tăng cường thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở huyện lạng giang tỉnh bắc giang - Pdf 30


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
 THÂN THỊ HẰNG

TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN QUY CHẾ
DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Ở HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ: 60.62.01.15

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN TUẤN SƠN

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu đề tài làm luận văn
tốt nghiệp cao học, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm,
giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.
Trước hết, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc Học viện Nông nghiệp
Việt Nam, cùng toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế và Phát triển nông
thôn, Bộ môn Kế hoạch và Đầu tư đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản
và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt, tôi xin cảm ơn sâu sắc Thầy hướng dẫn - PGS.TS. Nguyễn Tuấn
Sơn - Trưởng bộ môn Kế hoạch và Đầu tư về sự hướng dẫn nhiệt tình và những ý
kiến đóng góp quý báu để luận văn được hoàn thành tốt hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Huyện ủy, UBND huyện Lạng Giang,
các xã Tân Thịnh, Quang Thịnh và Tân Hưng và người dân đã tạo điều kiện
thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài này.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, đồng nghiệp nơi cơ
quan công tác, gia đình, người thân, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình học tập và nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu vì nhiều lý do khác nhau, luận văn không
tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Tôi rất mong nhận được sự thông cảm và
đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn học viên.
Xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN Thân Thị Hằng


2.1.1 Một số khái niệm chung 5
2.1.2 Dân chủ Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 17
2.2 Cơ sở thực tiễn về thực hiện QCDC trong xây dựng NTM 22
2.2.1 Sự cần thiết của việc ban hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã,
phường, thị trấn 22
2.2.2 Những nội dung cơ bản của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ sở 24
2.2.3 Các tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực
hiện QCDC cơ sở 29
2.3 Kinh nghiệm thực hiện dân chủ cơ sở 35
2.3.1 Kinh nghiệm của một số tỉnh 35
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v

2.3.2 Kinh nghiệm của một số huyện trên địa bàn tỉnh 40
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
3.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội huyện Lạng Giang 43
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 43
3.1.2 Tình hình kinh tế, xã hội 46
3.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy chính quyền cấp cơ sở 52
3.2 Phương pháp nghiên cứu 53
3.2.1 Phương pháp chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu 53
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 54
3.2.3 Phương pháp nhập và xử lý số liệu 54
3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 55
3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 55
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 57
4.1 Thực trạng triển khai thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong xây
dựng NTM ở huyện Lạng Giang 57
4.2 Kết quả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong xây dựng NTM ở
huyện Lạng Giang 62


BHYT Bảo hiểm y tế
BQL Ban quản lý
CC

Cơ c
ấu

CCVC Công chức viên chức
CNH-HĐH Công nghiệp hóa hiện đại hóa
GPMB Giải phóng mặt bằng
GTSX

Giá tr
ị sản xuất

GTNT Giao thông nông thôn
HC Hành chính
HĐND Hội đồng nhân dân
MTQG

M
ục ti
êu qu
ốc gia

MTTQ Mặt trận tổ quốc
NN Nông nghiệp
NS Ngân sách
NTM

nhân dân được bàn tham gia ý kiến 67
4.3 Tổng hợp nguồn vốn đầu tư cho xây dựng NTM trên địa bàn huyện
từ 2011-2014 69
4.4 Tổng hợp vận động nhân dân hiến đất xây dựng NTM trên địa bàn
huyện từ 2011-2014 69
4.5 Kết quả xây dựng nông thôn mới tỉnh Bắc Giang năm 2014 71
4.6 Ý kiến đánh giá của người dân về kết quả thực hiện những việc
nhân dân giám sát 74
4.7 So sánh kết quả thực hiện QCDC trong xây dựng NTM 76
4.8 Ý kiến đánh giá của cán bộ, công chức huyện Lạng Giang công tác
tuyên truyền, phổ biến QCDC trong xây dựng NTM 80
4.9 Ý kiến đánh giá của cán bộ, công chức huyện Lạng Giang công tác
tuyên truyền, phổ biến QCDC trong xây dựng NTM 82
4.10 Ý kiến đánh giá của cán bộ, công chức huyện Lạng Giang về hoạt
động của các Ban chỉ đạo trong thực hiện QCDCn 82
4.11 Ý kiến đánh giá của cán bộ, công chức huyện Lạng Giang về hoạt
động của các tổ chức đoàn thể thực hiện QCDC trong xây dựng
NTM 83
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1

PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà ra đời đánh dấu một bước chuyển biến vô cùng trọng đại của dân tộc
ta. Nó đập tan ách thống trị thực dân tàn bạo, xóa bỏ chế độ phong kiến lỗi thời,

“Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân
ở cơ sở” và yêu cầu: Nhà nước cần ban hành ngay quy chế dân chủ ở cơ sở có
tính pháp lý, yêu cầu mọi người, mọi tổ chức cơ sở đều phải nghiêm chỉnh thực
hiện (Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị, 1998).
Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW, ngày 18/2/1998
của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện dân chủ ở cơ sở đã xác định rõ: Trước
yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội
nhập kinh tế quốc tế, hơn lúc nào hết, cần tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện dân
chủ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và nâng lên một tầm cao mới. Tại
Bắc Giang, với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, quy chế
dân chủ được xem là chìa khóa mở ra hướng đi mới góp phần thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ chính trị của địa phương. Việc áp dụng, thực hiện tốt quy chế dân chủ
(QCDC) cơ sở là một trong những yêu cầu không thể thiếu trong quá trình triển
khai các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc
biệt là bảo đảm sự thành công của chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM).
Với chủ trương đó, tỉnh Bắc Giang nói chung và huyện Lạng Giang nói
riêng đã triển khai thực hiện tốt QCDC cơ sở nhất là việc thực hiện QCDC trong
xây dựng NTM, thu được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các mặt của đời
sống xã hội như: Kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh Việc
triển khai xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong trong xây dựng
NTM thời gian qua đã chứng tỏ, đây là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân,
đáp ứng nhu cầu bức thiết và lợi ích to lớn trực tiếp của đông đảo quần chúng
nhân dân lao động, được nhân dân phấn khởi đón nhận và thực hiện, thể hiện tính
ưu việt của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Từ đó, cán bộ, đảng viên và người
dân đã hiểu rõ hơn về quyền lợi, dân chủ, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình
trong việc xây dựng NTM.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, một số xã trên địa bàn huyện Lạng

Page 4

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và thực tiễn về thực
hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong xây dựng NTM ở Bắc Giang.
Đối tượng khảo sát của đề tài là huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở
trong xây dựng NTM của các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Lạng Giang.
Về mặt không gian:
Nghiên cứu tại địa bàn huyện Lạng Giang.
Về mặt thời gian:
Số liệu thu thập phục vụ nghiên cứu trong giai đoạn từ 2010 đến 2015 (5
năm); giải pháp đề xuất đến năm 2020.
Thời gian nghiên cứu: Tháng 4/2014 đến tháng 5/2015.
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung trả lời các câu hỏi sau đây liên quan đến thực
hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong xây dựng NTM ở huyện Lạng Giang thời gian
qua:
1. Việc triển khai thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong xây dựng NTM ở
huyện Lạng Giang thời gian qua diễn ra như thế nào?
2. Trong quá trình thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong xây dựng NTM
ở huyện Lạng Giang gặp những thuận lợi, khó khăn gì?
3. Những giải pháp nào cần đề xuất nhằm thực hiện tốt hơn Quy chế dân
chủ cơ sở trong xây dựng NTM ở huyện Lạng Giang thời gian tới?


còn giai cấp và nhà nước. Dân chủ chi phối tính dân tộc, phản ánh tính chất của
chế độ chính trị, văn hoá xã hội ở mỗi quốc gia, dân tộc cụ thể (V.I.Lê-nin toàn
tập, 2005).
Dân chủ là một nhu cầu khách quan, tất yếu của nhân dân lao động, dân
chủ là quyền lực thuộc về nhân dân.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6

Dân chủ còn được hiểu là một nguyên tắc sinh hoạt của các tổ chức chính
trị - xã hội, cộng đồng dân cư, theo nguyên tắc số ít phục tùng số đông, thiểu số
phục tùng đa số.
Trên thế giới hiện nay tồn tại hai hình thức của nền dân chủ: Dân chủ trực
tiếp và dân chủ đại diện.
* Dân chủ trực tiếp là một hình thức của Chính phủ, trong đó quyền được
đưa ra các quyết định chính trị được thực hiện một cách trực tiếp dưới các thủ tục
của quy tắc đa số. Hình thức này chỉ khả thi đối với các thực thể nhỏ. Do đó,
không có hệ thống dân chủ hiện đại nào là nền dân chủ hoàn toàn trực tiếp, mặc
dù hầu hết trong đó đều có các yếu tố dân chủ trực tiếp. Các cơ quan dân chủ trực
tiếp là các tổ chức Quốc hội, các sáng kiến lập pháp phổ biến, các cuộc triệu tập,
các cuộc trưng cầu dân ý, v.v (V.I.Lê-nin toàn tập, 2005).
* Dân chủ đại diện là một hình thức của Chính phủ trong đó người dân
thực hiện quyền giống nhau nhưng không phải là theo từng cá nhân mà thông qua
các đại diện do họ chọn ra và chịu trách nhiệm với họ. Dân chủ đại diện có liên
quan đến hai hệ thống chính quyền cơ bản: dân chủ nghị viện và dân chủ tổng
thống (V.I.Lê-nin toàn tập, 2005).
Dân chủ nghị viện: Dưới hình thức chính quyền này, Nghị viện có vai trò
trung tâm, Thủ tướng hay người lãnh đạo Nội các đứng đầu cơ quan hành pháp
và phụ thuộc vào sự tin cẩn của Nghị viện; người đứng đầu nhà nước thường có
ít hay không có quyền lực hành pháp mà chỉ đóng vai trò đại diện.
Dân chủ tổng thống: Người đứng đầu hành pháp là người đứng đầu nhà

lối sống, đạo đức với hệ tư tưởng tư sản. Pháp quyền tư sản thừa nhận trên
nguyên tắc pháp lý những quyền của con người, nhưng trên thực tế, việc thực
hiện những quyền đó đối với quần chúng thường bị hạn chế. Những thành quả
dân chủ và tiến bộ xã hội đạt được chủ yếu phải thông qua cuộc đấu tranh của
quần chúng lao động, của phong trào công nhân chứ không phải do giai cấp tư
sản cầm quyền tự nguyện thực hiện (V.I.Lê-nin toàn tập, 2005).
Dân chủ XHCN hướng mục tiêu vào việc khẳng định và thực hiện quyền
lực của đa số. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể của quyền lực
đó. Họ được cách mạng giải phóng và trở thành người chủ, có địa vị làm chủ xã
hội. Thể chế Nhà nước và các thiết chế dân chủ khác đều hướng đích vào việc
thực hiện lợi ích, quyền lực của nhân dân, phản ánh nguyện vọng, ý chí của nhân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8

dân. Quyền lực nhân dân, đó là cơ sở và là mục tiêu của việc xây dựng thể chế,
phát triển và hoàn thiện nền dân chủ (V.I.Lê-nin toàn tập, 2005).
Thứ hai: Dân chủ là hình thức tổ chức quyền lực trong xã hội, thông qua
Nhà nước và biểu hiện trực tiếp ở nhà nước. Một chế độ dân chủ (hay nền dân
chủ) muốn tự biểu hiện mình, tất yếu phải thông qua chế độ nhà nước, song
không phải chế độ nhà nước nào cũng đồng thời là chế độ dân chủ, trùng hợp tự
nhiên với chế độ dân chủ.
Thể chế tư sản dựa trên nền tảng kinh tế là chế độ chiếm hữu tư nhân tư
bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Sở hữu thuộc về giai cấp tư sản nên nhà nước
ấy trước sau vẫn chỉ là công cụ nhằm bảo vệ lợi ích và duy trì quyền lực của giai
cấp tư sản, một nhóm nhỏ trong xã hội. Nó đối kháng và xung đột với lợi ích của
giai cấp công nhân và lợi ích phổ biến của xã hội. Quyền lực nhân dân tức là
quyền lực công cộng của xã hội uỷ quyền vào nhà nước đã bị tha hoá, chỉ còn
mang tính hình thức mà căn nguyên sâu xa của nó là ở chế độ tư hữu, dẫn tới tha
hoá lao động, tha hoá bản chất con người. Muốn thực hiện được dân chủ cho đa
số trong xã hội phải xoá bỏ trật tự hiện tồn tư bản chủ nghĩa, thực hiện giải phóng

sản, Nhà nước XHCN với quần chúng nhân dân. Thông qua các tổ chức này,
nhân dân giới thiệu các đại biểu của mình tham gia vào chính quyền, đóng góp ý
kiến cho Đảng, nhà nước, đồng thời qua đây nhân dân thể hiện tâm tư, nguyện
vọng của mình với Đảng, Nhà nước (V.I.Lê-nin toàn tập, 2005).
Ba bộ phận này cùng với cơ chế vận hành của chúng (Đảng lãnh đạo -
Nhà nước quản lý - nhân dân lao động làm chủ) hợp thành hệ thống chính trị
XHCN, gắn bó chặt chẽ với nhau vì mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong
đó, Nhà nước XHCN là nhân tố cơ bản nhất để thực hiện quyền lực của nhân dân
(V.I.Lê-nin toàn tập, 2005).
Hoàng Chí Bảo (2007), chỉ rõ “Dân chủ XHCN là nền dân chủ được xây
dựng và hình thành trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, mang bản chất
của giai cấp công nhân, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, trước hết là nhân dân
lao động, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản để thực hiện và đảm bảo
quyền làm chủ thực sự của đông đảo quần chúng nhân dân đối với xã hội”.
2.1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
Trong toàn bộ di sản văn hoá và tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư
tưởng dân chủ là một phần giá trị to lớn. Người là nhà văn hoá, nhà yêu nước,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10

nhà cách mạng giải phóng dân tộc ở thế kỷ XX. Một trong những giá trị văn hoá
đáng tự hào, đáng trân trọng là tư tưởng dân chủ của Người, Người đã góp phần
to lớn đưa dân tộc này từ kiếp nô lệ trở thành người tự do, đưa nhân dân lên địa
vị làm chủ đất nước, làm chủ xã hội.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ nói chung và về quyền làm chủ của
nhân dân nói riêng là kết quả của sự nhận thức sâu sắc về vai trò của nhân dân
trong lịch sử, là kết quả của sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa lý
luận và thực tiễn, Người đã nâng tư tưởng dân chủ lên một tầm cao mới vừa
mang tính khoa học, vừa mang tính nhân văn sâu sắc. Theo Chủ tịch Hồ Chí
Minh, trong chế độ dân chủ, quyền lợi và nghĩa vụ của công dân bao giờ cũng đi

lượng của toàn dân hoàn hành những nhiệm vụ cách mạng, Hồ Chí Minh toàn tập
(1996) khẳng định "Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất
cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên".
Dân chủ là giải pháp hữu hiệu để tạo nên sự nhất trí căn bản về lợi ích của
các thành phần kinh tế và các giai tầng trong xã hội. Sự nhất trí đó tổng hợp
thành sức mạnh của dân tộc, tạo nên nội lực mạnh mẽ đưa đất nước vượt qua khó
khăn, thử thách.
Qua các vấn đề trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho thấy dân chủ - một sản
phẩm của nền văn minh, là sản phẩm của chính nhân dân giành được trong quá
trình tranh đấu để giải phóng con người trong quan hệ với xã hội, tự nhiên và
giữa con người với con người.
Thứ hai: Hồ Chí Minh toàn tập (1996) “Địa vị cao nhất là dân, vì dân là
chủ”.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân là người giữ vai trò quyết định trên
tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, từ những chuyện nhỏ có
liên quan đến lợi ích của mỗi cá nhân đến những chuyện lớn như lựa chọn thể
chế, lựa chọn người đứng đầu nhà nước. Người dân có quyền làm chủ bản thân,
nghĩa là có quyền được bảo vệ về thân thể, được tự do đi lại, tự do hành nghề, tự
do ngôn luận, tự do học tập… trong khuôn khổ luật pháp cho phép. Người dân có
quyền làm chủ tập thể, làm chủ địa phương, làm chủ cơ quan, nơi mình sống và
làm việc. Người dân có quyền làm chủ các đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội
thông qua bầu cử và bãi miễn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12

Vì quan niệm dân là trên hết, nên Người cho rằng “mọi lợi ích là vì dân”,
“mọi quyền hạn là của dân”, “mọi công việc do dân”. Trong thiết chế của nền
dân chủ ấy, nhân dân ở địa vị cao nhất. Hồ Chí Minh toàn tập (1996) nói “Trong
bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực
lượng đoàn kết của nhân dân”.

nhân dân có quyền làm chủ đất nước, làm chủ chế độ, làm chủ tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội.
Thứ ba: Nhiệm vụ của chính quyền dân chủ là phục vụ nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng để xây dựng chính quyền
dân chủ mới ở nước ta.
Luận điểm về chính quyền dân chủ của Người, bao gồm một hệ thống
quan niệm rất hoàn chỉnh. Người nói một cách rõ ràng, dễ hiểu về bản chất và
mục tiêu, về nội dung, chức trách và nhiệm vụ, về cơ cấu và cơ chế quyền lực, về
phương pháp hoạt động, về trách nhiệm phẩm chất và năng lực của nhân viên
trong một nhà nước dân chủ.
Người luôn luôn khẳng định bản chất nhân dân và bản chất dân chủ của
chính quyền ta. Người cũng nói đến chuyên chính, nhưng Người coi chuyên
chính là “cái khoá, cái cửa” để đề phòng kẻ phá hoại của quý báu nhất là dân chủ
mà thôi. Hồ Chí Minh toàn tập (1996) khẳng định “Mở rộng dân chủ đi đôi với
tăng cường chuyên chính để cho chính quyền ta thật sự là chính quyền của dân,
phục vụ nhân dân, chống lại kẻ thù của nhân dân”.
Người cho rằng chính quyền luôn lấy việc phục vụ lợi ích của nhân dân
làm mục tiêu. Cho đến trước lúc ra đi, Người vẫn còn nhắc lại những mục tiêu
chiến lược ấy: Hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giầu mạnh. Đó chính là
những chiến lược lâu dài, cần có quyết sách thông minh và tài năng tổ chức điều
hành để thực hiện.
Trong quan niệm về chức trách và nhiệm vụ, Người nhấn mạnh tính chất
“Người đầy tớ công cộng” của chính quyền đối với nhân dân. Người dùng chữ
“công bộc” (người đầy tớ trung thành) để nói một ý nghĩa mới của một chính
quyền dân chủ.
Để cho quyền dân chủ của nhân dân được thể hiện, để quyền lực nhà nước
được bảo đảm, Người nhấn mạnh ba yếu tố sau:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15

Đảng cũng ở trong xã hội, trước hết cần hiểu rằng, khi nói Đảng ở trong
xã hội, nghĩa là Đảng không bao giờ là một lực lượng siêu nhiên, siêu xã hội.
Đảng bao gồm những con người của đời thường, chịu những dấu ấn của mọi mối
quan hệ xã hội hiện hữu. Đảng không phải là tập thể của những thánh nhân,
không bao giờ mắc sai lầm.
Tuy thế, hiện thực của xã hội đang đặt ra vấn đề Đảng phải đổi mới sự
lãnh đạo và mọi hoạt động của mình. Các kỳ Đại hội Đại biểu toàn quốc của
Đảng đều xác định yêu cầu Đảng phải vươn lên ngang tầm của nhiệm vụ lịch sử.
Không phải chỉ vì trong Đảng đã xuất hiện sự trì trệ và lạc hậu về tư duy, lề lối,
tác phong và về đội ngũ cán bộ, mà còn là vì đất nước ta, xã hội và nhân dân ta
đã phát triển và đạt tới một trình độ cao hơn trước, phong phú hơn trước về mọi
mặt. Hơn nữa, đòi hỏi mở rộng nền dân chủ trong xã hội là một tất yếu của tiến
trình đổi mới.
Đảng từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên, được hiểu thế nào? Trong
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan niệm “do dân” trở thành một yếu tố định hình, chi
phối toàn bộ các lập luận. Bất cứ một hình thái tổ chức xã hội nào đều do yêu cầu
của dân mà thành lập, mà hoạt động. Do dân còn là do trình độ dân trí mà tổ chức
cho phù hợp. Chủ tịch Hồ Chí Minh bao giờ cũng cho rằng Đảng không có mục
đích tự thân, Đảng không tồn tại, không tổ chức nên vì chính mình. Vì thế, tư duy
“do dân tổ chức nên” chính là cỗt lõi triết học của khoa học tổ chức Đảng. Không
phải ngẫu nhiên mà trong công tác xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn
yêu cầu Đảng phải gắn với dân, bám sát dân, đặc biệt là phải luôn nhạy cảm với
thực tế.
Thứ năm: Đoàn thể là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bênh vực quyền
lợi của dân, liên lạc mật thiết giữa dân với Chính phủ.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đoàn thể trước hết phải là tổ chức của
dân. Trong dư luận xã hội có khi đoàn thể chỉ là của Đảng, của chính quyền hoặc

nhau, hài hoà cân đối, thúc đẩy lẫn nhau. Trong cải cách xã hội có nội dung dân
chủ. Để thực hiện dân chủ lại phải vạch ra những chương trình cải cách xã hội, dù
là về sở hữu, là quản lý sắp xếp bộ máy Nhà nước, về văn hoá hay giáo dục.
Sáu luận điểm dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh với một hệ thống hàng
trăm luận đề có nội dung phong phú, sâu sắc khác nhau, liên quan tới mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội, là một kho báu có giá trị lớn lao, luôn được Đảng và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 17

Nhà nước ta vận dụng trong quá trình thực hành dân chủ cũng như xây dựng và
phát triển đất nước.
2.1.1.3 Quan niệm của Hồ Chí Minh về dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra
Theo Hồ Chí Minh toàn tập (1996)
+ Phải cho dân biết: Quyền làm chủ của nhân dân, đường lối, chính sách
của Đảng, Nhà nước, thông tin thời sự, chính sách, cán bộ lãnh đạo, quản lý
mình.
+ Giải thích cho dân hiểu: "Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho
mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ
phải hăng hái làm cho kỳ được".
+ Bày cách cho dân làm: "phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm
của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương,
rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành",và "Trong lúc thi hành phải theo
dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân".
+ Tiến hành kiểm tra, kiểm soát: "Khi thi hành xong phải cùng với
dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng".
2.1.2 Dân chủ Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Như trên đã phân tích, dân chủ XHCN là nền dân chủ cho đại đa số người
- dân chủ của nhân dân lao động dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.
Nền dân chủ XHCN giành được do kết quả thắng lợi của cuộc đấu tranh lâu dài
vì tiến bộ xã hội của nhân dân lao động. Vậy, có thể đưa ra một số đặc điểm cơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status