BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ ÁNH TUYẾT
TỔ CHỨC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN CAN LỘC,
TỈNH HÀ TĨNH LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2015
HÀ NỘI, NĂM 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được dựng
bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đó được
cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
.
Hà Nội, ngày 06 tháng 06 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page iii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ
của nhiều tập thể và cá nhân. Tôi xin được bày tỏ sự cám ơn sâu sắc nhất tới tất
cả các tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và
nghiên cứu.
Trước hết, với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời
cám ơn tới thầy giáo GS.TS Đỗ Kim Chung người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy giáo, cô giáo Bộ môn Kinh tế nông
Danh mục hộp x
Phần I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
Phần II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1 Cơ sở lí luận 4
2.1.1 Khái niệm về dồn điền đổi thửa và bản chất của vấn đề 4
2.1.2 Vai trò và tính tất yếu của dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp trong xây
dựng nông thôn mới 6
2.1.3 Đặc điểm của tổ chức dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp trong xây dựng
nông thôn mới 7
2.1.4 Nội dung nghiên cứu về tổ chức dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp trong
xây dựng nông thôn mới 8
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp
trong xây dựng nông thôn mới 12
2.2 Cơ sở của thực tiễn về tổ chức công tác dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp 14
2.2.1 Kinh nghiệm một số nước 14
2.2.2 Kinh nghiệm một số nơi khác ở Việt Nam 17
2.2.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho địa phương 20
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page v
Phần III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 22
3.1.1 Vị trí địa lý 22
3.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng 22
nghiệp tại huyện Can Lộc 86
4.3.1 Giải pháp về các hoạt động tổ chức dồn điền đổi thửa trong xây dựng
nông thôn mới 86
4.3.2 Giải pháp về năng lực, trình độ cán bộ và sự đồng thuận của người dân 89
4.3.3 Giải pháp về kinh phí thực hiện dồn điền đổi thửa 90
4.3.4 Giải pháp về phương thức sử dụng đất 91
4.3.5 Giải pháp về chính sách 91
Phần V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
5.1. Kết luận 93
5.2. Kiến nghị 94
5.2.1 Với Nhà nước 94
5.2.2 Với Chính quyền các cấp 94
5.2.3 Với doanh nghiệp, Công ty, hộ gia đình…. 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 99
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮTBCĐ
:
Ban chỉ đạo
BCHTW
:
Ban chấp hành trung ương
BQ
:
Bình quân
Nông thôn mới
PTNT
:
Phát triển nông thôn
TCT
:
Tổ công tác
TL-NĐ
:
Thủy lợi – Nội đồng
TM-DV
:
Thương mại – Dịch vụ
TN&MT
:
Tài nguyên & Môi trường
UBND
:
Ủy ban nhân dân
XD
:
Xây dựng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page viii
DANH MỤC BẢNGSố bảng Tên bảng Trang
4.18 Cơ cấu lao động trong các hộ điều tra trước và sau DĐĐT 72
4.19 Số trang trại và vùng sản xuất hàng hóa tập trung của các xã điều
tra trước và sau DĐĐT 73
4.20 Tiến độ cấp GCNQSDĐ sau DĐĐT ở các xã điều tra 74
4.21 Phần trăm diện tích đất sản xuất NN được cơ giới hóa ở các khâu
trước và sau khi DĐĐT trong xây dựng NTM 75
4.22 Mức đầu tư chi phí cho 1 sào ruộng trước và sau DĐĐT trong xây
dựng NTM 76
4.23 Mức đầu tư chi phí cho nhóm hộ trang trại trước và sau DĐĐT 77
4.24 Diện tích sản xuất của các nhóm hộ điều tra 78
4.25 Sự thay đôỉ thu nhập bình quân của nhóm hộ trước và sau DĐĐT
trong xây dựng NTM 79
4.26 Ý kiến đánh giá của hộ nông dân về điều kiện sản xuất nông
nghiệp sau tổ chức DĐĐT trong xây dựng NTM 80
4.27 Số chủ hộ theo ý kiến đánh giá của họ về đường giao thông, thủy
lợi trước và sau DĐĐT 81
4.28 Mức độ đạt được các tiêu chí về quy hoạch, thủy lợi, giao thông và
thu nhập của các xã trong xây dựng NTM 82
4.29 Số chủ hộ theo trình độ văn hóa và loại hộ 84
4.30 Tổng hợp cơ cấu BCĐ, TCT của các xã 85
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page x
DANH MỤC BIỂU
Số biểu Tên biểu Trang4.1 Tỷ lệ đóng góp tài chính phục vụ cho công tác chuyển đổi đất NN 55
hai trên thế giới Bên cạnh đó còn tồn tại những mặt tiêu cực như chính sách giao
đất ổn định lâu dài làm cho ruộng đất trở nên manh mún, phân tán, gây trở ngại
cho quá trình áp dụng cơ giới hoá vào sản xuất cũng như tăng đầu tư thâm canh
và chuyển đổi hướng sản xuất hiệu quả hơn (Nguyễn Thu Nga, 2013).
Ý thức được đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt có ý nghĩa quyết định
trong sản xuất nông nghiệp, cũng như nhiều địa phương khác, huyện Can Lộc đã
tiến hành “dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp”. Quá trình này của huyện đã trải
qua hai giai đoạn, giai đoạn một là từ năm 2002 đến 2005; giai đoạn hai là từ
2007 đến 2010. Trong hai giai đoạn này, huyện đã chuyển đổi thành công ở một
số xã, tuy nhiên đến nay, trong thời gian huyện xây dựng NTM thì trong công tác
dồn điền đổi thửa vẫn còn nhiều bất cập xảy ra cần có hướng giải quyết. Dồn
điền đổi thửa không phải là một tiêu chí cụ thể trong chương trình xây dựng
NTM, nhưng có tác động đến các tiêu chí như tiêu chí nâng cao thu nhập, giảm
nghèo, chuyển dịch cơ cấu lao động, phát triển các hình thức tổ chức sản xuất
bởi ý nghĩa của việc dồn điền đổi thửa không những giúp nông dân giảm chi phí
sản xuất mà còn là điều kiện cần để chuyển đổi cơ cấu cây trồng và tổ chức sản
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 2
xuất hàng hóa, là cơ sở để phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã trong nông nghiệp,
góp phần quan trọng trong việc thực hiện thành công chương trình xây dựng
nông thôn mới. Dồn điền đổi thửa là bước đầu để thực hiện thành công các tiêu
chí trong xây dựng nông thôn mới (Khuyết Danh, 2014).
Để thực hiện dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp một cách có hiệu quả
trong xây dựng NTM thì công tác tổ chức đóng vai trò cực kì quan trọng. Tổ
chức ở đây bắt đầu từ các chủ trương chính sách của tỉnh và UBND tỉnh, tiếp đến
là khâu lựa chọn cán bộ gồm tổ công tác và ban chỉ đạo và cuối cùng là phải có
sự đồng thuận và tự nguyện tham gia của nông dân (Nghiêm Đình Nghĩa, 2012).
Huyện Can Lộc là một địa bàn có sản xuất nông nghiệp đóng vài trò chủ
yếu. Trong những năm qua, có thể nói công tác DĐĐT đất nông nghiệp ở huyện
Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh đã đạt được những kết quả đáng kể và được coi là nơi học
huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Thể hiện ở các công việc như: Quá trình thống kê, khảo
sát diện tích, xây dựng, lựa chọn các phương án, các bước tuyên truyền, vận động
người dân tham gia thực hiện công tác DĐĐT ở đó và quá trình lập sơ đồ địa chính,
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung
Đề tài nghiên cứu tổ chức DĐĐT đất nông nghiệp trong xây dựng NTM ở
huyện Can Lộc, trên cơ sở đó khắc phục những khó khăn đang gặp phải trong quá
trình tổ chức DĐĐT nhằm nâng cao năng suất lao động.
- Phạm vi về không gian
Đề tài tiến hành nghiên cứu tổ chức công tác DĐĐT đất nông nghiệp ở
huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, khi phân tích kết quả phải đi sâu vào các cán bộ và
hộ nông dân ở đó.
- Phạm vi về thời gian
Tiến hành nghiên cứu về tổ chức công tác DĐĐT đất nông nghiệp ở huyện
Can Lộc từ năm 2011 đến năm 2013. Thực hiện đề tài từ 01/07/2014 đến 25/5/2015. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 4
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lí luận
2.1.1 Khái niệm về dồn điền đổi thửa và bản chất của vấn đề
2.1.1.1 Dồn điền đổi thửa
Dồn điền đổi thửa là dồn ghép các ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn, sắp xếp qui
hoạch lại ruộng đất, khắc phục tình trạng manh mún, phân tán ruộng đất, tổ chức thiết
kế lại đồng ruộng; nâng cao hệ số sử dụng đất; đẩy nhanh chuyển dịch sản xuất theo
hướng sản xuất hàng hóa; phát triển kinh tế hộ và trang trại, củng cố quan hệ sản xuất,
định chính sách (Nguyễn Quốc Ngữ, 2004).
Thứ hai là công tác quy hoạch sử dụng đất, Theo Khoản 2, điều 3, Luật đất
đai (2013): “Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo
không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an
ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất
đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế -
xã hội và đơn vị hành chính trong khoảng thời gian xác định. Quy hoạch sử dụng
đất thường được xây dựng cho thời gian 10 – 20 năm hoặc 30 năm (định kỳ quy
hoạch), tùy thuộc tính chất của quy hoạch sử dụng đất là quy hoạch sử dụng đất
chi tiết hay tổng thể, quy hoạch vùng hay quy hoạch cho một đơn vị hành chính.
Công tác lập quy hoạch phải đảm bảo tính thống nhất, tính đồng bộ, tính khoa
học, tính dự báo, khả thi và phù hợp với chiến lược”. Bằng cách khác, Viện điều
tra Quy hoạch Đất đai (2005): “Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện
pháp quản lý, kỹ thuật và pháp chế của nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ,
hợp lý, có hiệu quả cao thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cả
nước, tổ chức sử dụng đất nhưu một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất
khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo
vệ đất và bảo vệ môi trường”. Trong công tác thực thi cần tuân thủ các nội dung
đã quy hoạch, hạn chế tối đa việc điều chỉnh, bổ sung.
Thứ ba là công tác kiểm kê đất đai, theo điều 3, Luật đất đai (2013):
“Kiểm kê đất đai là việc nhà nước tổ chức điều tra, tổng hợp, đánh giá trên hồ
sơ địa chính và trên thực địa về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm kiểm kê và
tình hình biến động đất đai giữa hai lần kiểm kê”.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 6
Cuối cùng là đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý xác nhận quan hệ hợp
pháp giữa Nhà nước với người sử dụng đất. Được cấp GCN là quyền đầu tiên của
người sử dụng đất, là cơ sở để thực hiện các quyền khác của người sử dụng đất,
là căn cứ để giải quyết các tranh chấp về QSDĐ. Giấy chứng nhận QSDĐ cũng là
quan trọng để thực hiện NTM có hiệu quả, hơn nữa nó cũng là bước đệm làm cơ
sở cho việc hình thành và phát triển một ngành nông nghiệp hàng hóa. Khi đó,
DĐĐT sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức cải tạo đồng ruộng gắn với quy
hoạch nông thôn mới, áp dụng các tiến bộ KHKT, đưa cơ giới hóa vào sản xuất,
xây dựng cánh đồng mẫu lớn, phát triển trang trại chăn nuôi tập trung, giảm chi
phí sản xuất tạo ra vùng sản xuất tập trung sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp
góp phần đẩy mạnh quá trình CNH –HĐH nông nghiệp, nông thôn. Tổ chức công
tác dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp là một quá trình vô cùng quan trọng ảnh
hưởng đến cuộc sống của người nông dân (Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 2013).
2.1.3 Đặc điểm của tổ chức dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp trong xây dựng
nông thôn mới
Trước DĐĐT, tư tưởng cần phải chia ruộng tốt – xấu, xa - gần, cao –
thấp để đảm bảo công bằng của thời kỳ đầu nhận đất nông nghiệp khoán đến hộ
nông dân nay không còn phù hợp. Sự manh mún, nhỏ hẹp đó đã trở thành lạc
hậu, sản xuất trở nên hạn chế, nhất là các thửa ruộng quá nhỏ dẫn đến năng suất
hiệu quả không cao. Mặt khác trong sự vận động của nền kinh tế thị trường, có
hướng tới sản xuất hàng hóa thì có điều kiện nâng cao thu nhập, cải thiện mức
sống, có điều kiện để thu hẹp khoảng cách giữa khu vực thành thị và khu vực
nông thôn. Như vậy trước DĐĐT, do ruộng đất còn manh mún nên người dân sản
xuất bị kìm hãm việc áp dụng cơ giới hóa và tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất nông nghiệp, kìm hãm tiến tiến trình sản xuất hàng hóa, do vậy sản xuất
nông nghiệp không theo quy luật thị trường (Võ Tá Đinh, 2010).
Sau DĐĐT, ruộng đất manh mún đã được cải thiện, có thể thấy rằng, để
hình thành nền nông nghiệp hàng hóa, sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng nhu
cầu thị trường. Việc dồn điền đổi thửa là hướng đi tất yếu, không còn sự lựa chọn
nào khác. Tuy nhiên, công tác dồn điền đổi thửa không dễ thực hiện bởi có liên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 8
quan đến quyền lợi trực tiếp của người nông dân. Công tác tuyên truyền có vai
trò quan trọng, cần phải kiên trì, giải thích rõ ràng về lợi ích của công tác dồn
lợi ích của bà con nông dân, muốn sản xuất hàng hóa có hiệu quả thì phải tổ chức
các vùng sản xuất tập trung: trang trại, các mô hình kinh tế…tổ chức được cánh
đồng mẫu lớn. DĐĐT đóng vai trò rất lớn vào chương trình xây dựng NTM, tác
động đến 19 tiêu chí xây dựng NTM. Ví dụ với tiêu chí quy hoạch, nếu DĐĐT
thành công từ nhiều ô thửa của mỗi hộ, ở nhiều vị trí phân tán sẽ giúp cho địa
phương tiến hành công tác quy hoạch xã NTM rất thuận tiện như quy hoạch đồng
ruộng, điểm dân cư, quy hoạch TL, GTNĐ. Do có ô thửa lớn, giao thông, thủy lợi
nội đồng đảm bảo sẽ giúp cho công tác cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, hỗ trợ
nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, từ đó nâng cao thu nhập của người
dân (Thông tư 41/2013/TT, Bộ NN&PTNT).
Trên cơ sở công khai quy hoạch, kết quả điêù tra quỹ đất nông nghiệp
ngoài đồng, nhu cầu sử dụng đất để xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện quy hoạch
xây dựng NTM. Cần tổ chức điều tra quỹ đất, số nhân khẩu được giao ruộng và
hiện trạng đất nông nghiệp ngoài đồng của từng hộ, diện tích đất chuyển nhượng,
chuyển đổi, đất bị thu hồi theo quy định của pháp luật. Cần thống kê các vị trí
quy hoạch mở rộng đường GT nông thôn, TLNĐ, xây dựng các công trình phúc
lợi công cộng của địa phương, các vị trí quy hoạch sản xuất nông nghiệp (đất
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xây dựng trang trại chăn nuôi gia súc gia
cầm…(Nguyễn Thị Tuyết Hạnh, 2004).
2.1.4.2 Kế hoạch dồn điền đổi thửa
- Về mục đích : Khắc phục tình trạng ruộng đất manh mún, phân tán hiện
nay để có điều kiện thực hiện quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp tập trung tạo
cho việc áp dụng khoa học kỹ thuật, cơ giới hóa nhằm giảm chi phí sản xuất,
nâng cao thu nhập cho người nông dân, góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu
cây trồng, vật nuôi, chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp. Hơn nữa,
góp phần đẩy nhanh tiến độ xây dựng NTM.
- Về công tác quy hoạch :
Đẩy mạnh chỉ đạo, thực hiện công khai quy hoạch phát triển sản xuất
nông nghiệp, quy hoạch NTM từ đó xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch sử
dụng đất thời kỳ 2011- 2020.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 11
- Xây dựng phương án
Cấp trên cần thống nhất với nhau và đưa ra các phương án để người dân
lựa chọn, khi dân lựa chọn cần hỏi rõ ràng tại sao lại chọn phương án này mà
không chọn phương án kia, phương án này có thuận lợi và khó khăn gì ? Cần lấy
ý kiến biểu quyết của hộ nông dân trong các buổi họp dân để lựa chọn phương án
thích hợp.
- Đo đạc, bàn bạc
Đo đạc, bàn bạc là khâu quan trọng để lập hồ sơ địa chính, yêu cầu đo đạc
phải chính xác, minh bạch. Khi đo đạc cần phải thống kê được diện tích là bao
nhiêu, diện tích từng vùng là bao nhiêu, từng loại đất là bao nhiêu, chất lượng đất
như thế nào…
- Hoàn chỉnh hồ sơ địa chính và cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Sau khi hoàn thành bàn giao đất ngoài thực địa, ban chỉ đạo xã có trách
nhiệm giúp UBND xã hoàn chỉnh, giao nạp về UBND huyện các loại tài liệu đã
lập trong quá trình chuyển đổi ruộng đất.
2.1.4.6 Đánh giá các bên liên quan trong tổ chức dồn điền đổi thửa
Các bên liên quan cần đánh giá đó là cán bộ cấp Huyện, cán bộ xã và hộ
nông dân. Mỗi bên cần điều tra xem có những thuận lợi gì và còn tồn tại những
khó khăn gì, nhất là từ phía nông dân, vì tổ chức DĐĐT ảnh hưởng trực tiếp đến
lợi ích của hộ nông dân.
2.1.4.7 Các hoạt động chuyển đổi đất của nhóm hộ không làm nông nghiệp
Các hoạt động chuyển đổi đất của nhóm hộ không làm NN bao gồm: hoạt
động thuê và cho thuê, mượn và cho mượn, mua- bán và đổi quyền sử dụng đất.
+ Thuê đất là hành vi của người không có quyền sử dụng về một diện tích
nào đó, đi thuê quyền sử dụng đất trong một thời gian nhất định. Người đi thuê
phải trả cho người cho thuê một khoản tiền theo thoả thuận.
+ Cho thuê là hành vi của người có quyền sử dụng một diện tích đất nào đó
cho người khác thuê quyền sử dụng diện tích đó và thu tiền theo thời gian xác định.
nhân lực trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội.
- Nhận thức, trình độ của người dân: Công tác DĐĐT là việc làm đòi hỏi
sự nhận thức vì cái chung của người dân. Muốn DĐĐT diễn ra thuận lợi, nhanh
chóng thì DĐĐT phải được dựa và thực hiện trên tinh thần tự nguyện của nông dân.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Page 13
- Số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ:
Số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ đóng vai trò quan trọng và ảnh
hưởng rất lớn, quyết định đến sự thành công hay thất bại của công tác DĐĐT ở
các địa phương. Vai trò tổ chức của chính quyền, các cấp chính quyền cần phải
có một tổ chức chặt chẽ từ huyện tới xã. Các thành viên trong BCĐ phải thường
xuyên, kiểm tra đôn đốc, rút kinh nghiệm, tăng cường cán bộ chuyên môn đặc
biệt là cán bộ địa chính để giúp đỡ, hỗ trợ kinh phí, động viên kịp thời và giải
quyết các thắc mắc của dân (Lê Thụy Anh, 2015).
2.1.5.2 Tài chính
Việc DĐĐT phải đảm bảo bình quân chỉ từ 2 - 3 thửa/hộ. Gắn với quy
hoạch vùng sản xuất hàng hoá mỗi vùng từ 45ha trở lên. Riêng về bờ vùng phải
rộng từ 6 - 8 m, bờ thửa là 2,5 - 3 m. Gắn với việc quy hoạch đường giao thông
nội đồng đảm bảo cho xe cơ giới có tải trọng 1,5 tấn vào đựơc để vận chuyển nông
sản. Tổng kinh phí có thể lên tới 2,5 đến 3 tỷ đồng cho mỗi xã.Thực tế hiện nay chỉ
tính riêng việc DĐĐT thôi cũng tốn kém gần 200 triệu đồng. Đối với nông dân thì
đây quả là một số tiền lớn mà không phải ai cũng dễ dàng có được. Như vậy tài
chính cũng là một vấn đề nan giải cần hướng giải quyết (ĐA 32/2014, UBND).
2.1.5.3 Yếu tố phương thức sử dụng đất
Phương thức sử dụng đất là một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến động
lực và mức độ thành công của DĐĐT. Tùy theo đặc điểm sử dụng đất của mỗi hộ
nông dân mà có quan điểm về tầm quan trọng của DĐĐT khác nhau. Có những
hộ thấy phải cần thiết phải DĐĐT vì sẽ có những mảnh đất tập trung thuận lợi
cho việc phát triển các mô hình có giá trị kinh tế cao như: nuôi cá, nuôi hươu
Ngược lại có những hộ lại thấy không cần thiết vì nông nghiệp với gia đình họ
triệu người trong những năm vừa qua, phải nhờ người thân canh tác những
khoảnh ruộng đó hoặc bỏ ruộng hoang mà không thể bán đi được. Trong khi đó,
ở thành phố, cư dân đô thị từ lâu đã được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất
không hạn chế và rất nhiều người giàu lên rất nhanh cùng với sự sôi động của thị
trường đất đô thị. Quá trình cải cách nông nghiệp chia 2 giai đoạn, giai đoạn một