Dân Chủ Cơ Sở Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới Ở Việt Nam Hiện Nay - Pdf 42

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.........................................................................................................1
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VÈ DÂN CHỦ c ơ SỞ TRONG XÂY
DựNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY............................ 9
1.1. Những vấn đề chung về dân chủ, dân chủ ở cơ sở và xây dựng nông
thôn m ới......................................................................................................... 9
1.2. Một số lý thuyết và mô hình dân chủ trên thế giới............................... 27
1.3. Nội dung, vai trò của dân chủ ở cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở
Việt Nam...................................................................................................... 34
Chương 2: THUC TRẠNG THUC HIỆN DÂN CHỦ Ở c ơ SỞ VÀ
NHŨNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG XÂY DựNG NÔNG THÔN MỚI Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY................................................................................41
2.1. Thực trạng thực hiện dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở
Việt Nam...................................................................................................... 41
2.2. Đánh giá quá trình thực hiện dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn ở
Việt Nam.....................................................................................................57
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ CỦA VIỆC THựC HIỆN DÂN CHỦ c ơ SỞ TRONG XÂY DựNG
NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY....................................... 71
3.1. Phương hướng thực hiện dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới
ở Việt Nam.................................................................................................. 71
r

r

\

3.2. Một sô giải pháp chủ yêu nhăm nâng cao việc thực hiện dân chủ cơ sở
trong xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

.75

doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty Trách niệm hữu hạn đã tạo
ra cơ chế cụ thể về quyền làm chủ của nhân dân. Cùng với việc ban hành các
chỉ thị, nghị định của chính phủ là các bài viết, sách báo đóng góp ý kiến, xây
dựng cho việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở được nâng cao và hoàn
thiện.
- Bà Hà Thị Khiết - ủ y viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; Bi
thư Trung ương Đảng, trưởng ban dân vận Trung ương đã có nhiều bài viết
được đăng trên các tạp chí của Đảng góp phần tích cực vào việc xây dựng
Quy chế dân chủ cơ sở. Bài : “ Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở kết hợp
chặt chẽ các nội dung trong tư tưởng dân vận Hồ Chí Minh” đăng trên Tạp
chí cộng sản số 652 (tháng 2/2009), trong bài viết này bà đã nêu lên thực
trạng, tầm quan trọng cũng như những yếu kém trong công tác thực hiện dân
chủ ở cơ sở. Thông qua đó bà đã liên hệ với các nội dung trong tư tưởng dân
vận của Hồ Chí Minh, gắn tư tưởng của Hồ Chí Minh vào việc thực hiện Quy


4

chế dân chủ ở cơ sở, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả của việc thực hiện dân
chủ ở cơ sở.
- Ông Huyng Đảm - ủ y viên Trung ương Đảng, chủ tịch ủy ban Trung
ương mặt trân Tổ quốc Việt Nam, có bài: " Nhìn lại 10 năm thực hiện Quy
chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn” đăng trên Tạp chí Cộng sản số tháng
10/2009. Trong bài viết này ông đã khẳng định : “ Qua 10 năm thực hiện Quy
chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn quyền làm chủ của nhân dân ở các địa
phương trong cả nước được phát huy mạnh mẽ. Đó là động lực to lớn thúc
đẩy sự phát triển, đổi mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. De tiếp
tục đẩy mạnh thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn các cấp ủy,
chính quyền và Mặt trận tổ quốc Việt Nam cần phát huy hơn nữa vai trò của
mình trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện quy chế” [19].

Các ông trình nghiên cứu đó đã có những cách tiếp cận và phạm vi nghiên
cứu khác nhau nhưng đều cố gắng làm rõ bản chất, nội dung cụ thể và
hiệu quả thực tế của việc thực hiện Quy chế dân chủ cũng như việc đưa ra
nhưng giải pháp, cách thức góp phần nâng cao hiệu quả của công tác thực
hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Tuy nhiên, vấn đề dân chủ cơ sở từ trước
tới nay luôn là một vấn đề nhạy cảm và mang tính thời sự, mỗi một giai
đoạn của đất nước, trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau thì vấn đề
dân chủ lại có những biểu hiện khác nhau. Vi vậy, việc hoàn thiện được
Quy chế dân chủ ở cơ sở không thể được giải quyết ngay được mà cần
phải có thời gian và phải có sự đầu tư tâm huyết của Đảng và Nhà nước
cũng như những cá nhân quan tâm tới vấn đề này. Chính vi vậy, với đề tài
này tác giả muốn đóng góp một phần tâm huyết của cá nhân để sớm có thể
hoàn thiện được Quy chế dân chủ ở cơ sở, đặc biệt trong điều kiện chúng
ta đang tiến hành xây dựng nông mới ở nước ta hiện nay.


6

3. Mục đích và nhiệm vu nghiên cún






O

3.1. Mục dich
Từ việc nghiên cứu thực trạng của việc thực hiện dân chủ cở sở trong
xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay, tác giả đề xuất một số giải

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: đề tài lấy Chủ nghĩa Mác - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh
làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu.
- Cơ sở thực tiễn: đề tài lấy những vấn đề thực tế về dân chủ đang diễn ra
ở các cấp cơ sở trên cả nước, qua đó tổng hợp, phân tích để tìm ra những
nguyên nhân cũng như đề ra những giải pháp cho việc giải quyết những vấn
đề này.
- Bên cạnh đó, tác giả còn chú ý sử dụng phương pháp logic và lich sử,
phân tích và tổng hợp và một số phương pháp của xã hội học... để nghiên cứu
và trình bày luận văn.
6. Những đóng góp mói của đề tài
- Hệ thống hóa và khái quát hóa những vấn đề lý luận về dân chủ và thực
tiễn dân chủ ở Việt Nam trong gần 30 năm đổi mới. Luận chứng về sự cần
thiết, vai trò, tác dụng của dân chủ và Quy chế dân chủ ở cơ sở trong công
cuộc đổi mới ở Việt Nam.
- Từ thực trạng hiện nay, đề tài chỉ ra những việc cần tiếp tục bổ sung,
hoàn thiện về nội dung Quy chế dân chủ cơ sở, đối mới và nâng cao hiệu quả
thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong điều kiện cả nước đang tiến hành xây
dựng nông thôn mới.
- Luận văn góp phần thúc đẩy thêm hướng nghiên cứu mới của vấn đề
dân chủ ở nước ta dưới góc độ thực hiện dân chủ ở cơ sở và trong xây dựng
nông thôn mới ở nước ta hiện nay. Đây cũng là một tài liệu tham khảo cho
độc giả và những nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và nội
dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết, bao gồm:


8


• khái niêm

thuộc lĩnh vực chính trị, có nghĩa quyền lực chính trị - quyền lực nhà nước
phải thuộc về nhân dân. Dân chủ là hình thức tổ chức quyền lực nhà nước dựa
trên nguyên tắc nhan dân là chủ the duy nhất của mọi quyền lực.
Phạm trù dân chủ có một lịch sử tiến hóa lâu dài, nó chính là khát vọng
của nhân dân được làm chủ vận mệnh của chính mình. Qua mồi thời đại, mỗi
mem

55

lại
• được
• biểu hiện
• một
• cách

khác nhau theo su hướng triệt để và tiến bộ hơn, do đó nó cũng được triển
khai phong phú hơn từ chiều rộng, chiều sâu đến quy mô, liên quan đến nhận


10

thức, hành vi con người, các cộng đồng xã hội và hoạt động của nhà nước. Ở
mỗi giai đoạn, mồi thời đại thì dân chủ lại mang những đặc trưng về hình
thức, nội dung, bản chất của thời đại đó. Vi vậy, dân chủ mang các hình thức
lịch sử khác nhau, trong quá trình lịch sử phát triển của nhân loại từ cổ đại
đến hiện đại đã xuất hiện rất nhiều nhung lý thuyết khác nhau về dân chủ, bên
cạnh những nét tưcmg đồng co bản thì cũng xuất hiện không it những quan
điểm, xu hướng khác nhau, thậm chí đối lập nhau.

nước của nhân dân. Ở đây, chế độ nhà nước- không chỉ tự nỏ, xét
theo bản chất của nó, mà còn xét theo sự tồn tại của nó, theo tính
hiện thực của nó- ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của nó, tới
con người hiện thực, nhân dãn hiện thực và được xác định là sự
nghiệp của bản thân nhân dân. Chế độ nhà nước ở đây xuất hiện
đúng chân tướng của nó - tức là xuất hiện với tính cách là sản phẩm
tự do của con người” [39, tr.571].
Cùng xuất phát từ con người, nhưng Các - Mác khác những bậc tiền bối
của ông là phát hiện ra những quy luật vận động của đời sống xã hội, quan
điểm về giai cấp và đấu tranh giai cấp trong cuộc đấu tranh để cải tạo xã hội.
Đặc biệt là Các - Mác đã phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản
trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Từ hoạt động thực tiễn và hoạt động lý luận, Các - Mác ngày càng ý thức
rõ hơn về vi trí và tầm quan trọng của vấn đề dân chủ trong cuộc đấu tranh
của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản và toàn bộ chế độ tư bản. Các Mác đã nhận thức rằng, giành lấy dân chủ là một mục tiêu, một nội dung của
giai đoạn thứ nhất của cuộc cách mạng vô sản. Việc giai cấp vô sản trở thành
giai cấp thống trị cũng có nghĩa là giai cấp vô sản giành lấy dân chủ. Xây
dựng nhà nước của giai cấp vô sản, của nhân dân lao động cũng có nghĩa là


12

xây dựng nên dân chủ của giai câp vô sản, nên dân chủ của nhân dân lao
động.
V.Lenin - lãnh tụ của cuộc cách mạng Xã hội chủ nghĩa đầu tiên, đã đặc
biệt nhấn mạnh tính giai cấp của nhà nước, của dân chủ, khi mà cuộc đấu
tranh giai cấp đang diễn ra quyết liệt và vấn đề giành chính quyền được đặt ra
một cách trực tiếp. Khi phân tích sâu sắc những hạn chế của dân chủ tư sản,
tính tất yếu khách quan của việc dùng bạo lực cách mạng đập tan nhà nước tư
sản giành lấy chính quyền, giành lấy dân chủ, V.Lênin cũng nhấn mạnh tính


13

thành nghĩa vụ của mình đối với xã hội. Pháp luật có liên quan rất mật thiết
với vấn đề dân chủ. Yeu tố bảo đảm để dân chủ vận hành trong một hành lang
an toàn, không bi thiên lệch chính là pháp luật.
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người dành trọn cuộc đời, hy sinh,
tranh đấu cho nền độc lập dân tộc, tự do dân chủ cho nhân dân, những giá trị
về độc lập dân chủ phải mất bao công sức, xương máu giành được là vô cùng
quý giá và phải được bảo vệ, giữ gin. Không cho phép bất cứ kẻ thù nào lợi
dụng, phá hoại chế độ dân chủ cũng như những giá trị dân chủ đã được xây
dựng nên. Người nói: "Nhà nước đảm bảo quyền tự do dân chủ cho công dân,
nhưng nghiêm cấm lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm đến lợi
ích của Nhà nước, của nhân dân". [45, tr.586]
Có thể khái quát tư tưởng dân chủ của Chủ tich Hồ Chí Minh thành sáu
phạm trù cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Dân chủ là quý báu nhất của nhân dân.
Dân chủ là của báu vi đó là lý tưởng, là ước vọng của toàn thể nhân dân
ta về một xã hội tốt đẹp trong tương lai, một xã hội dân chủ theo đúng nghĩa
của nó “dân làm chủ, dân là chủ”; vi “nó” đem lại quyền làm chủ vận mệnh
của mình cho nhân dân, tạo ra những điều kiện, những tiền đề để toàn xã hội,
cũng như mỗi cá nhân trong xã hội phát triển và hoàn thiện. Con người nhờ
có dân chủ và thông qua dân chủ mới có hoạt động tích cực, chủ động, sáng
tạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ điều này "Có dân chủ mới làm
cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến”. [42, tr.244]
Thứ hai: Diá vi cao nhất là dân, vi dân là chủ.





chính quyền dân chủ.
Tu tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân chủ vẫn còn giữ nguyên giá trị
trong việc củng cố và xây dựng một chính quyền nhà nước dân chủ để phục
vụ nhân dân có hiệu quả, hiệu lực, một chính quyền thật sự vi dân và do dân,
chứ không phải là quyền lực riêng của một cá nhân hoặc là một nhóm người
nào đó.


15

Thứ tư: Đảng cũng ở trong xã hội. Đảng từ Trung ương đến xã do dân tổ
chức nên.
Đảng cũng ở trong xã hội, trước hết cần hiểu rằng, khi nói Đảng ở trong
xã hội, nghĩa là Đảng không bao giờ là một lực lượng siêu nhiên, siêu xã hội.
Đảng bao gồm những con người của đời thường, chịu những dấu ấn của mọi
mối quan hệ xã hội hiện hữu. Đảng không phải là tập thể của những thánh
nhân, không bao giờ mắc sai lầm.
Đảng từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên, được hiểu thế nào?
Trong tu tưởng Hồ Chí Minh, quan niệm “do dân” trở thành một yếu tố định
hình, chi phối toàn bộ các lập luận. Bất cứ một hình thái tổ chức xã hội nào
đều do yêu cầu của dân mà thành lập, mà hoạt động. Do dân còn là do trình
độ dân trí mà tổ chức cho phù hợp. Chủ tịch Hồ Chí Minh bao giờ cũng cho
rằng Đảng không có mục đích tự thân, Đảng không tồn tại, không tổ chức lên
vi chính mình. Vi thế, tu duy “do dân tổ chức nên” chính là cỗt lõi triết học
của khoa học tổ chức Đảng. Không phải ngẫu nhiên mà trong công tác xây
dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu Đảng phải gắn với dân , bám
sát dân, đặc biệt là phải luôn nhạy cảm với thực tế.
Thứ năm: Đoàn thể là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bênh vực
quyền lợi của dân, liên lạc mật thiết giữa dân với Chính phủ.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Mint các đoàn thể trước hết phải là tổ chức của dân.

lượng của dân chủ, đồng thời cũng chính là mục tiêu và kết quả của mọi cải
cách xã hội. Ba yếu tố ấy (cải cách xã hội, nâng cao đời sống, thực hiện dân
chủ) gắn liền với nhau, đan xen nhau, hài hoá cân đối, thúc đẩy lẫn nhau.
Trong cải cách xã hội có nội dung dân chủ. De thực hiện dân chủ lại phải
vạch ra những chương trình cải cách xã hội, dù là về sở hữu, là quản lý sắp
xếp bộ máy Nhà nước, về văn hoá hay giáo dục.


17

Sáu luận điểm dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh với một hệ thống hàng
trăm luận đề có nội dung phong phú, sâu sắc khác nhau, liên quan tới mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội, là một kho báu có giá trị lớn lao, luôn được Đảng và
Nhà nước ta vận dụng trong quá trình thực hành dân chủ cũng như xây dựng
và phát triển đất nước. Với những gi quan sát được từ chế độ dân chủ tư sản ở
các nước văn minh nhất mà Người đã từng sống như Mỹ, Pháp, Anh, từ
những ưu việt của chế độ Xô viết trong những năm đầu tiên, sự ngưỡng mộ và
nghiên cứu các tư tưởng của Lênin, Hồ Chí Minh đã vận dụng vào thực tiễn
của Việt Nam. Chính vi vậy quan niệm dân chủ của Người vừa phù họp với
trào lưu chung của nhân loại toàn thế giới, vừa phù hợp với lý tưởng của xã
1

/V •

1

9

1 ~


thời cũng là nơi giải quyết vấn đề lao động việc làm cho nhân dân lao động.
+ Cấp cơ sở là nơi thực hiện rộng rãi và trực tiếp nhất quyền làm chủ của
nhân dân.
+ Cấp cơ sở là cầu nối giữa dân với Đảng và Nhà nước, là nơi quyết định
và trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước và tiếp thu ý kiến phản hồi của nhân dân.
+ Cấp cơ sở là nơi trực tiếp giữ gìn và phát huy những giá tri truyền
thống của dân tộc.
Xuất phát từ tầm quan trọng đó, Đảng ta luôn chủ trương tiếp tục phát
huy vai trò làm chủ của nhân dân trên mọi mặt của đời sống xã hội, trước hết
ở cơ sở.
Từ những quan niệm về dân chủ và quan niệm về cơ sở như trên, tác giả
xin đưa ra định nghĩa về dân chủ ở cơ sở như sau:
Dân chủ ở cơ sở là quá trình đưa những giá trị dân chủ vào đời sông xã
hội một cách trực tiếp và rộng rãi nhất ở chính nơi mà nhân dân đang sinh
sống và làm việc hàng ngày. Hay nói cách khác, dân chủ ở cơ sở là quá trình
hiện thực hóa những cơ chế hoạt động của hệ thống tổ chức quyền lực ở cơ sở


19

sao cho nhân dân được đảm bảo một cách trực tiếp và rộng rãi nhất những
quyền được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra ở chính nơi họ đang sinh
sống và làm việc hàng ngày.
Ở Việt Nam hiện nay, nói đến cơ sở là nói đến xã, phường, thị trấn mà
chủ yếu và trước tiên là ở xã, bởi lẽ: nông thôn, làng xã Việt Nam là nơi sinh
sống của giai cấp nông dân - lực lượng đông đảo nhất trong cơ cấu dân cư ở
nước ta (nông dân có khoảng 62,7 triệu, chiếm gần 70% dân số và hơn 50%
lực lượng sản xuất xã hội) [29]. Chính quyền cấp xã là bộ phận lớn nhất trong
hệ thống chính quyền hành chính nhà nước. Nước ta hiện nay có đơn vi xã

nông dân kiểu mới đóng một vai trò đặc biệt trong sự nghiệp này.
Khái niệm mô hình nông thôn mới mang đặc tnmg của mỗi vùng nông
thôn khác nhau. Nhìn chung, mô hình nông thôn mới là mô hình cấp xã, thôn
được phát triển toàn diện theo định hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dân
chủ hoá và văn minh hoá.
Sự hình dung chung của các nhà nghiên cứu về mô hình nông thôn mới
là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những bài học khoa
học - kỹ thuật hiện đại, song vẫn giữ được nét đặc trưng, tính cách Việt Nam
trong cuộc sống văn hoá, tinh thần.

cầu phát triển; Có sự đối mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường;
Đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội;
Tiến bộ hơn so với mô hình cũ; Chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ
biến và vận dụng trên cả nước.
Xây dựng nông thôn mới là việc đổi mới tư duy, nâng cao năng lực của
người dân, tạo động lực giúp họ chủ động phát triển kinh tế, xã hội, góp phần
thực hiện chính sách vi nông nghiệp, nông dân, nông thôn, thay đổi co sở vật
chất và diện mạo đời sống, văn hoá, qua đó thu hẹp khoảng cách sống giữa


21

nông thôn và thành thị. Đây là quá trình lâu dài và liên tục, là một trong
những nội dung trọng tâm cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo trong đường lối,
chủ truong phát triển đất nước và của các địa phương trong giai đoạn trước
mắt cũng như lâu dài.
Mục tiêu xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện
đại; Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất họp lý, gắn nông nghiệp
với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; Xã hội nông
thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; Môi trường sinh thái được bảo vệ;

+ Nâng cao năng lực cộng đồng trong việc quy hoạch, thiết kế, triển khai
thực hiện, quản lý, điều hành các chương trình, dự án trên địa bàn thôn.
+ Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ co sở và đội ngũ cán bộ các cấp về
phát triển nông thôn bền vững.
+ Nâng cao trình độ dân trí của người dân.
+ Phát triển mô hình câu lạc bộ khuyến nông thôn để giúp nhau ứng
dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, phát triển ngành nghề, dịch vụ để giảm lao
động nông nghiệp.
- Tăng cường và nâng cao mức sống cho người dân
+ Quy hoạch lại các khu dân cu nông thôn, với phương châm: Giữ gìn
tính truyền thống, bản sắc của thôn, đồng thời đảm bảo tính văn minh, hiện
đại, đảm bảo môi trường bền vững.
+ Cải thiện điều kiện sinh hoạt của khu dân cu: Uu tiên những nhu cầu
cấp thiết nhất của cộng đồng dân cu để triển khai thực hiện xây dựng: Đường
làng, nhà văn hoá, hệ thống tiêu thoát nước...
+ Cải thiện nhà ở cho các hộ nông dân: Tăng cường thực hiện xoá nhà
tạm, nhà tranh tre nứa, hồ trợ người dân cải thiện nhà ở, nhà vệ sinh, chuồng
trại chăn nuôi, hầm biogas cho khu chăn nuôi...


23

- Hồ trợ người dân phát triển sản xuất hàng hoá, dịch vụ nâng cao thu
nhập.
• Căn cứ vào các điều kiện cu thể của mồi thôn để xác định một cơ cấu
1






+ Tư vấn hỗ trợ quy hoạch giao thông, thuy lợi nội đồng, chuyển đổi
mộng đất, khuyến khích tích tụ ruộng đất để phát triển kinh tế trang trại với
nhiều loại hình thích họp.
+ Hỗ trợ xây dựng mặt bằng cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng
nghề, chế biến sau thu hoạch, giao thông, thuy lợi nội đồng.
trường
môi trường
nguồn cấp nước, thoát nước đến quản lý thu gom rác thải ở nông thôn cũng đã
trở nên đáng báo động. Đã đến lúc cơ quan địa phương cần có những biện
pháp quản lý môi trường địa phương mình như: Xây dựng hệ thống xử lý rác
thải, tuyên tmyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân, xây
dựng hệ thống quản lý môi trường ở khu vực mình một cách chặt chẽ.
- Phát triển cơ sở vật chất cho hoạt động văn hoá, phát huy bản sắc văn
hoá dân tộc ở nông thôn
+ Thông qua các hoạt động ở nhà văn hoá làng, những giá trị mang đậm
nét quê đã được lưu tmyền qua các thế hệ, tạo nên nhung phong trào đặc sắc
mang hồn quê Việt Nam riêng biệt, mộc mạc - chân chất - thắm đượm tình
quê hương.
+ Xã hội hoá các hoạt động văn hoá ở nông thôn, trước hết xuất phát từ
xây dựng làng văn hoá, nhà văn hoá làng và các hoạt động trong nhà văn hoá
làng. Phong trào này phải được phát triển trên diện rộng và chiều sâu.
Căn cứ vào từng điều kiện cụ thể mà vai trò của từng nội dung đối với
mỗi địa phương là khác nhau, tuy nhiên những nội dung trên cần được song
song thực hiện, tạo điều kiện cho sự phát triển đồng bộ, toàn diện trong một
mô hình nông thôn mới.
* Những đặc thù của dân chủ trong xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status