Vai trò của chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn mới ở Hà Nam hiện nay - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
==================
NGÔ QUANG DUY VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ TRONG

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HÀ NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Mã số: 60 22 03 08 Người hướng dẫn khoa học: TS Ngô Thị Phượng Hà Nội - 2014

i LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS Ngô Thị Phượng. Các số liệu, tài liệu tham khảo
trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
6. Đóng góp mới của luận văn 9
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 9
8. Kết cấu của luận văn 10
NỘI DUNG 11
Chương 1. XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM VÀ CHÍNH
QUYỀN CẤP XÃ Ở HÀ NAM: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 11
1.1. Nông thôn Việt Nam trong lịch sử và xây dựng nông thôn mới ở Việt
Nam hiện nay 11
1.1.1. Đặc điểm của nông thôn Việt Nam trong lịch sử 11
1.1.2. Nông thôn mới và những nội dung cơ bản trong xây dựng nông
thôn mới ở Việt Nam hiện nay 20
Nông thôn mới ở Việt Nam 20
1.1.3. Những yếu tố tác động đến xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện
nay 28
1.2. Chính quyền cấp xã và chính quyền cấp xã ở tỉnh Hà Nam 32
1.2.1. Đặc điểm của cấp xã và vị trí, vai trò, chức năng của chính quyền
cấp xã 32
1.2.2. Khái quát về tỉnh Hà Nam và chính quyền cấp xã ở tỉnh Hà Nam42
Kết luận chương 1 51

iii

Chương 2: VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ TRONG XÂY
DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HÀ NAM HIỆN NAY: THỰC TRẠNG,
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP 52
2.1. Thực trạng vai trò của chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn
mới ở Hà Nam hiện nay 52
2.1.1. Vai trò của chính quyền cấp xã trong triển khai, tổ chức thực hiện
xây dựng nông thôn mới ở Hà Nam 52

NĐ – CP
Nghị định - chính phủ
TBCN
Tư bản chủ nghĩa
TW
Trung ương
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
UBND
Ủy ban nhân dân 1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp, nông dân chiếm đa số trong dân
cư. Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, nông dân chiếm hơn 90 % dân số,

hệ thống chính trị là một nội dung quan trọng của đổi mới chính trị nhằm thực
hiện và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo động lực cho đổi mới và phát
triển kinh tế - xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị ở nước ta. Đổi mới
hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay phải đặc biệt chú trọng tới việc đổi mới
và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở theo tinh thần Nghị quyết
Hội nghị Trung ương năm khóa IX.
Trong hệ thống quản lý bốn cấp ở nước ta, cấp xã thuộc cấp cơ sở, là
cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị, quản lý địa bàn nông thôn. Cấp xã có
vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng, gắn liền nông nghiệp, nông thôn và nông
dân. Tỉnh Hà Nam hiện nay có 117 đơn vị cấp cơ sở, trong đó có 100 xã, 7 thị
trấn, 10 phường. Như vậy, trong số đơn vị cấp cơ sở của tỉnh Hà Nam, cấp xã
là chủ yếu, chiếm tới 85% đơn vị cấp cơ sở. Trong quá trình đổi mới đất
nước, đặc biệt là đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị, hệ thống chính
quyền cấp xã ở tỉnh Hà Nam đang tiếp tục được kiện toàn về tổ chức, hoạt
động cũng như đội ngũ cán bộ. Trong quá trình triển khai, tổ chức thực hiện
chương trình xây dựng nông thôn mới, chính quyền cấp xã có vai trò đặc biệt
quan trọng.
Mặc dù vậy, hoạt động hệ thống chính quyền cấp xã vẫn còn nhiều hạn
chế nhất là trong xây dựng nông thôn mới. Cụ thể là, tổ chức bộ máy của hệ
thống chính quyền còn nhiều bất cập, hiệu quả hoạt động còn thấp, chưa đáp
ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong quá trình
xây dựng nông thôn mới. Sự phân công và phối hợp giữa chính quyền với tổ
chức Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội chưa cụ thể, rõ ràng, minh bạch.
Công tác tổ chức cán bộ tiến hành còn chậm, chưa kiên quyết. Năng lực và

3

trình độ của cán bộ chưa đáp ứng được chức năng nhiệm vụ. Tình trạng quan
liêu, tham nhũng, mất đoàn kết nội bộ vẫn còn xảy ra ở một số nơi. Một bộ
phận cán bộ cấp xã thoái hóa, biến chất vừa vi phạm quyền làm chủ của nhân

"Chính quyền cấp xã và quản lý nhà nước cấp xã" của hai tác giả Thang
Văn Phúc và Chu Văn Thành, Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước, Ban Tổ
chức Cán bộ chính phủ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000. Các tác giả đã
khái quát đặc điểm, chức năng của chính quyền cấp xã và vai trò của chính
quyền trong việc quản lý nhà nước ở địa phương. Từ đó thấy được chức năng
nhiệm vụ của đội ngũ chính quyền cấp xã, tổ chức chính quyền ở địa phương
là nơi trực tiếp điều hành quản lý ở nông thôn.
"Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam", do tác giả
Nguyễn Ngọc Hiến chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001. Cuốn
sách tập hợp các bải tham luận của các nhà khoa học và quản lý Nhà nước
trình bày trong Hội thảo khoa học về kiến nghị các giải pháp cải cách hành
chính giai đoạn 2001- 2005 của Học viện Hành chính quốc gia. Đồng thời,
cuốn sách cuãng đã phân tích các tiến trình cải cách hành chính ở nước ta
những năm qua, nguyên nhân, những hạn chế, kiến nghị một số giải pháp cơ
bản thúc đẩy cải cách hành chính của Việt Nam trong thời gian tới.
"Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta
hiện nay", của hai tác giả Nguyễn Văn Sáu và Hồ Văn Thông (chủ biên),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003. Các tác giả đã trình bày, phân tích quy
chế dân chủ ở cấp cơ sở việc tổ chức, thực hiện quy chế dân chủ ở cấp cơ sở,
đánh giá những kết quả, hạn chế, bất cập trong thực hiện quy chế dân chủ cơ
sở trong giai đoạn hiện nay.
“Hệ thống chính trị cơ sở - đặc điểm, xu hướng và giải pháp”, của tác
giả Vũ Hoàng Công, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2002. Công trình
này đã phân tích một cách khoa học - thực tiễn về đặc điểm của hệ thống
chính trị cấp cơ sở đồng thời dự báo xu hướng vận động của hệ thống đó. Từ
đó đề xuất nhiều giải pháp có giá trị để phát huy vai trò của hệ thống chính trị
cấp cơ sở ở nước ta.

5



“Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và mai sau”, của
chuyên gia nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, tác giả Đặng
Kim Sơn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2008. Công trình này đã nêu
lên thực trạng các vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay,
những thành tựu cũng như những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại. Xuất phát
từ thực tiễn đó, tác giả đã đề xuất những định hướng và kiến nghị chính sách
nhằm đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn ngày càng phát triển.
“Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát triển nông nghiệp
Việt Nam”, của tác giả Nguyễn Từ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm
2008. Công trình này không chỉ đề cập đến những vấn đề cơ bản về hội nhập
kinh tế quốc tế, các hiệp định thương mại khu vực và toàn cầu liên quan đến
nông nghiệp nói chung và đến ngành nông nghiệp Việt Nam nói riêng, những
ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế đến phát triển nông nghiệp Việt Nam
trong thời gian qua, mà còn nêu lên quan điểm và những giải pháp chủ yếu
nhằm phát triển nền nông nghiệp nước ta trong xu hướng hội nhập quốc tế.
“Xây dựng nông thôn mới những vấn đề lý luận và thực tiễn”, do tác giả
Vũ Văn Phúc chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2012. Công
trình này là tập hợp các bài viết của các nhà khoa học, lãnh đạo các cơ quan
Trung ương, địa phương, các ngành, các cấp về xây dựng nông thôn mới ở
Việt Nam, gồm những vấn đề lý luận chung về nông thôn mới, kinh nghiệm
quốc tề về xây dựng nông thôn mới, thực tiễn và kết quả bước đầu trong xây
dựng nông thôn mới ở một số địa bàn trên phạm vi cả nước, đặc biệt là các địa
bàn thí điểm xây dựng nông thôn mới.
“Nhìn lại hơn 3 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng
nông thôn mới: Kết quả và một số bài học kinh nghiệm” của Phó Thủ tướng,
Trưởng ban chỉ đạo Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới,
Tạp chí Cộng sản, (số 94), năm 2014, tr.8-14. Bài viết đã trình bày những kết
quả quan trọng bước đầu trong hơn 3 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu


8

phân tích vai trò của Đảng bộ xã trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong việc quy
hoạch xây dựng nông thôn mới…
Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu và bài viết khác về hệ thống
chính quyền cấp xã và vấn đề xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay.
Các công trình nghiên cứu mặc dù đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau
của hệ thống chính trị cấp cơ sở, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn và
vấn đề xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay, tuy nhiên, việc nghiên
cứu vai trò của hệ thống chính quyền cơ sở ở từng địa phương vẫn còn rất
khiêm tốn. Đặc biệt, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ
thống vai trò của chính quyền cấp xã đối với việc xây dựng nông thôn mới ở
Hà Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích: Từ vị trí vai trò của chính quyến cấp xã, luận văn trình bày
thực trạng thực hiện vai trò của chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn
mới ở Hà Nam. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của
chính quyền cấp cơ sở, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới ở địa
phương hiện nay.
Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Trình bày đặc điểm nông thôn Việt Nam và những nội dung cơ bản
trong xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay.
- Phân tích các yếu tố tác động đến xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam.
- Khái quát vai trò của chính quyền cấp xã và vai trò của chính quyền cấp
xã ở Hà Nam.
- Trình bày thành tựu và hạn chế trong thực hiện vai trò của chính quyền
cấp xã trong xây dựng nông thôn mới ở Hà Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của chính quyền cấp xã
trong việc xây dựng nông thôn mới ở Hà Nam hiện nay.



10

nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của bộ máy chính quyền cấp xã trong xây
dựng nông thôn mới hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn gồm 2 chương, 5 tiết.

11

NỘI DUNG
Chương 1. XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM VÀ CHÍNH
QUYỀN CẤP XÃ Ở HÀ NAM: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Nông thôn Việt Nam trong lịch sử và xây dựng nông thôn mới ở Việt
Nam hiện nay
1.1.1. Đặc điểm của nông thôn Việt Nam trong lịch sử
Theo quan niệm thông thường nông thôn là địa bàn sinh sống của một
bộ phận dân cư, chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, tức là nông
dân. Nông thôn cũng được dùng để chỉ một khu vực kinh tế trong xã hội -
kinh tế nông nghiệp. Nghiêng về khía cạnh văn hóa, xã hội, thì nông thôn là
một môi trường xã hội, là không gian văn hóa mà ở đó những yếu tố văn hóa,
đặc điểm xã hội truyền thống được duy trì khá lâu trong lịch sử.
Tuy nhiên, quan niệm chính thức về nông thôn cũng có nhiều ý kiến
khác nhau, tùy theo căn cứ và phương pháp nhất định. Theo tổ chức Nông
lương Liên Hiệp Quốc (FAO), có hai phương pháp chính định nghĩa nông
thôn. Phương pháp thứ nhất, căn cứ vào đặc điểm và dùng phép loại trừ dựa
vào khái niệm đối lập với nông thôn là thành thị. Theo đó, thành thị được xác
định là tất cả những trung tâm của huyện, tỉnh, thành phố, các vùng còn lại
được hiểu là nông thôn. Nông thôn là nơi tập trung hầu hết những lao động

thành thị. Nông thôn, theo quy định về hành chính và thống kê của Việt Nam
là những địa bàn thuộc xã (những địa bàn thộc phường hoặc thị trấn được quy
định là khu vực thành thị)” [Dẫn theo 50; tr. 121 -122]. Trong điều kiện hiện
nay ở nước ta, nhìn nhận dưới góc độ chính trị- xã hội, có thể hiểu nông thôn
là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó phần lớn là nông dân. Tập
hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi
trường trong một thể chế nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác.
Nông thôn Việt Nam là khu vực rộng lớn và đông dân nhất, đa dạng về
điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, thành phần tộc người, văn hóa, là nơi bảo

13

tồn, lưu giữ các phong tục, tập quán của cộng đồng người Việt. Trong lịch sử
phát triển của dân tộc, nông thôn Việt Nam đã có sự chuyển biến khá toàn
diện biểu hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, trong sự
chuyển biến đó, vẫn có thể thấy những yếu tố ổn định, để phân biệt sự khác
nhau giữa nông thôn với đô thị (nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị
trấn):
Thứ nhất, cơ cấu kinh tế ở nông thôn Việt Nam mang tính thuần nông,
trình độ cá thể, tiểu nông và kinh nghiệm.
Do sự đa dạng về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, thời tiết, nên nông
thôn Việt Nam cũng mang tính vùng rõ rệt, Nông thôn vùng miền núi, nông
thôn vùng trung du (ven đồi), nông thôn vùng ven song (đồng bằng) và nông
thôn vùng ven biển (dọc ven bờ biển Đông và hải đảo). Giữa các vùng nông
thôn này có sự khác nhau nhất định trong phương thức lao động sản xuất, sinh
sống. Tuy nhiên, bên cạnh sự khác biệt, vẫn có mẫu số chung là kinh tế nông
nghiệp - trồng trọt và chăn nuôi, trong đó, trồng trọt có sự vượt trội hơn so với
chăn nuôi. Nghề trồng trọt và chăn nuôi là phương thức sinh tồn chủ yếu của
cư dân nông thôn Việt Nam. Do vậy, trong tâm thức người Việt cổ thì, thứ
nhất canh trì (ao), thứ nhì canh viên (vườn), thứ ba canh điền (ruộng). Ngoài

tán, cách thức tổ chức lao động sản xuất ở nông thôn Việt Nam là tự cấp, tự
túc. Sản phẩm làm ra chủ yếu để thảo mãn nhu cầu tiêu dùng của gia đình, địa
phương. Các thức tổ chức lao động này chính là một yếu tố kìm hãm sự phát
triển của nông thôn Việt Nam trong lịch sử.
Trải qua các thời kỳ cách mạng của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng
về phát triển nông nghiệp- nông dân- nông thôn qua chủ trương hợp tác hóa
nông nghiệp bậc thâp, bậc cao những năm 60 của thế kỷ XX, đến thực hiện
“khoán” trong nông nghiệp và chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn, bộ mặt nông thôn Việt Nam ngày càng thay da đổi thịt, cơ
cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn bước đầu có sự chuyển dịch gắn liền với

15

quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Trong đó, sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm, sản xuất
công nghiệp và dịch vụ tăng lên. Tổ chức sản xuất trong nông nghiệp chuyển
từ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên, sự chuyển biến đó mới chỉ
diễn ra ở một số địa bàn chứ không phải là toàn bộ khu vực nông thôn Việt
Nam. Do vậy, sự khác biệt giữa nông thôn và đô thị vẫn biểu hiện rõ nét ở kết
cấu kinh tế mang tính thuần nông của nông thôn.
Thứ hai, thiết chế quản lý xã hội ở nông thôn Việt Nam thể hiện tính
cộng đồng và tự trị cao
Cùng với sự phát triển cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và nông
nghiệp, thiết chế quản lý xã hội ở nông thôn Việt Nam cũng có sự thay đổi
tương ứng. Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy là trong các thiết chế quản lý xã
hội ở nông thôn Việt Nam bao giờ cũng tồn tại song song hai loại tổ chức.
Các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội dân sự. Các tổ chức chính
trị- xã hội là tổ chức của nhà nước, là công cụ để giai cấp cầm quyền thể hiện
và thực hiện quyền lực của mình. Các tổ chức xã hội dân sự (phe, giáp, dòng
họ, phường hội…) là các tổ chức tự nguyện của cư dân nông thôn, do dân sự

đã tạo cho người dân chỉ lo thu vén cho mình, gia đình, dòng họ, làng mình,
lâu dần thành thói quen, nếp sống và mang sắc thái cục bộ địa phương,
“Trống làng nào làng ấy đánh, Thánh làng nào làng ấy thờ”. Tính cộng đồng
của cư dân nông thôn được thể hiện ở sự ra đời của các tổ chức xã hội dân sự
trong nông thôn, như gia đình, dòng họ, thôn xóm, phường hội, các tổ chức
hợp tác của nhân dân về kinh tế, xã hội … với những quy ước nhất định của
từng tổ chức. Các tổ chức ấy, ở những mức độ nhất định, đã tham gia vào việc
quản lý xã hội, quản lý con người ở nông thôn.
Cũng chính sự tồn tại của các tổ chức xã hội dân sự đó, cho thấy, đi đôi
với tính cộng đồng là tính tự trị, tự quản của cư dân nông thôn, đồng thời thể
hiện tính độc lập của các tổ chức xã hội dân sự so với các thiết chế chính trị -
xã hội nông thôn. Với hoạt động và quy ước cụ thể của các tổ chức đó, cho

17

thấy “nước có luật của nước”, “làng có luật của làng”, “nhà nước có pháp luật
quy định, còn dân có những điều ước riêng”. Đôi khi, “phép vua thua lệ làng”.
Tính tự trị, tự quản của nông thôn Việt Nam biểu hiện rõ nét nhất ở hương
ước của mỗi làng. Hương ước, một mặt, là công cụ để quản lý xã hội ở nông
thôn. Mặt khác, hương ước còn là công cụ để nhà nước can thiệp vào xã hội
nông thôn, quản lý xã hội nông thôn hay nói cách khác, là trung gian mà qua
nó pháp luật của nhà nước mới vào được xã hội nông thôn.
Trong điều kiện phát triển hiện nay, các tổ chức dân sự có xu hướng
phục hồi và phát triển. Đó cũng là lẽ tự nhiên, bởi nó phù hợp với nhu cầu xã
hội phong phú và phức tạp. Từ vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong
quản lý xã hội ở nông thôn Việt Nam, cho thấy, ngày nay, để quản lý tốt xã
hội nông thôn, cần có sự kết hợp hài hòa giữa tổ chức chính trị - xã hội của
Đảng và Nhà nước với các tổ chức có tính chất tự quản ở nông thôn.
Thứ ba, đời sống văn hóa - tinh thần ở nông thôn Việt Nam mang đậm
dấu ấn của nền văn minh nông nghiệp

xu hướng cần được hỗ trợ, khuyến khích. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng cần
xem xét, nghiên cứu kỹ lưỡng để loại bỏ dần những hủ tục vẫn còn đây đó
trong đời sống sinh hoạt làng xã, trong đó các hình thức sinh hoạt văn hóa dân
gian, đặc biệt là cầu cúng, hủ tục trong lễ hội…
Trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự phát triển kinh tế xã hội,
văn hóa nông thôn đang đứng trước những thuận lợi cơ bản cũng như những
thách thức không nhỏ. Sự biến động về quy luật phát triển và thực trạng biểu
hiện của kinh tế, văn hóa, xã hội ở nông thôn vẫn đang diễn ra một cách
nhanh chóng và chắc chắn sẽ có những thay đổi trong tất cả những yếu tố đã
nêu. Nhưng dù có biến đổi thế nào, thì với những gì được thể hiện, văn hóa
nông thôn cả nước nói chung vẫn giữ được cho mình những hằng số văn hóa.
Đó là sinh hoạt văn hóa mang đậm nét dấu ấn, phong vị văn hóa văn minh
nông nghiệp trồng lúa nước với cơ cấu tổ chức xã hội thôn làng tương đối
khép kín, nay có điều kiện để trở thành một pháo đài, xây dựng đời sống văn

19

hóa cơ sở; là sự bền vững phong phú, đa dạng của các hoạt động văn hóa dân
gian thôn làng kết hợp với sự gia tăng ngày càng nhiều hình thức sinh hoạt và
hưởng thụ văn hóa hiện đại, tạo điều kiện cho người dân sáng tạo và hưởng
thụ văn hóa nhiều hơn, cao hơn; là dân trí ngày càng được nâng cao bởi sự
phát triển kinh tế hộ, kinh tế làng, khiến mức sống của người dân tăng lên khá
ổn định, tạo điều kiện gia tăng khả năng học tập, dịch chuyển, giao tiếp dưới
nhiều hình thức; là ý chí vươn lên của người nông dân trong tất cả các lĩnh
vực học tập vốn có truyền thống từ xưa (với lệ khuyến học); là rất nhiều nét
đẹp trong giao tiếp, ứng xử, thực hành văn hóa của người nông dân… Với
hành trang văn hóa ấy người nông dân đang tự nâng mình để xây dựng nông
thôn mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ngày càng giàu đẹp, công
bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status