ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ
NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG
ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HOÁ
LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2005
(Qua khảo sát thực tế ở thành phố Thanh Hoá
và các huyện Thọ Xuân, Hoằng Hoá, Quảng Xương)
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2006
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ
NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG
ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HOÁ
LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN
QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2005
(Qua khảo sát thực tế ở thành phố Thanh Hoá và
các huyện Thọ Xuân, Hoằng Hoá, Quảng Xương)
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
3.1.1. Những thành công của Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá trong lãnh đạo
thực hiện QCDC ....................................................................................................109
3.1.2. Những ưu điểm trong sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh ..................................112
3.1.3. Một số hạn chế ……………………………………………………………...113
3.1.4. Tác động của việc thực hiện QCDC đối với đời sống nhân dân ............121
3.2. Một số kinh nghiệm ................................................................................129
3.2.1. Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng kết hợp với đề cao
quyền làm chủ của nhân dân …………………………………………………….129
3.2.2. Phải kết hợp tuyên truyền giáo dục với tổ chức thực hiện QCDC ……….132
3.2.3. Thực hiện QCDC gắn với các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội ………….135
Kết luận …………………………………………………………….…..…...…136
Tài liệu tham khảo ……………………………………………………...…...138
Phụ lục ………………………………………………………………….……...154
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
BCHTW
Ban chấp hành Trung ương
BCĐ
Ban chỉ đạo
BCĐTW
Ban chỉ đạo Trung ương
QCDC
Quy chế dân chủ
QCDCCS
Quy chế dân chủ ở cơ sở
QCTHDC
Quy chế thực hiện dân chủ
THQCDC
Thực hiện Quy chế dân chủ
UBND
Ủy ban nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 30-CT/TW về thực hiện
QCDCCS với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đặt
việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong cơ chế tổng thể của
- Đánh giá những kết quả bước đầu, bao gồm những thành công và hạn
chế trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh thực hiện QCDCCS.
- Bước đầu rút ra một số kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Thanh Hoá trong việc thực hiện nhiệm vụ trên.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Những chủ trương, biện pháp của Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá để lãnh đạo
thực hiện QCDCCS.
- Những hoạt động của các cấp uỷ đảng, chính quyền và đoàn thể quần
chúng ở Thanh Hoá.
- Kết quả việc thực hiện, kể cả thành công và hạn chế.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những điều kiện thuận lợi, khó khăn ở
địa phương chi phối sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong khoảng thời gian từ
năm 1998 đến năm 2005 ở Thanh Hoá trong việc thực hiện QCDC.
- Những chủ trương của Đảng và Chính phủ về THQCDC ở cơ sở.
- Hoạt động của các cấp bộ đảng và chính quyền ở địa phương.
- Hoạt động của các ban, ngành, đoàn thể ở tỉnh, huyện.
- Những hoạt động của quần chúng thực hiện QCDC.
- Sự biến đổi của tình hình kinh tế - xã hội do việc thực hiện quy chế này.
8
5. Nguồn tài liệu
- Các chỉ thị, nghị quyết của Đảng.
- Chỉ thị, nghị định của Chính phủ về thực hiện QCDCCS.
- Các văn kiện của Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá bao gồm: nghị quyết của Đại
hội Đảng bộ tỉnh, chỉ thị của Tỉnh uỷ, nghị quyết, báo cáo của UBND, HĐND.
- Các loại tài liệu của các ban, ngành ở địa phương.
Dân vận, Ban Tuyên giáo, Trung tâm lưu trữ hồ sơ Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở
Tư pháp, Sở Văn hoá - thông tin, Phòng xây dựng cơ sở và thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở thuộc Sở Nội vụ, thành uỷ Thành phố Thanh Hoá, huyện uỷ
và UBND các huyện Hoằng Hoá, Quảng Xương, Thọ Xuân, UBND Phường
Lam Sơn (thành phố Thanh Hoá) và một số cá nhân.
Luận văn cũng là kết quả của một quá trình học tập, nghiên cứu tại Khoa
Lịch sử, từ đại học đến cao học với sự giảng dạy, chỉ bảo của các thầy, cô
giáo trong Khoa và Bộ môn Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, nhất là sự
hướng dẫn, giúp đỡ của PGS.TS Vũ Quang Hiển.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
10
Chương 1
ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO TRIỂN KHAI
THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
TRONG NHỮNG NĂM 1998-2001
1.1. Những điều kiện có ảnh hƣởng đến việc thực hiện QCDC ở
Thanh Hoá
1.1.1. Tình hình Thanh Hoá trước khi thực hiện QCDC ở cơ sở
Thanh Hoá là một trong những tỉnh định hình sớm, tồn tại, phát triển
cùng với lịch sử dân tộc, với diện tích 11.106,09 km2, dân số là hơn 3,6 triệu
người, có bảy dân tộc sinh sống (trên 60 vạn là dân tộc thiểu số). Tỉnh Thanh
Hoá có một thành phố, hai thị xã và 24 huyện, trong đó có 11 huyện miền núi
(với số dân gần một triệu), toàn tỉnh có 626 xã, 5775 làng, 808.000 hộ, đa số
là nông dân.
Những năm gần đây, do sự nghiệp đổi mới, đời sống nhân dân được cải
thu hút gần 10.000 lao động. Cuộc vận động đổi điền dồn thửa trong nông
nghiệp đã và đang được tiến hành.
Về giáo dục: tổng số học sinh các cấp có trên một triệu. Toàn tỉnh có gần
100% xã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học xoá mù chữ, có 168 đơn vị đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở, 55
trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia.
Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ, 100% xã có trạm
y tế, ở tuyến xã có 135 bác sĩ, 5 năm liền không có dịch xảy ra, riêng sốt rét 7
năm liền không có dịch.
Trong phong trào xây dựng nếp sống văn hoá, thực hiện qui ước về việc
cưới, tang, lễ hội, ở Thanh Hoá có 1037/5775 làng đăng ký xây dựng làng văn
12
hoá, tổng số dân được xem truyền hình chiếm 70%, được nghe đài phát thanh
xã là 90%.
Công tác quốc phòng, an ninh được củng cố và tăng cường. An ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá gồm 27 đảng bộ huyện, thị, thành; 12 đảng bộ
trực thuộc; 31 ban cán sự đảng; 11 đảng đoàn, tổng số đảng viên là 144.093
đồng chí (26.083 là nữ và 118.010 đảng viên nam). Số đảng bộ, chi bộ cơ sở là
1628, số chi bộ nhỏ là 8556. Chấp hành nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 (lần 2)
của BCHTW Đảng khóa VIII về cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, Ban
Thường vụ Tỉnh ủy đã thực hiện xong bước kiểm điểm tự phê bình và phê bình
của tập thể và cá nhân, có chương trình kế hoạch thực hiện các công việc sau tự
phê bình của tập thể và các đồng chí ủy viên thường trực, kế hoạch triển khai
đối với đảng bộ trực thuộc; và tập trung chỉ đạo các huyện, thị, thành, các ban
cán sự đảng đoàn, các ngành, đoàn thể cấp tỉnh kiểm điểm theo gợi ý của Ban
Thường vụ Tỉnh uỷ. Vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng được phát huy, các
chủ trương nghị quyết của Đảng ngày càng thể hiện đúng đắn và sáng tạo, sớm
Tổng sản phẩm (GDP) trong tỉnh (1996 - 2000) bình quân có tăng nhưng còn
thấp so với chỉ tiêu đề ra cho thời kỳ 1996 - 2000. Tốc độ phát triển kinh tế có xu
hướng chậm lại và thấp hơn so với toàn quốc (7%). GDP bình quân đầu người đạt
279,5 USD, còn thấp so với mục tiêu đề ra đến năm 2000 là 400 - 450 USD.
Trong nông nghiệp, cơ cấu mùa vụ thay đổi chậm, việc ứng dụng các
tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất còn hạn chế. Tỷ trọng chăn nuôi trong
nông nghiệp còn thấp, trình độ thâm canh tăng năng suất giữa các vùng, miền
chưa đồng đều.
Xuất khẩu vẫn là lĩnh vực khó khăn, yếu kém kéo dài.
Trong công nghiệp, kỹ thuật và công nghệ lạc hậu, sản phẩm của tỉnh
chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường, hiệu quả kinh doanh thấp.
14
Cơ sở hạ tầng - kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hoá chưa đáp ứng được
yêu cầu. Việc thu hút vốn cho đầu tư phát triển từ trong và ngoài nước còn
hạn chế, đầu tư dàn trải thiếu đồng bộ kéo dài và kém hiệu quả. Đời sống một
bộ phận nhân dân vẫn còn khó khăn, nhất là đồng bào miền núi, tỉ lệ người
thiếu việc làm còn cao.
Trình độ cán bộ và tổ chức bộ máy còn bất cập so với yêu cầu của quá
trình đổi mới, bộ máy cồng kềnh, quan liêu, năng lực cán bộ thấp kém, cải
cách hành chính chậm, tình trạng cửa quyền, phiền hà gây cản trở công việc
chung vẫn tồn tại.
Trên đây là một vài nét về tình hình kinh tế - xã hội ở Thanh Hoá, những
thuận lợi là cơ sở để Thanh Hoá tổ chức thực hiện tốt QCDC. Những vấn đề còn
tồn tại đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân Thanh Hoá phải nỗ lực hơn nữa.
Từ xưa, Thanh Hoá đã nổi tiếng là vùng đất giàu truyền thống lịch sử,
văn hoá, cách mạng, có nhiều vị vua xuất thân từ quê hương Thanh Hoá như
Lê Hoàn, Lê Lợi. Nhân dân Thanh Hoá giàu lòng yêu nước, anh dũng kiên
dân tham gia vào quản lý xã hội và xây dựng xã hội lành mạnh.
Bên cạnh đó, để thực hiện tốt vấn đề dân chủ, hoạt động của HĐND,
UBND không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng, năng lực điều hành,
thông qua tiếp xúc cử tri, các đại biểu, HĐND đã nắm được tâm tư nguyện
vọng và ý kiến đóng góp chân thành của nhân dân, kiến nghị đề xuất cho cấp
có thẩm quyền xem xét, giải quyết kịp thời, thoả đáng, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, do phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
chưa được cụ thể bởi một văn bản pháp lý nào, việc vận dụng tổ chức thực
hiện ở mỗi địa phương khác nhau nên hiệu quả còn hạn chế. Việc thực hiện
dân chủ ở Thanh Hoá chủ yếu thông qua hình thức dân chủ đại diện, dân chủ
trực tiếp ít được quan tâm, có nơi hoạt động của HĐND còn mang tính hình
thức, hiệu lực, hiệu quả trong quản lí điều hành của chính quyền còn nhiều
hạn chế, tình trạng tham ô lãng phí, quan liêu cửa quyền, sách nhiễu, đặc biệt
16
là vi phạm dân chủ trong quản lí đất đai và tài chính còn khá nhiều, thường
xuyên có đơn thư khiếu nại, tố cáo, gây mất ổn định chính trị ở cơ sở, cả tỉnh
có hàng trăm điểm nóng.
Do thực trạng đó, việc Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 30- CT/TW về thực
hiện QCDCCS là phù hợp với tình hình địa phương và đáp ứng được sự mong
đợi của nhân dân.
1.1.2. Chủ trương của Đảng và Chính phủ về vấn đề thực hiện dân chủ
Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Dưới sự lãnh đạo của
Đảng, nhân dân Việt Nam đã giành được nhiều thắng lợi to lớn. Một trong
những thành quả vĩ đại nhất của cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của
Đảng là đã lập nên Nhà nước Cộng hòa dân chủ đầu tiên ở Đông Nam châu
Á. Ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã trịnh trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam là nước dân chủ - Nhà nước
được nhiều thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ
quốc. Những yếu tố dân chủ, tinh thần dân chủ, truyền thống “lấy dân làm
gốc”, coi trọng dân vốn đã hình thành trong lịch sử mấy nghìn năm dựng
nước và giữ nước của Dân tộc ta, đã được Đảng Cộng sản Việt Nam, mà
người sáng lập và rèn luyện là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhận thức sâu sắc và
quyết tâm phát huy trong quá trình lãnh đạo Cách mạng.
Mục tiêu cao nhất của CNXH, tư tưởng cách mạng nhân văn và nhân
đạo cộng sản chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh là giải phóng con người, giải phóng lao động xã hội khỏi mọi sự bóc
lột về kinh tế và nô dịch về tinh thần, để nhân dân lao động trở thành chủ
nhân của xã hội, làm chủ nhà nước là một trong những đặc trưng cơ bản
của CNXH. Xây dựng và phát huy được quyền làm chủ của nhân dân cũng
là thực hiện được nền dân chủ XHCN, một nền dân chủ ở trình độ cao hơn
chế độ dân chủ tư sản cả về pháp lí và trong thực tế. Quyền làm chủ của
nhân dân, nền dân chủ XHCN vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự
18
nghiệp xây dựng phát triển đất nước theo con đường XHCN. Đảng ta là
Đảng cầm quyền, có sứ mệnh và khả năng lãnh đạo Nhà nước thể hiện đầy
đủ bản chất giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân của mình, thực sự là chỗ
dựa quan trọng để nhân dân thực hiện quyền làm chủ, đồng thời là công cụ
sắc bén bảo vệ cuộc sống của nhân dân trước mọi âm mưu và hoạt động
phá hoại của các lực lượng thù địch.
Dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tế cách mạng Việt
Nam, Đảng ta coi việc thực hiện dân chủ nói chung, dân chủ ở cơ sở nói riêng
là vấn đề bức thiết có tầm quan trọng đặc biệt trong thực hiện nền dân chủ
XHCN ở nước ta.
Cơ sở không chỉ là xã, phường, thị trấn mà còn là các cơ quan, trường
chúng ta chưa ngăn chặn đẩy lùi được. Phương châm “dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra” chưa được cụ thể hoá và thể chế hoá thành pháp
luật cho nên chậm đi vào cuộc sống. Tình trạng mất dân chủ, không để
dân bàn bạc, quyết định những công việc cụ thể liên quan trực tiếp đến
đời sống của dân, bắt dân phải đóng góp nhiều khoản vượt quá khả năng,
lại không minh bạch về tài chính, thậm chí xà xẻo vào những khoản tiền
do dân đóng góp như ở một số xã thuộc tỉnh Thái Bình và vài nơi khác;
tình trạng để tồn đọng hàng vạn đơn khiếu tố bị đùn đẩy không giải
quyết hoặc giải quyết không kịp thời, không đúng; tình trạng quan liêu,
quản lý lỏng lẻo để thất thoát lớn trong một số ngân hàng hoặc gây lãng
phí trong xây dựng v.v... chẳng những làm suy giảm lòng tin của dân đối
với Đảng và chính quyền mà còn làm triệt tiêu nguồn động lực của nhân
dân và xâm phạm bản chất tốt đẹp của chế độ. Cho nên các cấp uỷ đảng
và cơ quan chính quyền cần quán triệt sâu sắc và phải chấp hành nghiêm
chỉnh Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 của BCHTW Đảng mà cốt lõi là
phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và quản lý nhà
nước. Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa và phát huy quyền làm chủ của
20
nhân dân phải được thể hiện trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội,
quốc phòng - an ninh, từ xây dựng luật pháp, cơ chế, chính sách đến tổ
chức bộ máy, phong cách làm việc, bao quát hoạt động mọi cấp, mọi
ngành, từ Trung ương đến địa phương hoặc cơ sở. Vấn đề dân chủ, bảo
đảm quyền làm chủ của nhân dân để phát huy động lực, thực hiện mục
tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng văn minh phải được đặt ra cho cả hệ thống chính trị, phải tác
động hai chiều: dưới lên, trên xuống cả trong Đảng và trong nhân dân.
Cùng với việc triển khai một cách toàn diện và đồng bộ, phát huy quyền
Có thể nói, cơ chế nêu trên là cơ chế chức năng nhiệm vụ và phải xác
định rõ chức năng của mỗi nhân tố.
Trong xã hội ta, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân, quyền lực của
nhân dân là tuyệt đối, không thể so sánh, không thể phân chia. Quyền hạn
của nhà nước là sự thể hiện tập trung quyền lực của nhân dân. Quyền lực
của Đảng thể hiện ở sự định hướng và lãnh đạo tổ chức thực hiện. “Đảng
lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, thì “nhân dân làm chủ”
phải là nhân tố bao trùm của cơ chế” [82, tr. 15]. Đảng lãnh đạo bằng
đường lối đúng đắn, biểu hiện những lợi ích căn bản, bằng sự thuyết phục
nhân dân thừa nhận đường lối của Đảng, bằng đào tạo và giáo dục cán bộ,
đảng viên để nhân dân lựa chọn vào các chức vụ của chính quyền Nhà
nước. Đảng lãnh đạo bằng đề xuất những phương hướng, kế hoạch lớn,
phát triển kinh tế - xã hội có căn cứ khoa học được quần chúng bàn bạc, bổ
sung và trở thành định hướng để Nhà nước vạch ra và chỉ đạo thực hiện các
chương trình kế hoạch, chính sách và luật pháp.
Theo cơ chế đó, “Nhà nước quản lý” nhưng không có nghĩa là Nhà
nước không lãnh đạo, Nhà nước được nhân dân trao cho quyền lực và chịu
trách nhiệm quản lý mọi mặt đời sống xã hội trước nhân dân. Hoạt động
của Nhà nước tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng, đảm bảo vai trò chủ động rất
22
lớn cho Nhà nước chứ không phải “dắt tay” Nhà nước trong mọi hoạt động
của nó. Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,
là sự tập trung quyền lực của nhân dân và thay mặt nhân dân để quản lý xã
hội, như vậy, chức năng quản lý xã hội là chức năng chính yếu của Nhà nước.
Mục đích ban hành QCTHDC là làm cho hết thảy những người lao động, đều
được tham gia quản lý Nhà nước, ở mức độ này hay mức độ khác, một cách
thực sự dân chủ. Nhân dân quản lý với tư cách vừa là đối tượng quản lý vừa là
xây dựng và thực hiện QCDCCS. Để dân thực sự là chủ thì việc xây dựng quy
chế dân chủ ở cơ sở là hết sức cần thiết. Bộ Chính trị nhấn mạnh, xây dựng và
THQCDC ở cơ sở nhằm giữ vững và phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
thu hút nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, tham gia kiểm kê, kiểm soát
Nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham
nhũng. Bộ Chính trị nói rõ: “Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát
huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền làm
chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất” [1, tr. 1]. Muốn vậy cần
ban hành quy chế dân chủ ở cơ sở có tính pháp lý, “yêu cầu mọi người, mọi tổ
chức của cơ sở đều phải nghiêm chỉnh thực hiện, quy chế dân chủ cần được
xây dựng cho từng loại cơ sở ở xã, phường, doanh nghiệp, bệnh viện, trường
học, viện nghiên cứu, cơ quan hành chính v.v... phù hợp với đặc điểm từng loại
cơ sở” [1, tr. 2].
Xây dựng và thực hiện QCDCCS nói chung là thiết chế hoá quyền làm
chủ của nhân dân thành thể lệ, thành quy ước, quy chế để tổ chức thực hiện,
biến khái niệm dân chủ trong phạm vi tư tưởng thành hiện thực trong cuộc
sống xã hội, nếu không xây dựng thiết chế để tổ chức thực hiện thì dân chủ
cũng chỉ dừng lại ở sự mong muốn trong nhận thức, trong tư tưởng.
Quy chế hoá là để giải quyết những điểm mà pháp luật chưa khái quát
hết, có ý nghĩa lớn không kém gì việc pháp chế hoá những vấn đề chung của
24
cả nước. Mặt khác, vì cơ sở là khâu trọng yếu trong hệ thống chính trị, là nơi
thực hiện mọi đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà
nước. Ở cơ sở, đội ngũ cán bộ còn nhiều bất cập, nhiều nơi quyền làm chủ của
nhân dân bị vi phạm, ảnh hưởng đến việc tổ chức động viên nhân dân thực
hiện công nghiệp hoá đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, xây dựng và thực
độ thu và sử dụng học phí, viện phí ...
Về vấn đề dân bàn: một loại công việc do dân bàn và quyết định hoặc
công việc do dân bàn và tham gia ý kiến, HĐND, UBND quyết định. Dân
bàn và quyết định dân chủ đối với những loại việc liên quan trực tiếp đến
đời sống của nhân dân như huy động sự đóng góp của nhân dân để xây
dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng hương ước và quy ước nội bộ.
Dân giám sát kiểm tra các loại công việc từ hoạt động của HĐND,
UBND đến các việc khiếu nại, tố cáo của nhân dân, kết quả quyết toán
công trình do dân đóng góp, việc quản lý sử dụng đất đai, thu, chi quỹ, việc
thực hiện chính sách với người có công với nước. Dân giám sát kiểm tra,
tức là thực hiện quyền lực của mình trong quá trình quản lý đất nước. Bộ
Chính trị nêu rõ: “Hoàn thiện cơ chế để nhân dân, công nhân cán bộ, công
chức ở cơ sở trực tiếp và thông qua Mặt trận, các đoàn thể, ban thanh tra
nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền, thủ trưởng cơ quan
đơn vị, kết quả thanh tra, kiểm tra giám sát của nhân dân phải được tiếp thu
nghiêm túc” [1, tr. 3].
Về phương châm, phương pháp thực hiện, “Tổ chức đảng và đảng
viên phải gương mẫu, đi đầu trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.
Tổ chức đảng phải làm cho đảng viên thông suốt; đảng viên, nhất là các
đảng viên có chức vụ trong chính quyền phải gương mẫu tự phê bình và
phê bình nghiêm túc trong đảng bộ và trong nhân dân” [1, tr. 4]. Và “phải
làm từng bước vững chắc, không làm lướt, ồ ạt. Cấp uỷ cấp trên trực tiếp
26