Vận dụng một số kỹ thuật dạy học tích cực để nâng cao chất lượng học sinh trong giảng dạy địa lí 7 - Pdf 22

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT CẨM THỦY
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI
VẬN DỤNG MỘT SỐ KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC SINH
TRONG GIẢNG ĐỊA LÍ 7
Người thực hiện: Phạm Thị Phương Hoàn
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Cẩm Ngọc, Cẩm Thủy
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Địa lý

THANH HOÁ NĂM 2013
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục là nền tảng của xã hội, là cơ sở tiền đề để quyết định sự phồn
vinh của đất nước. Giáo dục cung cấp những hiểu biết về kho tàng tri thức của
nhân loại cho biết bao thế hệ, giúp cho các em những hiểu biết cơ bản cần thiết
về khoa học và cuộc sống. Mặt khác giáo dục còn góp phần hình thành và bồi
dưỡng nhân cách tốt đẹp cho học sinh
Vậy để giáo dục có hiệu quả và đạt chất lượng cao, trong quá trình giảng
dạy chúng ta cần thiết phải đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học, trong đó
đổi mới phương pháp nhằm phát huy tích tích cực của học sinh là vấn đề quan
trọng. Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học được xác định trong nghị
quyết Trung ương 4 khóa VII(1-93), nghị quyết Trung ương 2 khóa VII (12-
1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (2005), trong chỉ thị của Bộ Giáo
dục và Đào tạo, đăc biệt chỉ thị số 14(4-1999). Luật Giáo dục, điều 28.2, đã ghi
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi
dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng
thú học tập cho học sinh”.

thật cần thiết.
Phạm Thị Phương Hoàn – THCS Cẩm Ngọc
3
2. Kĩ thuật dạy học
Kỹ thuật dạy học là biện pháp, cách thức tiến hành các hoạt động dạy học
dựa vào các phương tiện thiết bị nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả giảng
dạy và giáo dưỡng hay có thể nói cách khác đó là cách thức hoạt động dạy học,
tổ chức hoạt động giáo dưỡng để bảo đảm hiệu quả, chất lượng giảng dạy.
Các kỹ thuật dạy học chưa phải là các phương pháp dạy học độc lập,
chúng là những thành phần của phương pháp dạy học. Kỹ thuật dạy học là đơn
vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học. Trong mỗi phương pháp dạy học có nhiều
kỹ thuật dạy học khác nhau, kỹ thuật dạy học khác với phương pháp dạy học.
Tuy nhiên, vì đều là cách thức hành động của giáo viên và học sinh, nên kỹ thuật
dạy học và phương pháp dạy học có những điểm tương tự nhau, khó phân biệt rõ
ràng.
Năng lực sử dụng các kỹ thuật dạy học khác nhau trong từng giáo viên và
nó được xem là rất quan trọng đối với người đứng lớp, nhất là trong bối cảnh đổi
mới phương pháp dạy học hiện nay ở trường phổ thông. Rèn luyện để nâng cao
năng lực này là một nhiệm vụ, một vấn đề thật cần thiết của mỗi giáo viên, nhằm
đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng dạy và học ở nhà trường.
Kỹ thuật dạy học tích cực là những kỹ thuật dạy học có ý nghĩa đặc biệt
trong việc phát huy sự tham gia tích cực của học sinh vào quá trình dạy học,
kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của học sinh.
Có rất nhiều kỹ thuật dạy học khác nhau mà người giáo viên có thể sử
dụng trong quá trình giảng dạy để phát huy tính tích cực của học sinh. Và trong
đề tài này chỉ mới đề cập đến một số kỹ thuật dạy học tích cực thường xuyên sử
dụng trong giảng dạy địa lí 7. Bao gồm các kỹ thuật: kỹ thuật đặt câu hỏi, kỹ
thuật khăn phủ bàn, kỹ thuật mảnh ghép, kỹ thuật sơ đồ tư duy.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Phạm Thị Phương Hoàn – THCS Cẩm Ngọc

Qua các lần kiểm tra đối với lớp 7A tôi có sử dụng đồ dùng dạy học và một
số phương pháp dạy học thông thường, chủ yếu học sinh khá- giỏi tham gia học
tập, số học sinh yếu ít có cơ hội tham gia hoạt động. Chính vì thế nên việc học
tập thường ít hứng thú, nội dung đơn điệu, giáo viên ít quan tâm đến phát triển
năng lực cá nhân.
Đầu năm học 2012 – 2013 tôi đã tiến hành khảo sát tình trạng học tập
của học sinh lớp 7A và thu được kết quả như sau:
Kết quả khảo sát của lớp 7A
Sĩ số học sinh lớp: 31 hs
Nội dung Thường xuyên Đôi khi Không
Chú ý nghe giảng
17 10 4
Tham gia trả lời câu hỏi
16 8 7
Nhận xét ý kiến của bạn
15 9 7
Tự giác làm bài tập
18 8 5
Qua kết quả kiểm tra trên cho thấy: mức độ chú ý nghe giảng còn hạn
chế. Học sinh tham gia trả lời câu hỏi, nhận xét ý kiến của bạn còn ít, vẫn còn
học sinh chưa tự giác làm bài tập. Đồng thời, ở nhiều học sinh hoạt động giao
tiếp, kỹ năng sống rất hạn chế, chưa mạnh dạn nêu chính kiến của mình trong
các giờ học, không dám tranh luận nhất là với thầy cô giáo, chưa có thói quen
hợp tác trong học tập đã ảnh hưởng rất không tốt đến việc học tập của HS. Có
Phạm Thị Phương Hoàn – THCS Cẩm Ngọc
6
nhiều nguyên nhân cho những hạn chế trên nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là
do phương pháp giáo dục.
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Trong quá trình giảng dạy địa lí 7 bản thân tôi đã tích cực sử dụng tối đa

học
Bài học Tên bài Tên mục sử dụng kỹ thuật
mảnh ghép
Tiết 2 Bài 2 Sự phân bố dân cư, các Mục 2: Các chủng tộc
Phạm Thị Phương Hoàn – THCS Cẩm Ngọc
8
chủng tộc trên thế giới
Tiết 3 Bài 3 Quần cư. Đô thị hóa Mục 1: Quần cư nông thôn và
quần cư đô thị
Tiết 6 Bài 6 Môi trường nhiệt đới Mục 1: Khí hậu
Tiết 7 Bài 7 Môi trường nhiệt đới gió
mùa
Mục 1: Khí hậu
Tiết 8 Bài 9 Hoạt động sản xuất nông
nghiệp ở đới nóng
Mục 1: Đặc điểm sản xuất
nông nghiệp
Tiết 14 Bài 13 Môi trường đới ôn hòa Mục 2: Sự phân hóa của môi
trường
Tiết 18 Bài 17 Ô nhiễm môi trường ở đới
ôn hòa
Mục 2: Ô nhiễm nước
Tiết 19 Bài 18 Thực hành: Nhận biết đặc
điểm môi trường đới ôn hòa
Mục 1: Xác định các biểu đồ
tương quan nhiệt ẩm của đới
ôn hòa.
Tiết 20 Bài 19 Môi trường hoang mạc Mục 1: Đặc điểm của môi
trường
Tiết 31 Bài 30 Kinh tế châu Phi Mục 1: Nông Nghiệp

(nhóm 2,4,6,8) thảo luận 1 nội dung bài học. Sau thời gian 2 đến 3 phút các
thành viên trong nhóm đã nắm vững nội dung thảo luận của nhóm mình.
Sang giai đoạn 2 giáo viên yêu cầu các nhóm lẻ sẽ quay xuống dưới và
tạo thành nhóm mới là các nhóm: 1 và 2 tạo thành nhóm A; 3 và 4 là nhóm B; 5
và 6 là nhóm C; 7 và 8 tạo thành nhóm D. Như vậy ở vòng 2 này các nhóm mới
đã biết đầy đủ nội dung bài học và điền kết quả thảo luận vào bảng phụ để trình
bày trước lớp.
Khi áp dụng kỹ thuật mảnh ghép nếu chia nhóm như ở trên thi học sinh
không phải thay đổi chỗ ngồi nhiều gây lộn xộn lớp. Đồng thời tham gia tích
cực quá trình thảo luận và nắm vững nội dung bài học
* Ví dụ cụ thể: Tiết 18 – bài 17 : Ô nhiêm môi trường ở đới ôn hòa
Mục 2 : Ô nhiễm nước.
- Giai đoạn 1: GV chia lớp thành 8 nhóm (theo 8 bàn), yêu cầu các nhóm
dựa vào sgk + hiểu biết của bản thân + hình ảnh trên bảng làm vào phiếu học tập
số 1
+ Nhóm lẻ: tìm hiểu nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước sông và hậu quả tới
thiên nhiên và con người?
+ Nhóm chẵn: tìm hiểu nguyên nhân gây ô nhiễm nước biển? Hậu quả?
Phiếu học tập số 1a(nhóm lẻ) Phiếu học tập số 1b(nhóm chẵn)
Phạm Thị Phương Hoàn – THCS Cẩm Ngọc
10
- Giai đoạn 2: Sau thời gian 3 phút GV yêu cầu các nhóm 1 và 2; 3 và 4; 5
và 6; 7 và 8 quay lại tạo thành 4 nhóm mới và thảo luận thống nhất nội dung
điền vào bảng phụ nguyên nhân và tác hại của ô nhiễm nước sông và biển.
- Sau 3 phút đại diện các nhóm lên báo cáo, các nhóm khác nhận xét bổ xung.
Phạm Thị Phương Hoàn – THCS Cẩm Ngọc
Ô NHIỄM NƯỚC NGỌT
Nguyên
nhân


Hậu quả
- Gây bệnh tật cho con
người (bệnh ngoài da, bệnh
đường ruột, ung thư )
- Ảnh hưởng xấu đến
ngành nuôi trồng thuỷ sản
- Tạo ra hiện tượng thuỷ triều đen, thuỷ
triều đỏ gây chết ngạt nhiều sinh vật
biển.
- Ảnh hưởng xấu đến ngành nuôi trồng
hải sản, huỷ hoại cân bằng sinh thái.
11
- GV chuẩn kiến thức bổ xung thêm kiến thức:
+ Thủy triều đỏ: Do dư thừa lượng đạm và Nitơ nước thải sinh hoạt, phân bón
hóa học đối với loài tảo đỏ chứa chất độc phát triển nhanh chiếm hết lượng khí
oxi trong nước khiến cho cả hệ sinh thái biển vùng cửa sông, ven bờ chết hàng
loạt, gây cản trở giao thông, ảnh hưởng đến hệ sinh thái . Ô nhiễm nặng vùng
ven bờ.
+ Thủy triều đen: Sự ô nhiễm dầu mỏ nghiêm trọng nhất cho biển về môi
trường. Màng váng dầu ngăn cản việc tiếp xúc giữa nước và không khí làm cho
thức ăn của động vật bị suy giảm. Váng dầu cùng 1 số chất độc khác hòa tan vào
trong nước lắng xuống sâu gây hại cho hệ sinh thái đáy biển, hủy diệt sự sống
trên biển và ven biển.
Một số hình ảnh áp dụng kỹ thuật “mảnh ghép” trong giảng dạy địa lí 7 ở trường
THCS Cẩm Ngọc:
Phạm Thị Phương Hoàn – THCS Cẩm Ngọc
12
Học sinh làm việc theo nhóm "chuyên sâu"
Học sinh làm việc theo nhóm "mảnh ghép"
Học sinh trình bày kết quả làm việc của nhóm (KT mảnh ghép)

quanh. Phần xung quanh được chia theo số thành viên của nhóm. Mỗi người
ngồi vào vị trí tương ứng với phần xung quanh.
− Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, tập trung suy nghĩ
trả lời câu hỏi theo cách hiểu riêng của mỗi cá nhân và viết vào phần giấy của
mình trên tờ A0.
− Trên cơ sở ý kiến của mỗi cá nhân học sinh thảo luận nhóm, thống nhất ý
kiến và viết vào phần chính giữa của tờ giấy A0 “khăn phủ bàn”
2.3 Vận dụng kỹ thuật “khăn phủ bàn” vào chương trình Địa lý 7
Trong chương trình Địa lí 7 có thể sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn vào tất
cả các bài học. Tuy nhiên kỹ thuật này cũng mất nhiều thời gian nên trong
giảng dạy địa lí 7 bản thân tôi đã sử dụng vào một số bài với những câu hỏi thảo
luận là câu hỏi mở như sau:
Tiết
học
Bài
học
Tên bài Tên mục Nội dung thảo luận
Tiết 9 Bài
10
Dân số và sức ép
dân số tới tài
nguyên, môi
trường ở đới nóng
Mục 2: Sức ép
của dân số tới
tài nguyên,
môi trường
Ảnh hưởng của dân số tới tài
nguyên, môi trường ở đới
nóng?

Hoạt động kinh tế
của con người ở
hoang mạc
Mục 2: Hoang
mạc đang ngày
càng mở rộng
Nêu các biện pháp nhằm hạn
chế sự phát triển của hoang
mạc?
Tiết
32
Bài
31
Kinh tế châu Phi
(tiếp theo)
Mục 4: Đô thị
hóa
Nêu những vấn đề kinh tế xã
hội nảy sinh do sự bùng nổ
dân số đô thị ở châu Phi?
* Ví dụ cụ thể: Tiết 18 – bài 17: Ô nhiễm môi trường ở đới ôn hòa
(Phần liên hệ thực tiễn địa phương)
- GV nêu câu hỏi thảo luận: Là học sinh, em sẽ làm gì để góp phần bảo vệ môi
trường?
- GV chia lớp thành 4 nhóm mỗi nhóm từ 7 đến 8 thành viên (Vì lớp học có 31
học sinh), phát cho mỗi nhóm 1 tờ A0. Trên giấy A0 chia thành các phần gồm
phần chính giữa và phần xung quanh. phần xung quanh đuợc chia thành 8 phần
nhỏ dành cho 8 hoc sinh.
- Mỗi cá nhân suy nghĩ, trả lời câu hỏi vào phần giấy của mình trên "khăn phủ
bàn"

của dạy học theo nhóm: trong dạy học theo nhóm nếu tổ chức không tốt đôi khi
chỉ có các thành viên tích cực làm việc, các thành viên thụ động thường hay ỷ
lại, trông chờ, không tích cực dẫn đến mất nhiều thời gian mà hiệu quả học tập
không cao.
Trong kỹ thuật “khăn phủ bàn” đòi hỏi tất cả các thành viên phải làm
việc cá nhân, suy nghĩ, viết ra ý kiến của mình trước khi thảo luận nhóm. Như
vậy có sự kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm. Từ đó các cuộc
thảo luận thường có sự tham gia của tất cả các thành viên và các thành viên có
cơ hội chia sẻ ý kiến, kinh nghiệm của mình, tự đánh giá và điều chỉnh nhận
thức của mình một cách tích cực. Nhờ vậy mà nâng cao hiệu quả học tập và phát
triển các kỹ năng sống cho học sinh.
Tuy nhiên kỹ thuật này cũng có nhược điểm là nếu giáo viên không chú
ý đôn đốc học sinh tích cực làm việc trong hoạt động cá nhân và hoạt động
nhóm thì sẽ mất nhiều thời gian trong giờ học.
Kỹ thuật này thích hợp nhất với những phòng học chức năng có bàn rộng
đủ để trải hết tờ giấy A0 cho các thành viên trong nhóm cùng viết ý kiến cá
nhân. Đối với trường THCS Cẩm Ngọc trong điều kiện cơ sở vật chất còn nhiều
hạn chế, còn thiếu các phòng chức năng, bàn học của học sinh nhỏ khó có thể để
đủ tờ giấy A0 lên bàn để các thành viên trong nhóm có thể viết cùng một lúc ý
kiến cá nhân. Có thể khắc phục hạn chế này bằng cách phát cho học sinh những
Phạm Thị Phương Hoàn – THCS Cẩm Ngọc
19
mảnh giấy nhỏ để học sinh ghi ý kiến cá nhân, sau đó đính vào phần xung quanh
“khăn phủ bàn”.
3. Sơ đồ tư duy
3.1 Khái niệm
Sơ đồ tư duy là kĩ thuật dạy học nhằm tổ chức và phát triển tư duy, giúp
người học chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não một
cách dễ dàng. Đồng thời là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu
quả.

để vẽ sơ đồ tư duy. Sau mỗi bài học, học sinh về nhà sẽ hệ thống lại bài bằng sơ
đồ tư duy. Mỗi khi kiểm tra miệng, học sinh sẽ phải mang vở sơ đồ tư duy cho
giáo viên kiểm tra. Cuối kỳ giáo viên sẽ thu vở sơ đồ tư duy để chấm lấy điểm
kiểm tra thường xuyên.
Dưới đây là một số ví dụ minh họa về sơ đồ tư duy mà học sinh đã vẽ
trong chương trình địa lí 7. Bao gồm:
+ Tiết 15 – Bài 13: Môi trường đới ôn hòa
+ Tiết 18 – Bài 17: Ô nhiễm môi trường ở đới ôn hòa

Phạm Thị Phương Hoàn – THCS Cẩm Ngọc
21
Phạm Thị Phương Hoàn – THCS Cẩm Ngọc
22
3. 4 Nhận xét.
Qua tìm hiểu về sơ đồ tư duy và thực tế giảng dạy có thể thấy rõ một số
tác dụng sơ đồ tư duy (SĐTD) như sau:
- SĐTD giúp học sinh học được phương pháp học: Việc rèn luyện
phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu
quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học. Thực tế cho thấy một số học sinh học
rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém, các em này thường học bài nào biết bài đấy,
học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau,
không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau. Phần lớn
số học sinh này khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi
chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình. Sử dụng
thành thạo BĐTD trong dạy học, học sinh sẽ học được phương pháp học, tăng
tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.
- SĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực. Một số kết quả nghiên
cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do
chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì vậy việc sử
dụng SĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng

dạy học, trong giờ học đã chú ý học hơn, số học sinh tham gia hoạt động đông
hơn làm cho tiết học sôi nổi, hào hứng, cởi mở và đạt kết quả cao hơn.
Vào cuối năm học 2012 – 2013 giáo viên tiến hành kiểm tra đối chứng
và đạt được kết quả như sau: Lớp 7A. Sĩ số: 31 học sinh
Nội dung Thường xuyên Đôi khi Không
Chú ý nghe giảng
28 3 0
Phạm Thị Phương Hoàn – THCS Cẩm Ngọc
24
Tham gia trả lời câu hỏi
26 5 0
Nhận xét ý kiến của bạn
25 5 1
Tự giác làm bài tập
29 2 0
kết quả học tập cuối học kì I cũng khá cao:
Tổng số học sinh Loại giỏi Loại khá Loại TB Loại yếu
Số HS 31 4 16 11 0
Tỉ lệ (%) 100 12,9 51,6 35,5 0
Đồng thời khi áp dụng các kỹ thuật dạy học tích cực vào giảng dạy tôi
nhận thấy học sinh yêu thích môn học hơn, số học sinh đăng kí thi học sinh giỏi
môn địa đông hơn và trong kì thi học sinh giỏi các cấp đã đạt được nhiều giải
cao hơn những năm trước.
Phần III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Qua quá trình nghiên cứu, điều tra,thử nghiệm, khảo sát thực tế, đề tài đã
được thực hiện và đã đạt một số kết quả:
Phạm Thị Phương Hoàn – THCS Cẩm Ngọc
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status