự thay đổi của cuộc đời,
thậm chí còn sống lạc quan bình thản trước cái chết.
Phật giáo là một tôn giáo nhưng trong triết lý của nó có những yếu tố vô thần, duy vật và
biện chứng. Phật giáo đã đề cập đến vấn đề ngũ uẩn là những vấn đề có ý thức luận sâu xa. Tuy
đối tượng đó là tâm và tính chất là duy tâm nhưng trong quá trình ngũ uẩn chứa đựng một quá
trình nhận thức hợp lí: Từ sự vật khách quan (sắc), con người cảm thụ được (thụ), suy nghĩ
(tưởng), rồi đem hiện (hành) và cuối cùng là biết ( thức). Ở đây nếu đem bóc cái thần bí ra ta thấy
có những điểm hợp lí với quy luật nhận thức của con người.
Phật giáo đề cập đến mối nhân duyên, đến mối quan hệ nhân quả, đến việc xét sự vật phải
từ kết quả tìm ra nguyên nhân và xem kết quả này là nguyên nhân từ kết quả khác trong mối quan
hệ khác. Phật giáo đã đưa vào hệ tư tưởng Việt Nam những nét quan niệm biện chứng với các
khái niệm “vô thường”, ‘vô ngã’. Cho thấy phật giáo nhìn sự vật trong sự vận động biến đổi liên
tục không có gì là tồn tại mãi mãi, không có ai là tồn tại mãi mãi. Nhận thức được như vậy là
cũng có chiều sâu, là thấy được phương diện cơ bản của sự phát triển sự vật, tuy nhiên nhận thức
Trang 8
đó chỉ nhìn thấy cái biến đổi mà không nhìn thấy cái ổn định tương đối, chỉ thấy được cái vận
động mà không thấy được cái hình thức vận động sẽ đi đến chiều hướng bi quan buông xuôi. Bên
cạnh đó, tư tưởng biện chứng của phật giáo có những mâu thuẫn: khi xem xét các sự vật, hiện
tượng trong mối liên hệ nhân quả, tồn tại trong biến đổi nhưng ở cõi niết bàn thì mọi sự vật tồn tại
trong vĩnh hằng. Như vậy, phật giáo đã phủ nhận sự vận động, biến đổi trên cõi niết bàn.

4. Vận dụng một số quan điểm triết học của Phật giáo trong công tác quản lí giáo dục
(QLGD) ở trường học
4.1. Mục tiêu, nhiệm vụ, chức năng công tác quản lí giáo dục ở trường học tiểu học
Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức,
sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;
hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây
dựng và bảo vệ tổ quốc.
QLGD ở trường học thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo
dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã
hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà
trường và đảm bảo mục tiêu giáo dục.
Chức năng quản lý là những hình thức thực hiện những tác động của chủ thể đến đối tượng
quản lý thông qua những nhiệm vụ mà chủ thể cần được thực hiện trong quá trình quản lý. Các
Trang 9
chức năng cơ bản trong quản lý giáo dục là: Chức năng hoạch định; chức năng tổ chức; chức
năng điều hành; chức năng kiểm tra.
Phương pháp QLGD trong nhà trường là phương thức tác động của người hiệu trưởng-nhà
quản lý - tới nhận thức, tình cảm và hành vi của cá nhân và tập thể cán bộ giáo viên, học sinh và
tập thể học sinh nhằm thực hiện mục tiêu quản lí của nhà trường.
Đối tượng QLGD trong trường học là môi trường thiên nhiên, cơ sở vật chất phương tiện kĩ
thuật và con người (CB GV CNV và HS). Trong đó, con người cùng với các hoạt động thực hiện
mục tiêu giáo dục là đối tượng quản lý chủ yếu vì con người vừa là chủ thể thực hiện mục tiêu
giáo dục vừa là đối tượng của mục tiêu giáo dục .
Chủ thể QLGD trong trường học - người quản lý, là những cá nhân thực hiện các chức
năng và nhiệm vụ quản lý nhất định của bộ máy quản lý nhằm đưa tổ chức đạt được mục tiêu đề
ra. Thực hiện đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước trong phạm vị trách nhiệm của mình tức
là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào
tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh. Trong trường học, người hiệu
trưởng vừa là nhà quản lí, vừa là nhà lãnh đạo - người dẫn dắt cấp dưới thực hiện mục tiêu của
tổ chức hay là người chịu trách nhiệm điều khiển mọi hoạt động của tổ chức.

nhà trường hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục;
Trang 10
- Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phối hợp tổ chức, huy động các lực lượng xã hội cùng
tham gia hoạt động giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng.
Như vậy, thực hiện tốt hay không là tùy thuộc vào những phẩm chất và năng lực của người
hiệu trưởng. Do vậy vai trò tổ chức quản lý của hiệu trưởng có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với mọi
hoạt động của nhà trường.
Hiệu trưởng trường tiểu học là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lí các hoạt động và
chất lượng giáo dục của nhà trường, là một trong những nhân tố quan trọng trong việc thực hiện
mục tiêu nhiệm vụ của nhà trường. Do đó, muốn đạt được những yêu cầu này, hiệu trưởng cần
phải có những phẩm chất, năng lực nhất định, để quản lý điều hành nhà trường thực hiện tốt
nhiệm vụ giáo dục theo đúng quan điểm của Đảng và Nhà nước.
4.3. Đặc điểm tình hình chung của trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm
Về điều kiện tự nhiên: Trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm được thành lập tháng 8/1996,
trên cơ sở tách từ trường TH Lê Văn Tám. Khuôn viên trường có diện tích 3190 m2, đóng tại ấp 5
xã Sông Trầu huyện Trảng Bom, Đồng Nai. Là một trường thuộc vùng nông thôn và là vùng đặc
biệt khó khăn giai đoạn 2013-2015 theo quyết định số 539/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ.
Sông Trầu là một xã có diện tích lớn, số dân đông, phần lớn dân cư là nhân dân đến từ hầu hết các
vùng miền đất nước, chủ yếu sống bằng nghề nông. Là địa bàn có nhiều tôn giáo, người dân theo
tôn giáo chiếm tỷ lệ đáng kể, trong đó cơ bản là theo phật giáo và thiên chúa giáo. Trên địa bàn
xã có nhiều đơn vị và tổ chức xã hội như: đơn vị bộ đội, các trường học, các doanh nghiệp, công
ty TNHH
Về cơ sở vật chất, trang thiết bị: Có 11 phòng học; 4 phòng làm việc (Văn phòng, Thư
viện. phòng HT, phòng PHT). Thiết bị công nghệ thông tin có: 02 bộ máy chiếu projecto; 5 máy
vi tính và 01 mạng wifi. Từ năm học 2009-2010, trường đạt danh hiệu “Trường xanh - sạch - đẹp
cấp tỉnh”.
Về đội ngũ, tổng số có 36 CB GV CNV, trong đó cán bộ quản lý: 3 người; nhân viên phục
vụ: 6 người; GV: 29 người. Chất lượng đội ngũ (chia theo trình độ chuyên môn): Đại học: 26
người; Cao đẳng: 2 người; Trung cấp: 7 người; Trình độ khác: 1 người. Trong đội ngũ CB GV
CNV nhà trường không có ai là người theo một tôn giáo, song đa số đều có sự ảnh hưởng của

nghiệp vụ chuyên môn của công tác quản lí giaó dục, phải tích cực học tập, học hỏi nhằm không
ngừng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ. Đồng thời coi trọng nhiệm vụ nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ cho đội ngũ CB GV CNV. Trong năm học, tạo điều kiện cho CB GV CNV học
tập trau dồi chuyên môn nghiệp vụ như: thường xuyên tổ chức các chuyên đề, hội thi, hội giảng,
dự giờ …; quan tâm đầu tư trang thiết bị dạy học.
*/ Về phẩm chất chính trị:
Vô minh cũng có nghĩa là không biết, không thấu hiểu triết lí nhà Phật. Đối với người làm
công tác GD cần phải có phẩm chất chính trị vững vàng, có thế giới quan khoa học đó chính là
chủ nghĩa mác Lê-nin và TT HCM và được Đảng và Nhà nước ta cụ thể hóa bằng các chủ trương,
đường lối, chính sách. Vì thế, Hiệu trưởng luôn quan tâm công tác tuyên truyền, giáo dục chính
trị cho đội ngũ CB GV CNV, thực hiện đúng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp
luật Nhà nước, lưu ý nắm bắt kịp thời các chủ trương, chính sách mới.
*/ Về đạo đức lối sống:
Bác Hồ kính yêu của dân tộc ta đã dạy: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công,
thành công, đại thành công".
Để xây dựng tập thể nhà trường đoàn kết thì người hiệu trường cần nên biết phát huy các
phẩm tốt đẹp của phật giáo như: tinh thần bình đẳng, lòng từ bi (cứu nhân độ thế), độ lượng, tuân
thủ “Bát chánh đạo”, thực hiện tốt “Ngũ giới”, “Lục độ”….
Đẩy mạnh phát huy tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau trong tập thể nhà trường, xây
dựng các mối quan hệ trong nhà trường trên tinh thần đồng chí đồng nghiệp, nhất là trong công
tác đánh giá, thi đua khen thưởng phải đảm bảo công bằng, khách quan, đúng người đúng việc
không phân biệt thủ trưởng-nhân viên, người thân-người sơ. Trong giao tiếp, giảng dạy, đánh giá
HS, không phân biệt HS nam với HS nữ, HS khuyết tật với HS phát triển bình thường, HS là con
em người thân với HS khác, HS dân tộc Kinh với HS dân tộc thiểu số, HS theo đạo với HS không
theo đạo…
Tổ chức thực hiện tốt các cuộc vận động, các phong trào do ngành và địa phương phát
động. Thường xuyên tổ chức các chương trình, các đợt vận động quyên góp ủng hộ HS nghèo,
HS có hoàn cảnh khó khăn. Tích cực tham gia các đợt vận động ủng hộ đồng bào vùng bị thiên
tai. Vận động GV và HS thường xuyên quan tâm gíup đỡ đối với HS khuyết tật, khó khăn, HS có
học lực yếu. Nhằm giáo dục đức tính biết giúp đỡ, chia sẻ, nhường nhịn người khác (nhẫn),

người là do con người xây đắp nên. Con người thấm nhuần giáo lý Phật, con người vị tha, từ bi,
hỉ, xả sẽ kiến lập một xã hội hoà bình, an lạc, công bằng, mọi người sống vì lợi ích của nhau, của
tập thể. Trái lại, con người ích kỷ chỉ biết mình, hại người, con người sống tàn bạo, độc ác thì cái
gì trong tay con người cũng sẽ trở thành khí cụ sát hại và xã hội của những con người ấy là xã hội
của địa ngục, xã hội áp bức bóc lột. Do đó, trong công tác quản lí giáo dục trường học, nhiệm vụ
xây dựng, phát huy và bồi đắp những phẩm chất tốt đẹp cho mỗi con người trong tập thể sư phạm
phải thực hiện thường xuyên và trong tất cả các hoạt của nhà trường; trong quá trình thực hiện
cần phát huy và kết hợp chặt chẽ với các lực lượng trong và ngoài nhà trường.
Quản lí và quản lí giáo dục nói riêng là hoạt động vừa mang tính khoa học vừa mang tính
nghệ thuật. Đối với hoạt động quản lí giáo dục, đối tượng và mục đích của hoạt động đều là con
người. Để hoạt động quản lí giáo dục trong nhà trường đạt hiệu quả, người hiệu trưởng cần phải
nắm được nguyện vọng, tâm tư tình cảm của từng CB GV CNV, hiểu được tâm lí GV và HS.
Trong giao tiếp cần phải quan tâm, gần gũi và vui vẻ, hòa đồng với mọi người; Phải biết kiềm chế
trước sự xung đột, căng thẳng; biết lắng nghe và có tư tưởng cầu thị đối với những ý kiến phê
bình xây dựng; Phải chú ý xây dựng, vun đắp mở rộng các mối quan hệ lành mạnh. Trong cuộc
sống, luôn tu dưỡng rèn luyện về đạo đức lối sống, cương quyết gạt bỏ những ham muốn dục
vọng tầm thường, đấu tranh với lối sống buông thả. Tôn trọng và sẵn sàng giúp đỡ hỗ trợ nhau
trong công việc; Tin tưởng và biết cách phát huy khả năng, năng lực riêng của mỗi người. Luôn
Trang 13
biết cách lạc quan, bình tĩnh trước những khó khăn thách thức. Trong xử lí công việc cần chú ý
xem xét trong mối quan hệ nguyên nhân- kết quả; kịp thời đánh giá rút kinh nghiệm.
III. KẾT LUẬN
1. Kết luận
Qua những vấn đề cơ bản trong Phật học, ta thấy Đạo Phật là một hệ thống tư tưởng thống
nhất quy tụ về Nhất Thừa Phật pháp. Tất cả giáo lý Phật là nền tảng cho việc xây dựng con người
vị tha và coi cuộc sống vị tha là lý tưởng cao quý nhất của đời mình, tiến tới con người từ, bi, hỷ,
xả, con người Phật. Vì thế vấn đề nhân vị trong đạo Phật là một vấn đề quan trọng, đạo Phật cho
rằng con người là tất cả, con người quyết định số phận của mình, quyết định hình thái xã hội. Con
người ác chỉ biết lợi mình hại người tạo ra một xã hội với áp bức bất công. Con người thiện, sống
vị tha xây dựng một xã hội tiến bộ, lành mạnh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status