Vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở Hưng Yên hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRỊNH HỒNG THẮM VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
CẤP CƠ SỞ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Ở HƢNG YÊN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
CẤP CƠ SỞ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Ở HƢNG YÊN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 60.22.03.08

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Quốc Phẩm

Hà Nội - 2014

1
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Quốc Phẩm. Các số liệu, tài liệu
tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Chƣơng 1: HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ SỞ VỚI XÂY DỰNG NÔNG
THÔN MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 16
1.1 Hệ thống chính trị cấp cơ sở 16
1.2 Xây dựng nông thôn mới 23
1.3 Vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở với xây dựng nông thôn mới ở
Việt Nam 29
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
CẤP CƠ SỞ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở TỈNH HƢNG YÊN 46
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa của tỉnh Hưng Yên 46
2.2 Hệ thống chính trị cấp cơ sở đối với việc xây dựng nông thôn mới ở
Hưng Yên hiện nay 53
2.3 Thành tựu và hạn chế của việc phát huy vai trò của hệ thống chính trị
cấp cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở Hưng Yên 69
Chƣơng 3: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP
CHỦ YẾU PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP CƠ
SỞ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HƢNG YÊN HIỆN NAY83
3.1 Một số quan điểm chỉ đạo phát huy vai trò của hệ thống chính trị cấp
cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở Hưng Yên 83
3.2 Một số giải pháp chủ yếu phát huy vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ
sở trong xây dựng nông thôn mới ở Hưng Yên 86
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC

3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược quan trọng
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, là nền tảng bảo đảm phát triển kinh tế bền vững, ổn định chính trị, an

trọng tới việc đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã,
phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã), theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị
Trung ương 5 khóa IX.
Trong hệ thống quản lý 4 cấp ở nước ta, cấp xã là cấp cơ sở, là địa bàn
nông thôn có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng, gắn liền nông nghiệp,
nông thôn với nông dân. Trong quá trình đổi mới vừa qua, nông thôn và hệ
thống chính trị ở nông thôn đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đồng
thời cũng phát sinh nhiều vấn đề phức tạp. Nông thôn Hưng Yên cũng nằm
trong tình hình chung đó.
Toàn tỉnh Hưng Yên hiện có 161 xã, phường, thị trấn; trong đó có 145
xã, 9 thị trấn, 7 phường. Trong 161 Đảng bộ xã, phường, thị trấn có 1.767 chi
bộ trực thuộc, với 45.304 đảng viên (trong tổng số 57.398 đảng viên toàn
tỉnh). Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn của tỉnh Hưng Yên trong thời gian
qua đang tiếp tục được kiện toàn và đổi mới, đóng vai trò quan trọng trong
việc triển khai, tổ chức thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên
địa bàn tỉnh. Các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở thường xuyên được
củng cố, kiện toàn và hàng năm đều được đánh giá về chất lượng hoạt động.
Thực hiện các nghị quyết của Trung ương, nghị quyết của Tỉnh ủy
Hưng Yên đối với hoạt động của hệ thống chính trị, đặc biệt là Chương
trình số 07-CTr/TU ngày 20/4/2007 của Tỉnh ủy Hưng Yên về xây dựng tổ
chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh, tăng cường hiệu lực quản lý của

5
chính quyền, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị
- xã hội, nâng cao chất lượng đảng viên giai đoạn 2006 - 2010, hệ thống
chính trị cơ sở trên địa bàn tỉnh tiếp tục được củng cố, tăng cường, đã góp
phần quan trọng vào việc lãnh đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu
Nghị quyết Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh.
Tuy nhiên, chất lượng của hệ thống chính trị đó vẫn còn nhiều hạn
chế, bất cập, cụ thể là: Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị còn nhiều bất

chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân ở cơ
sở. Xây dựng nông thôn mới và hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn là
những vấn đề quan trọng, bức xúc hiện nay. Nó đòi hỏi chúng ta phải
nghiên cứu một cách nghiêm túc cả trên lĩnh vực lý luận và thực tiễn để
giải quyết kịp thời những khó khăn ở chính cơ sở.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Vai trò của hệ thống
chính trị cấp cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở Hưng Yên hiện nay”
làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hệ thống chính trị cấp cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ
chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước. Việc phát huy tốt vai trò của hệ thống chính trị không
những tạo điều kiện phát triển kinh tế nhanh, bền vững mà còn góp phần
dân chủ hóa đời sống xã hội và xây dựng nông thôn mới - vấn đề có ý
nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Do tầm quan trọng, cũng như tính chất thời sự của công tác xây dựng nông
thôn mới và việc phát huy vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong
phát triển kinh tế - xã hội, nên đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và giới

7
thiệu về vấn đề này. Có thể khái quát một số công trình nghiên cứu tiêu
biểu sau đây:
Nhóm các công trình nghiên cứu về hệ thống chính trị cấp cơ sở:
Luận án PTS Triết học về “Đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị ở
nông thôn ngoại thành Hà Nội (xã) trong giai đoạn hiện nay” của tác giả
Lưu Minh Trị, Hà Nội, 1993. Đây là công trình của một cán bộ lãnh đạo
thành phố Hà Nội đã đi sâu bàn về kiện toàn hệ thống chính trị nông thôn
ngoại thành Hà Nội.
Đề tài “Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hóa đời sống xã hội
nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nước

thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở.
Nhóm các công trình nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn, nông
dân, về xây dựng nông thôn mới:
Công trình “Nông nghiệp nông thôn trong sự nghiệp đổi mới hiện
nay”, của Trung tâm thông tin - tư liệu, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội, năm 1993. Công trình là tập hợp những bài viết của các cán
bộ, giảng viên Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh về một số vấn đề
nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Công trình “Biến đổi cơ cấu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở vùng
châu thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới (qua khảo sát một số làng xã)”,
của PGS.TS Nguyễn Văn Khánh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm
2001. Công trình này đã đi sâu nghiên cứu những biến đổi của nông thôn
châu thổ sông Hồng nhìn từ góc độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp. Đồng
thời, phân tích những tác động của chính sách đổi mới về nông nghiệp đối
với tình hình kinh tế - xã hội ở một số làng xã vùng đồng bằng châu thổ
sông Hồng.

9
Công trình “Những quy định pháp luật và công tác văn hóa xã hội ở
cơ sở và xây dựng nông thôn mới”, của Luật gia Bùi Văn Thấm (sưu tầm và
giới thiệu), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2003. Công trình nghiên
cứu này chủ yếu đề cập và giới thiệu các quy định của Nhà nước về công
tác văn hóa xã hội và quy định về nông thôn mới, về việc xây dựng nông
thôn mới ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa.
Công trình “Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam”
(tuyển tập), của TS Nguyễn Hữu Tiến, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, năm
2008. Cuốn sách là tập hợp các công trình nghiên cứu của tác giả trên các
lĩnh vực kinh tế - xã hội ở nông thôn.
Công trình “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và
mai sau”, của TS Đặng Kim Sơn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm

nông thôn mới từ Trung ương đến cơ sở”. Trong bài viết này, tác giả chủ
yếu đề cập đến việc củng cố, kiện toàn ban chỉ đạo xây dựng nông thôn
mới từ Trung ương đến cơ sở nhằm nâng cao hiệu quả của công tác xây
dựng nông thôn mới ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Bài viết của tác giả Lương Thủy đăng trên tạp chí Nông thôn mới số 299
(kỳ 2, tháng 7/2011) với nhan đề: “Tập trung 4 vấn đề lớn xây dựng nông thôn
mới”. Trong bài viết này, tác giả đã đề cập đến 4 vấn đề lớn trong công tác xây
dựng nông thôn mới gồm công tác khuyến nông; vệ sinh an toàn thực phẩm; Hội
nông dân tham gia xây dựng nông thôn mới; về phát triển kinh tế hợp tác xã.
Bài viết của tác giả Nguyễn Tất Đạt đăng trên tạp chí Nông thôn mới
số 326 (kỳ 1, tháng 9/2012) với nhan đề: “Dân chủ cơ sở gắn với xây dựng
nông thôn mới”. Trong bài viết này, tác giả chủ yếu bàn về việc thực hiện
pháp lệnh dân chủ ở cơ sở, đồng thời đưa ra một số khuyến nghị trong việc

11
thực hiện dân chủ, khẳng định việc thực hiện dân chủ ở cơ sở sẽ góp phần
quan trọng trong việc xây dựng nông thôn mới.
Bài viết của tác giả Hồng Chương đăng trên tạp chí Xây dựng Đảng số
3/2011 với nhan đề: “Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ xã trong việc quy
hoạch xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình”. Trong bài viết này, tác giả đã
đi sâu phân tích vai trò của Đảng bộ xã trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong
việc quy hoạch xây dựng nông thôn mới…
Những vấn đề xoay quanh nông nghiệp, nông thôn, nông dân và ổn
định chính trị - xã hội ở nông thôn góp phần xây dựng nông thôn mới cũng
là đề tài thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả luận văn.
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
Luận văn Thạc sĩ Chính trị học về “Đảm bảo an ninh nông thôn vùng
Đồng bằng sông Hồng trước yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của
tác giả Đặng Thị Thanh Hoa, Hà Nội, năm 2009. Công trình nghiên cứu
này đã tập trung phân tích thực trạng an ninh nông thôn và công tác đảm

vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của Đảng và Nhà nước nói chung, trong việc xây dựng nông
thôn mới nói riêng.
Ngoài ra, còn rất nhiều công trình nghiên cứu và bài viết khác về hệ
thống chính trị cấp cơ sở, về vấn đề xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện
nay. Các công trình nghiên cứu mặc dù đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác
nhau của hệ thống chính trị cấp cơ sở, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông
thôn và vấn đề xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay, tuy nhiên, việc
nghiên cứu vai trò của hệ thống chính trị cơ sở ở từng địa phương vẫn còn
rất khiêm tốn. Đặc biệt, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách

13
có hệ thống vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở đối với việc xây dựng
nông thôn mới ở Hưng Yên.
Từ khi tái lập tỉnh đến nay, Hưng Yên có nhiều tiềm năng để phát triển
nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức. Để phát huy thế mạnh của tỉnh
trong giai đoạn hiện nay cần có nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó phải đặc
biệt chú ý đến những giải pháp đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở nông
thôn, nhằm phát huy vai trò định hướng của hệ thống đó đối với quá trình
phát triển của Hưng Yên hiện nay. Mặc dù trong thời gian qua, Tỉnh ủy và
Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên đã có nhiều cố gắng để nghiên cứu, triển
khai việc đổi mới và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị, thực hiện
quy chế dân chủ ở cơ sở và xây dựng nông thôn mới như:
Kế hoạch số 91/KH-UBND, ngày 29/10/2010 của Ủy ban nhân dân
tỉnh Hưng Yên thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông
thôn mới tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2010 - 2020 (29/10/2010); Nghị quyết
số 02-NQ-TU, ngày 10/5/2011 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa
XVII về Chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh Hưng Yên giai đoạn
2011 - 2020, định hướng 2030 (10/5/2011); Hướng dẫn tạm thời số 67/HD-
LN: NN-XD-TNMT ngày 04/7/2011 của Liên ngành Nông nghiệp và phát

thống chính trị cấp cơ sở trong việc xây dựng nông thôn mới ở Hưng Yên
hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn được triển khai nghiên cứu trên cơ sở quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về hệ thống chính trị. Đồng thời, luận văn cũng

15
kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu trước về hệ thống
chính trị cấp cơ sở và vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở đối với việc
xây dựng nông thôn mới.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu lôgic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tiễn
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở trong
xây dựng nông thôn mới ở Hưng Yên.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu, khảo sát vai trò
của hệ thống chính trị cấp cơ sở ở Hưng Yên đối với việc xây dựng nông
thôn mới từ năm 1997 đến nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần làm rõ những khía cạnh lý luận về
vai trò của hệ thống chính trị trong xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
hiện nay.
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu
tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề liên
quan đến hệ thống chính trị cấp cơ sở. Đồng thời có thể làm tài liệu để
tuyên truyền đối với công tác xây dựng nông thôn mới ở các địa phương,
trong đó có những giải pháp phát huy vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ
sở trong xây dựng nông thôn mới.
7. Kết cấu của luận văn

là cấp cuối cùng, gần dân nhất nên được gọi là cấp cơ sở.
Tại Hội thảo khoa học - thực tiễn “Xây dựng hệ thống chính trị và đội
ngũ cán bộ cơ sở” do Bộ biên tập tạp chí Cộng sản phối hợp với tỉnh ủy Hà

17
Nam tổ chức vào ngày 19/6/2002, các nhà lý luận và quản lý đều cơ bản
thống nhất quan niệm về hệ thống chính trị cơ sở.
PGS.TS Trần Quang Nhiếp cho rằng: cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi
tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống và diễn ra mọi mặt hoạt động
của đời sống xã hội một cách sinh động. Hệ thống chính trị cơ sở có vai trò
rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối
của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước… Theo PGS.TS Nguyễn
Chí Mỳ, hệ thống chính trị cơ sở là cấp độ cuối cùng trong cấu trúc hệ
thống chính trị đất nước. Hệ thống chính trị cơ sở là cầu nối trực tiếp đưa
nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, là nơi cung cấp cơ sở thực tiễn sát hợp
nhất. Còn PGS.TS Nguyễn Hữu Khiển thì khẳng định cấp xã, phường, thị
trấn là một khâu quan trọng trong hệ thống chính trị ở nước ta. Do đó, cán
bộ cơ sở là cán bộ của bộ máy Đảng, Nhà nước, làm việc ở địa phương.
Như vậy, từ những quan niệm và thực tế nêu trên có thể thấy: hệ thống
chính trị cấp cơ sở ở nông thôn nước ta là một thể thống nhất, bao gồm ba
tổ chức: tổ chức Đảng cơ sở (các Đảng bộ, chi bộ cơ sở), Chính quyền (Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân), Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính
trị - xã hội (hay gọi cách khác là các đoàn thể nhân dân bao gồm: Đoàn
thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội
nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam ). Mỗi tổ chức có vai
trò, chức năng riêng và có quan hệ mật thiết với nhau, cùng tồn tại và hoạt
động trên một địa bàn lãnh thổ - dân cư nhất định, đó là đơn vị hành chính
cơ sở. Trong đó:
Tổ chức cơ sở Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam (chi bộ cơ sở, Đảng
bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng ở các địa phương, là hạt nhân lãnh đạo hệ


19
Đối với Hội đồng nhân dân
Chương IX, Hiến pháp năm 1992 quy định: Hội đồng nhân dân là cơ
quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và
quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách
nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Căn cứ
vào Hiến pháp, pháp luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, Hội đồng
nhân dân ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh
Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; về phát triển kinh tế - xã hội và ngân
sách; về quốc phòng, an ninh ở địa phương; về biện pháp ổn định và nâng
cao đời sống của nhân dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao cho,
làm tròn nghĩa vụ đối với cả nước.
Đối với Ủy ban nhân dân
Theo điều 123 Hiến pháp năm 1992 quy định: Ủy ban nhân dân do
Hội đồng nhân dân bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến
pháp, luật, các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết
của Hội đồng nhân dân. Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến
pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của
Hội đồng nhân dân cùng cấp nhằm đảm bảo thực hiện các chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, cũng như đảm bảo thực hiện các
biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng và
thực hiện các chính sách khác trên địa bàn.
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở có vai trò đoàn
kết nhân dân, chăm lo lợi ích của các thành viên, thực hiện dân chủ và đổi mới
xã hội, thực thi quyền, nghĩa vụ công dân, giữ mối liên hệ giữa Đảng, Nhà
nước với nhân dân. Mặt khác, đây cũng là lực lượng đi đầu trong tuyên truyền
chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là trung tâm hòa


xã vẫn là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền nói riêng và hệ thống
chính trị nói chung ở Việt Nam.
Thứ hai, hệ thống chính trị cấp cơ sở là cấp gần dân nhất, có quan hệ
chặt chẽ với nhân dân. Cán bộ cơ sở trực tiếp sống, công tác, sinh hoạt trên
địa bàn, hàng ngày tiếp xúc với nhân dân nên có thể hiểu được đầy đủ nhất
mọi tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Vì vậy, cán bộ cơ sở được coi là
cầu nối giữa dân với Đảng.
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 5, khóa IX đã
nêu rõ: “Trong thời gian qua, hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta được thiết
lập rộng rãi trên khắp các địa phương trên cả nước, từ thành thị đến nông
thôn, miền núi, biên giới, hải đảo…” [20, tr.1]. Trên toàn quốc có 8.930 xã,
563 thị trấn và 1018 phường [10, tr.319]. Như vậy có thể nói, hệ thống
chính trị ở nước ta được thiết lập trải rộng trên khắp các vùng miền của đất
nước. Do vậy, đông đảo đội ngũ cán bộ cơ sở là những người gần dân, gắn
bó với dân, nắm được tâm tư, nguyện vọng của dân.
Thứ ba, hệ thống chính trị cấp cơ sở là cấp trực tiếp truyền tải và tổ
chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước. Mọi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước muốn
được thực hiện, trước hết phải đến được với dân, dân có hiểu mới thực hiện
đúng. Và để các chủ trương, chính sách đó đến được với dân phải thông
qua các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở, vì đây là cấp gần
dân nhất, trải khắp trên tất cả các địa bàn. Cấp cơ sở cũng là cấp có điều
kiện trực tiếp tổ chức, hướng dẫn nhân dân cùng thực hiện các chủ trương
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

22
Thứ tư, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở phụ thuộc
rất lớn vào cá nhân người lãnh đạo. Đây là đặc điểm xét trên hiệu quả hoạt
động của hệ thống chính trị. Khác với các cấp trên, ở cấp xã mức độ phụ
thuộc của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể vào cá nhân người lãnh đạo

1.2 Xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Nông thôn và những đặc trưng của nông thôn mới
Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành
phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân
dân xã. Ở Việt Nam, nông thôn gắn liền với địa danh làng, xã, nơi tụ cư
chủ yếu của nông dân, lấy nông nghiệp làm nghề chính. Hiện nay, ở nước
ta nông thôn là địa bàn sinh sống, lao động của gần 70% dân số. Việc giải
quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng nông thôn mới
chính là áp dụng lý luận phát triển nông thôn bền vững vào điều kiện cụ thể
của Việt Nam. Theo đó, nâng cao chất lượng sống cả về vật chất và tinh
thần của nông dân và dân cư nông thôn nói chung, vừa là mục tiêu vừa là
động lực của sự nghiệp phát triển nông thôn. Nội dung của phát triển nông thôn
bao gồm 4 quá trình: 1- công nghiệp hóa, hiện đại hóa; 2- đô thị hóa; 3- kiểm
soát dân số; 4- bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên và nhân văn theo những
tiêu chuẩn của nền văn minh nhân loại và truyền thống văn hóa Việt Nam.
Thực hiện 4 quá trình này, tỉ lệ dân số và sức lao động nông nghiệp trong tổng
dân số và lực lượng lao động xã hội phải giảm tương ứng với tỉ lệ GDP nông
nghiệp trong GDP của nền kinh tế. Do đó, phát triển nông thôn bền vững đã
bao hàm việc phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân.
Xây dựng nông thôn mới là vấn đề thời sự trong Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Văn kiện đã khẳng định: “Phát triển

Trích đoạn Xây dựng nông thôn mới
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status