BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ LƯỢNG
VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Ở HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
NGHỆ AN - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ LƯỢNG
VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Ở HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN LƯƠNG BẰNG
A. MỞ ĐẦU......................................................................................................6
1. Lý do chọn đề tài.......................................................................................
2. Mục đích nghiên cứu...............................................................................
3. Nhiệm vụ nghiên cứu..............................................................................
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...........................................................
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn.........................
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn............................................
B. NỘI DUNG.................................................................................................14
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI...................................................14
1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài..................................................
1.2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò, vị trí của
chính quyền cấp xã..............................................................................
1.3. Vai trò của chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn mới..........
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP
XÃ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN QUAN HÓA,
TỈNH THANH HÓA.......................................................................................38
2.1. Khái quát về đặc điểm tình hình của huyện Quan Hóa........................
2.2. Thực trạng về vai trò của chính quyền cấp xã huyện Quan Hóa
trong xây dựng nông thôn mới............................................................
2.3. Những vấn đề đặt ra trong việc phát huy vai trò của chính quyền
cấp xã trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Quan Hóa, tỉnh
Thanh Hóa...........................................................................................
Tiểu kết chương 2........................................................................................
Chương 3 GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP
XÃ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN QUAN HÓA,. .69
4
TỈNH THANH HÓA.......................................................................................69
Xã hội chủ nghĩa
6
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp, nông dân và nông thôn luôn là vấn đề chiến lược
trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
“Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh
nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, chính phủ trông
mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân
ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh” . Nước ta
hiện nay, sau hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước vẫn là một nước nông
nghiệp với hơn 70% dân cư đang sống ở nông thôn. Phát triển nông
nghiệp nông thôn đã, đang và sẽ còn là mối quan tâm hàng đầu, có vai trò
quyết định đối với việc ổn định kinh tế, xã hội của đất nước. Nghị quyết
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định mục tiêu xây
dựng nông thôn mới là: Xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ,
công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù
hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại. Quán
triệt Nghị quyết Đại hội X, Hội nghị Trung ương lần thứ VII (khóa X) ra
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 đã nêu một cách
toàn diện quan điểm của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới. Nghị quyết
khẳng định: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò to lớn, có vị
trí quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước”
[3, tr 1]. Chính vì vậy các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải
được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hoá đất nước.
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn
để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình
vốn gặp nhiều khó khăn; nhận thức của người dân còn mơ hồ trong việc
thực hiện chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước… Tất cả những vấn đề đó
8
có nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân chủ yếu là do
chính quyền cấp xã ở huyện Quan Hóa chưa phát huy vai trò của mình
trong quá trình xây dựng nông thôn mới.
Xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn mang tầm chiến lược
quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh,
xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Cho đến nay đã có nhiều công trình
nghiên cứu về vai trò của chính quyền cơ sở trong xây dựng nông thôn
mới. Qua nghiên cứu, tìm hiểu của học viên, có một số công trình tiêu biểu
như sau:
* Nhóm công trình nghiên cứu về vai trò của chính quyền xã
(cấp cơ sở) trong phát triển kinh tế - xã hội
- TS. Lưu Minh Trị, “Đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị ở cơ sở
nông thôn ngoại thành Hà Nội (cấp xã) trong giai đoạn hiện nay”, năm 1993.
- Đặng Thị Hiền, “Đổi mới kiện toàn hệ thống chính trị cấp cơ sở
nông thôn (thông qua khảo sát thực tế của tỉnh Tuyên Quang) ”, Luận văn
thạc sĩ khoa học chuyên ngành Triết học, 1993.
- GS.TS. Phạm Ngọc Quang, “Tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị
nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân lao động”, Tạp chí
Triết học, số 3 năm 1996.
- GS. Nguyễn Đức Bình, GS. PTS. Trần Ngọc Hiên, GS. Đoàn
Trọng Truyến, Nguyễn Văn Thảo, PGS. PTS Trần Xuân Sầm (đồng chủ
nhiệm), “Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị ở nước ta trong giai
đoạn mới” Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999.
- PGS. Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên), “Hệ thống chính trị cấp cơ sở
và dân chủ hoá đời sống xã hội nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số
mới, bước đi mới”, Nxb Nông nghiệp, đã cung cấp cho chúng ta những
kiến thức cơ bản về nông nghiệp, nông dân, nông thôn mới ở Việt Nam
trên một số khía cạnh: tầm nhìn, bước đi, mô hình tổ chức, nguồn lực và
một số kỹ năng cần thiết đối với cán bộ quản lý nông thôn mới ở cơ sở. Vì
10
vậy, đây là cơ sở lý luận để luận văn thấy được vai trò của chính quyền
cấp cơ sở trong việc xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay.
- Vũ Văn Phúc (Chủ biên), Hồ Xuân Hùng, Phạm Tất Thắng…,
“Xây dựng nông thôn mới - những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb
CTQG, H. 2012. Tài liệu này tập hợp một số bài viết nghiên cứu về các
vấn đề lý luận chung, kinh nghiệm quốc tế trong quá trình xây dựng nông
thôn mới và thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam thời gian qua.
Tài liệu này sẽ cung cấp cho luận văn những vấn đề lý luận về xây dựng
nông thôn mới ở nước ta hiện nay.
- Đoàn Quang Thiệu: “Phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp là nội
dung cơ bản để xây dựng nông thôn mới”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển
(2009). Số 145. tr. 51-53. Bài viết khẳng định việc phát triển nông - lâm
nghiệp hiện nay ở nước ta là nội dung cơ bản để hoàn thành mục tiêu xây
dựng nông thôn mới.
- Nguyễn Hồng Chuyên (2013), “Thực hiện pháp luật về dân chủ ở
cấp xã phục vụ xây dựng nông thôn mới”, Nxb Tư pháp, H. Cuốn sách
này giới thiệu một số vấn đề lý luận về xây dựng nông thôn mới. Trình
bày chủ trương, đường lối của Đảng, chính quyền, pháp luật của Nhà
nước về thực hiện dân chủ ở cấp xã và xây dựng nông thôn mới. Phân tích
lý luận vấn đề thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã phục vụ xây dựng
nông thôn mới. Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp
xã phục vụ xây dựng nông thôn mới qua thực tế của tỉnh Thái Bình. Đề
xuất các giải pháp đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về
xây dựng nông thôn mới.
Từ kết quả khảo cứu tài liệu nghiên cứu nêu trên cho thấy, việc nghiên cứu
vai trò của chính quyền cơ sở huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong xây
dựng nông thôn mới chưa có công trình nghiên cứu. Vì vậy, tác giả chọn vấn
đề: Vai trò của chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn mới ở huyện
Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành
Chính trị học.
12
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ vai trò và thực trạng của chính quyền cơ sở
trong việc xây dựng nông thôn mới ở huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa,
luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của
chính quyền cấp xã trong việc xây dựng Nông thôn mới ở huyện Quan
Hóa hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Trình bày khái quát một số vấn đề lý luận chung về xây dựng nông
thôn mới và vai trò của chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn mới.
- Phân tích thực trạng vai trò của chính quyền cấp xã trong việc xây
dựng nông thôn mới ở huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của chính
quyền cấp xã ở huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa trong việc xây dựng
nông thôn mới hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của chính quyền cơ sở (Hội đồng nhân dân xã, Ủy ban nhân
dân xã) trong việc xây dựng nông thôn mới.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Thanh Hóa. Đồng thời, làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu giảng dạy,
bồi dưỡng vấn đề có liên quan ở các trường Chính trị tỉnh, các Trung tâm bồi
dưỡng chính trị huyện.
14
B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1. Khái niệm chính quyền cấp xã
Hiến pháp 2013 “Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương; Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; Thành phố trực
thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương
đương; Huyện chia thành xã, thị trấn; Thị xã và Thành phố thuộc tỉnh chia
thành phường và xã; Quận chia thành phường [64, tr.64]. Vậy, chính quyền
địa phương cấp xã (hay gọi tắt là chính quyền cấp cơ sở) theo cách hiểu phổ
biến của khoa học hành chính là chính quyền cấp thấp nhất. Ở nước ta hiện
nay, theo quy định của Hiến pháp sửa đổi mới nhất năm 2013, chính quyền
địa phương cấp thấp nhất được gọi chung là "cấp xã''. Đối với cấp xã bao
gồm: xã, phường và thị trấn.
Từ những phân tích trên đây, có thể nêu khái quát khái niệm chính
quyền cấp cơ sở như sau: Chính quyền cấp cơ sở bao gồm Hội đồng nhân
dân và Ủy ban nhân dân là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp ở
Việt Nam, thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương, có chức năng thay
mặt nhân dân địa phương, căn cứ vào nguyện vọng của nhân dân địa
phương, quyết định và tổ chức thực hiện những vấn đề có liên quan đến phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đời sống của nhân dân
địa phương.
trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở.
Chính quyền cơ sở là cấp thấp nhất, cũng là cấp gần dân nhất trong
bộ máy chính quyền của nhà nước. Đây là đầu mối quan trọng đóng vai
16
trò trực tiếp cụ thể hóa chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp
luật của Nhà nước đến với nhân dân và tiếp thu ý kiến của nhân dân gửi
đến Đảng và Nhà nước. Để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân, vì dân, đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân
dân, vấn đề xây dựng và củng cố chính quyền cơ sở vững mạnh đóng vai
trò quan trọng tất yếu.
1.1.2. Khái niệm nông thôn mới
Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam xác
định nông dân là lực lượng quan trọng cùng với giai cấp công nhân xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, Đảng ta đã kịp thời đề ra đường lối, chính
sách phù hợp với những nhiệm vụ của sự nghiệp cải tạo xã hội chủ nghĩa
và xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm không ngừng củng cố, phát triển
nông nghiệp, nông dân, nông thôn, tăng cường khối liên minh công - nông
- trí ngày càng vững chắc.
Xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội,
căn cứ vào tình hình cụ thể của nước ta và tính tích cực, tính cách mạng là
mặt chủ yếu của nông dân nước ta, Đảng ta đã đề ra đường lối, chính
sách, những hình thức tổ chức, những biện pháp thích hợp để thực hiện
hợp tác hóa nông nghiệp khi chưa có nền công nghiệp phát triển, thực
hiện hợp tác hóa đi đôi với thủy lợi hóa và cải tiến kỹ thuật nhằm phát
triển sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Trên cơ sở tự
nguyện của nông dân, Đảng ta đã chủ trương đưa nông dân làm ăn riêng
lẻ đi dần từ tổ đổi công (có mầm mống xã hội chủ nghĩa) tiến lên hợp tác
xã bậc thấp (nửa chủ nghĩa xã hội) rồi bậc cao. Phong trào hợp tác hóa và
Như vậy, nông thôn mới trước hết phải là nông thôn, chứ không phải là thị tứ,
thị trấn... Nông thôn mới vừa bao hàm chức năng lịch sử vốn có của nông
thôn là vùng nông dân quần tụ trong đơn vị làng xã và chủ yếu làm nông
nghiệp, vừa có những thuộc tính khác với nông thôn truyền thống. Đó là:
Làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phát triển bền vững
18
theo hướng kinh tế hàng hóa; đời sống vật chất và tinh thần của người dân
nông thôn ngày càng được nâng cao; giá trị văn hóa truyền thống được bảo
tồn, phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, phát huy dân chủ trong nhân dân.
Xây dựng nông thôn mới ở nước ta thực chất và trước hết là xây dựng
những người nông dân mới, con người mới ở nông thôn - người nông dân
XHCN. Người nông dân mới được hình thành cũng hướng theo những chuẩn
mực mới của con người mới của Việt Nam nói chung mà Đảng ta đã xác định
là: Có ý thức làm chủ, ý thức trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe và
lao động giỏi; sống có văn hóa và tình nghĩa; giàu lòng yêu nước và tinh thần
quốc tế chân chính: Người nông dân mới, ngoài những chuẩn mực đạo đức
chung của con người Việt Nam còn có những nét riêng của người nông dân
Việt Nam như: Đôn hậu, chất phác, thật thà...
Như vậy, để xây dựng nông thôn mới, trước hết vấn đề căn bản và lâu
dài là mọi người nông dân phải tự xác định mình đã trở thành người chủ và
phải luôn luôn nâng cao tinh thần làm chủ quê hương, đất nước. Đây chính là
bước ngoặt căn bản, sự chuyển biến về chất, nâng lên một trình độ mới, tầm
cao mới. Xây dựng khối đoàn kết chặt chẽ giữa nông dân với nhau, phải thực
hành dân chủ. Cán bộ phải gắn bó máu thịt với nhân dân, sống trong lòng
nhân dân, có như vậy nông thôn mới thực sự mang một chất mới của chế độ
mới - chế độ xã hội chủ nghĩa.
Nông thôn mới còn được tạo lập bởi nhiều gia đình mới, như Chủ
tịch Hồ Chí Minh viết: “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội
được chia thành 5 nhóm cụ thể.
Một là, tiêu chí về quy hoạch (có 01 tiêu chí):
Quy hoạch và sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất
nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ; quy hoạch
phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo chuẩn mới (phải đạt chỉ
tiêu); quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư
hiện có theo hướng văn minh bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp.
20
Hai là, tiêu chí về hạ tầng kinh tế - xã hội (Có 08 tiêu chí) bao gồm:
- Về giao thông: Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa bằng
bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ giao thông vận tải (phải đạt
100 %); Tỷ lệ đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ
thuật của Bộ giao thông vận tải (phải đạt 50%); tỷ lệ km đường ngõ, xóm
sạch và không lầy lội vào mùa mưa (phải đạt 100% (50% cứng hóa); tỷ lệ
km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện
(phải đạt 50%).
- Về thủy lợi: Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng được sản xuất và dân
sinh (đạt); tỷ lệ kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa (phải đạt 50%).
- Về điện: Hệ thống điện đảm bảo an toàn của ngành điện (đạt); tỷ lệ hộ
sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn điện (phải đạt 95%).
- Về trường học: Tỷ lệ trường học các cấp: Mầm non, mẫu giáo, tiểu
học, trung học cơ sở có vật chất đạt chuẩn quốc gia (phải đạt 70%).
- Về cơ sở vật chất văn hóa: Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn
của Bộ văn hóa- thể thao và du lịch (đạt); tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể
thao thôn đạt chuẩn của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch (phải đạt 100%).
- Về chợ nông thôn: Chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng (đạt).
- Về bưu điện: Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông (đạt); có mạng
Internet đến thôn (đạt).
có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định (đạt); Đảng bộ,
chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “Trong sạch, vững mạnh” (đạt); các tổ chức
đoàn thể chính trị của xã đạt danh hiệu tiên tiến trở lên (đạt).
- Về an ninh, trật tự xã hội: An ninh, trật tự xã hội được giữ vững (đạt).
Trên đây là bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới, đồng
thời là căn cứ để các địa phương triển khai chương trình xây dựng nông
thôn mới mà Chính phủ đã ban hành. Đồng thời, 19 tiêu chí trên đã đặt ra
những mục tiêu, nội dung cụ thể, cũng như phương hướng thực hiện để
22
giải quyết những khó khăn, bức xúc, đem lại lợi ích thiết thực cho người
nông dân.
1.2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò, vị trí của
chính quyền cấp xã
Trong hệ thống chính quyền địa phương của nước ta, cấp cơ sở có
một vị trí rất quan trọng, là đơn vị cuối cùng trực tiếp và chủ yếu thể hiện
sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện sự quản lý của Nhà nước đối với nhân dân.
Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước được chuyển
hóa thông qua hoạt động lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh, cấp huyện và cuối
cùng được triển khai thực hiện trực tiếp ở cơ sở. Nếu cấp tỉnh và thành phố
trực thuộc Trung ương được coi là địa bàn vĩ mô trong sự phát triển kinh
tế, xã hội của đất nước ở địa phương thì cấp cơ sở được coi là đơn vị vi mô
nền tảng của vĩ mô đó. Xuất phát từ đặc điểm cấp cơ sở là đơn vị hành
chính lãnh thổ nhỏ nhất trong hệ thống bộ máy nhà nước nên chính quyền
cấp cơ sở có vai trò như sau:
Một là: Chính quyền cấp cơ sở có HĐND là cơ quan quyền lực nhà
nước ở cơ sở và UBND do HĐND bầu ra là cơ quan chấp hành của HĐND,
cơ quan hành chính nhà nước ở cơ sở. Vì thế, chính quyền cấp cơ sở là cấp
trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể về quản lý hành chính nhà nước trên các
thì mọi việc đều xong xuôi” [37, tr.153. Chính vì vậy, chất lượng hoạt động
của chính quyền cơ sở đều ảnh hưởng lớn đến uy tín của Đảng, Nhà nước,
đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.
Các đơn vị hành chính cấp cơ sở, được hình thành trên nền tảng
những địa điểm quần cư, nó liên kết dân cư trong một khối liên hoàn
thống nhất. Mọi vấn đề của cơ sở đều liên quan chặt chẽ với nhau và cần
phải được giải quyết trên cơ sở kết hợp hài hòa các lợi ích: Nhà nước, cư
dân và giữa các cư dân với nhau. Chính quyền ở đây không chỉ là cơ quan
cai trị - quản lý mà còn là cơ quan thể hiện lợi ích chung của dân cư.
24
Bốn là: Chính quyền cấp cơ sở là nơi mà quan hệ họ hàng, truyền
thống, phong tục tập quán… có thể tác động mạnh nhất vào phong cách làm
việc của mỗi cán bộ chính quyền. Trong đó, cán bộ lãnh đạo, chủ chốt cấp cơ
sở là những người trực tiếp tiếp xúc với quần chúng nhân dân và bà con nông
dân. Đa số họ là những người sinh ra, lớn lên và trưởng thành từ cơ sở, từ
chính quê hương mình. Do vậy, họ là những người hiểu quần chúng nhân dân,
hiểu tâm tư, nguyện vọng, thuận lợi, khó khăn của quần chúng nhân dân; hiểu
phong tục, tập quán, đặc điểm văn hóa trên địa bàn mà họ phụ trách, họ gắn
bó với cơ sở. Cán bộ chủ chốt cấp cơ sở không chỉ gần gũi, tiếp xúc với dân
trong giờ hành chính, trong thời gian làm việc ở văn phòng mà còn trong các
buổi sinh hoạt ở địa bàn, ngoài giờ hành chính. Họ làm nhiệm vụ của mình
thông qua các biện pháp hành chính đồng thời còn phải trực tiếp làm công tác
vận động quần chúng, tạo nên tinh thần đoàn kết nhất trí trong nhân dân, bảo
vệ những giá trị văn hóa truyền thống, những phong tục tập quán lâu đời của
địa phương mình.
Hoạt động của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở bị chi phối bởi cả
quan hệ gia đình, dòng tộc, phong tục, tập quán của địa phương đến việc
chung của xã hội. Họ đóng nhiều vai trò khác nhau trong giao tiếp, ứng xử để