đánh giá công tác dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp của xã cẩm lạc, huyện cẩm xuyên, tỉnh hà tĩnh - Pdf 13

PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Từ lúc loài người biết trồng trọt và chăn nuôi đến nay thì vai trò của đất
đai chiếm một vị trí rất quan trọng. Nó đã trở thành một tư liệu sản xuất không gì
có thể thay thế được. Trong quá trình phát triển của xã hội từ cổ đại đến văn
minh, khoa học kỹ thuật từ thấp kém đến hiện đại đều được xây dựng trên điểm
cơ bản là sử dụng đất đai. Nhìn chung hoạt động sử dụng đất của con người đã
trở thành nội dung chủ yếu nhất trong hoạt động kinh tế - xã hội của nhân loại.
Đất nước ta trong thời kì xây dựng và phát triển về cơ sở hạ tầng kỹ thuật
cũng như kinh tế. Đang thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước thì vai
trò của đất đai càng trở nên quan trọng. Vì thế việc sử dụng đất sao cho hiệu quả
là vấn đề rất cấp thiết.
Sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, nhân dân ta bước vào thời kì
xây dựng đất nước dựa trên nền nông nghiệp là chủ yếu. Tuy vậy trong thời kì đó
chưa có các biện pháp quản lý và các văn bản pháp lý chặt chẽ, đồng bộ về đất
đai nên hiệu quả của việc sử dụng thấp, năng suất ngành nông nghiệp còn kém.
Với sự ra đời của Nghị định 64/CP ngày 27-3-1993 của chính phủ về việc giao
ruộng đất nông nhgiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục
đích sản xuất nông nghiệp và Luật đất đai năm 2003 đã mang lại những kết quả
và thành tựu to lớn trong phát triển sản xuất nông nghiệp. Kết quả đạt được đã
góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước, ổn định chính trị
xã hội, đổi mới bộ mặt nông thôn.
Cùng với các địa phương trong cả nước và các xã khác trong toàn huyện
Cẩm Xuyên, xã Cẩm Lạc đã thực hiện khá thành công công tác “dồn điền, đổi
thửa” và thu được nhiều thành tựu đáng kể, góp phần thúc đẩy cho sự phát triển
kinh tế của địa phương nói riêng và toàn tỉnh nói chung. Đồng thời cũng tạo ra
sự hăng hái cho người dân trong toàn xã tích cực tăng gia sản xuất.
Mặc dù khi phân chia ruộng đất theo Nghị định 64/CP của chính phủ đã
mang lại hiệu quả nhất định nhưng theo thời gian khi đất nước tiến hành công
nghiệp hóa, hiện đại hoá thì vấp phải những hạn chế: ruộng đất bị phân tán nhỏ
lẽ, manh mún nên việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật gặp phải những

- Tìm hiểu thực trạng sử dụng đất đai và công tác dồn điền đổi thửa ở địa
phương.
- Đánh giá tác động của công tác dồn điền đổi thửa đến phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương.
- Tìm ra những nguyên nhân tồn tại của công tác dồn điền đổi thửa, từ đó đề
xuất một số biện pháp khắc phục.
1.3 Yêu cầu
- Nắm được toàn bộ quỹ đất của xã.
- Thu thập số liệu, dữ liệu đầy đủ, chính xác.
- Nắm được nội dung của phương án dồn điền đổi thửa.
- Các giải pháp đề xuất phải xuất phát từ thực tế và phù hợp với các điều kiện
của xã.
- Đánh giá được thực trạng quản lý và sử dụng đất nông nghiệp của xã.
PHẦN II. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Chính sách pháp luật đất đai Việt Nam 1945 đến năm 2010
Đất đai, chính sách đất đai là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử Cách mạng Việt
Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng từ 1930 đến nay, Cách mạng tháng Tám 1945
đã khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ công hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân
đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á, đồng thời cũng đặt nền móng cho ngành Quản
lý đất đai Việt Nam dưới chế độ mới.
2.1.1.1 Giai đoạn trước những năm đổi mới từ nền kinh tế tập trung
bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần
a. Thực hiện chính sách giảm tô, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp,
Việt gian phản động chia cho nông dân nghèo, chia lại công điền công thổ
Với chính sách này nước ta đã ban hành sắc lệnh bãi bỏ thuế thân, thuế
môn bài, giảm tô, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian phản động
chia cho nông dân nghèo, chia lại công điền công thổ, giảm thuế 20%. Và ở
Miền Bắc lúc này số ruộng đất công chiếm 77% dện tích đất công điền, công thổ.
b. Tiến hành cải cách ruộng đất

nhằm khuyến khích nông dân trồng rừng trên đất trống, đồi núi trọc; nông dân
được quyền thừa kế tài sản trên đất trồng rừng và cây công nghiệp dài ngày.
- Cho phép các hộ gia đình nông dân tận dụng mọi nguồn đất đai mà HTX,
nông lâm trường chưa sử dụng hết để đưa vào sản xuất.
- Nhà nước không đánh thuế sản xuất, kinh doanh đối với kinh tế gia đình,
chỉ đánh thuế sát sinh và đất thuộc; đất phục hóa được miễn thuế nông nghiệp.
- Cũng cố quan hệ sản xuất ở nông thôn miền núi, cho phép áp dụng linh
hoạt các hình thức kinh tế hợp tác từ thấp đến cao; ở vùng núi cao, không nhất
thiết tổ chức HTX mà phát triển kinh tế hộ gia đình và thiết lập quan hệ nhà
nước - nông dân theo đơn vị bản, buôn; trong HTX áp dụng hình thức khoán gọn
cho hộ xã viên.
Vào những năm cuối của giai đoạn này, ruộng đất đã được tập thể hóa triệt
để, chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất đã được thiết lập. Theo đó, HTX là đơn vị
quản lý, đội sản xuất là đơn vị nhận khoán với phương thức 3 khoán: khoán sản
lượng, khoán lao động, khoán chi phí, phân phối bình quân.
Mô hình HTX đã thích ứng với điều kiện thời chiến, tuy nhiên phương
thức điều hành theo lối hành chính đã phát sinh yếu tố độc đoán, chuyên quyền,
mệnh lệnh, vi phạm nguyên tắc dân chủ đã kìm hãm sản xuất, nông dân vẫn
không quan tâm đến hiệu quả sử dụng đất; sản xuất trì trệ, đời sống tiếp tục gặp
nhiều khó khăn.
2.1.1.2 Giai đoạn từ 1986 đến nay
Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa, tập trung
quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chính sách này đã tạo ra tổng giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp - thủy sản,
tỷ trọng kinh tế hộ tự chủ và kinh tế trang trại tăng lên rõ rệt, tương ứng là sự sút
giảm tỷ trọng của kinh tế tập thể và quốc doanh. Đây là yếu tố có tầm quan trọng
hàng đầu để vừa tạo nên sự chuyển biến thần kỳ của sản xuất nông, lâm nghiệp -
thủy sản, vừa bảo đảm an ninh lương thực. Nhờ đó, chỉ sau hơn 10 năm, vẫn
những con người ấy, cũng những điều kiện tự nhiên ấy, từ một đất nước thiếu ăn

Đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đất đai xuất hiện với
nhiều khái niệm khác nhau, đứng trên nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau.
Luật đất đai năm 1993 và sửa đổi bổ sung năm 2003 của nước Cộng Hoà
Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam có ghi: “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là
tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa
bàn phân bố dân cư, xây dựng kinh tế văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Trải
qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu tạo lập, bảo vệ
được vốn đất đai như hiện nay”.
b. Vai trò của đất đai
Đất nông nghiệp thường được coi là ruộng đất, là đất đai được sử dụng
vào trong các ngành trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản và phục vụ cho
mục đích thí nghiệm phục vụ sản xuất nông nghiệp. Trên thực tế người ta thường
đưa đất có khả năng nông nghiệp tức diện tích chưa được sử dụng vào mục đích
sản xuất nông nghiệp mà không cần đầu tư cải tạo lớn, đất sử dụng vào nông
nghiệp của mỗi nước mỗi khu vực phụ thuộc vào các thuộc tính tương đối ổn
định của sinh quyển bên trên, bên trong và bên dưới nó.
Trong sản xuất nông nghiệp, ruộng đất có vai trò hết sức quan trọng. Bởi
vì nó là nguồn lực, là cơ sở tự nhiên để tạo ra các sản phẩm nông nghiệp. Đất đai
tham gia hầu hết vào các quá trình sản xuất của xã hội, nhưng tuỳ thuộc vào từng
ngành cụ thể mà vai trò của đất đai có sự khác nhau. Trong công nghiệp, thương
mại, giao thông đất đai là cơ sở, nền móng để trên đó xây dựng nhà cửa, cửa
hàng, mạng lưới giao thông, thì ngược lại trong nông nghiệp ruộng đất tham gia
với tư cách là yếu tố tích cực của sản xuất, là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể
thay thế được.
Ruộng đất là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động, nó xuất hiện và
tồn tại ngoài ý muốn của con người vì thế ruộng đất là tài sản của quốc gia.
Trong nông nghiệp, ruộng đất vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động.
Ruộng đất là đối tượng lao động khi con người sử dụng công cụ lao động tác
động vào đất làm cho đất thay đổi hình dạng. Ruộng đất là tư liệu lao động, khi
con người sử dụng công cụ lao động tác động lên đất thông qua thuộc tính lý

ta hiện nay có 9.345.346 ha và quỹ đất này có xu hướng giảm do nhu cầu xây
dựng, giao thông, thuỷ lợi, chuyển mục đích sử dụng sang đất ở. Sau gần 20 năm
tiến hành công cuộc đổi mới từ Nghị quyết đại hội VI (1986), đặc biệt từ năm
1990 trở lại đây, nông nghiệp và kinh tế nông thôn Viêt Nam đã có bước tiến
mạnh mẽ và đạt nhiều thành tựu to lớn. Nông nghiệp đang chuyển mạnh từ sản
xuất nhỏ, tự cung tự cấp theo phương thức truyền thống sang sản xuất kinh
doanh theo cơ chế thị trường. Đây là một chuyển biến có ý nghĩa hết sức quan
trọng và sâu sắc làm thay đổi tính chất và các mối quan hệ cơ bản trong nông
nghiệp nông thôn, đồng thời tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển. Bên
cạnh đó Nghị quyết TW5, TW7( khoá IX) của Ban chấp hành trung ương về
công tác “dồn điền, đổi thửa” đất nông nghiệp càng tạo điều kiện cho ngành
nông nghiệp nước ta bước vào thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thời
gian qua, chủ trương dồn điền, đổi thửa được thực hiện đã giúp các địa phương
trong cả nước giảm ½ số thửa, có nơi tới 80%. Diện tích mỗi thửa nhờ đó mà
tăng bình quân gấp 3 lần, tạo điều kiện cho nông dân cải tạo đồng ruộng, thâm
canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng nâng cao thu nhập và còn tăng diện tích nhờ
làm giảm phần đất làm bờ, tại Hưng Yên sau khi dồn điền đổi thửa diện tích đất
nông nghiệp đã tăng từ 89.000 ha lên 92.309 ha. Không chỉ có vậy mà còn nhiều
địa phương trên cả nước đã hoàn thành rất tốt chủ trương DĐĐT, là những điểm
sáng để những nơi khác làm theo. Ví dụ: Bắc Ninh là một trong những địa
phương đi đầu trong công tác DĐĐT. Hiện đã hoàn thành chuyển đổi ở 87 xã
(73,1%), 382 thôn (58,3%), có 95.922 hộ chuyển đổi ruộng đất (50%) được
16.414ha (37%). Nhờ đó, tỉnh đã khắc phục được tình trạng ruộng đất manh
mún, bước đầu hình thành vùng chuyên canh các loại cây trồng có giá trị kinh tế.
Hiện Bắc Ninh đã chuyển được 2.500ha ruộng trũng cấy lúa năng suất thấp sang
nuôi thuỷ sản, đưa diện tích mặt nước nuôi thả lên 5.220ha.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì một số nơi thực hiện công tác
DĐĐT còn kém như: Sáu tháng đầu năm 2008, tỉnh Phú Thọ có 241/274 xã
-phường - thị trấn triển khai DĐĐT nhưng chỉ có 6% số xã hoàn thành kế hoạch
(dồn được 97.967 ô thửa nhỏ thành 52.876 ô thửa), do công tác chỉ đạo của một

tích thửa nhỏ nhất là 500m
2
, gắn chuyển đổi đất nông nghiệp với điều chỉnh quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quy hoạch giao thông, thuỷ lợi nội đồng và chuyển
dịch cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp.
2.2.3 Tình hình thực hiện công tác dồn điền đổi thửa ở huyện Cẩm
Xuyên
Trong những năm qua, thực hiện nghị quyết 01/NQ-TU ngày 12/6/2001
của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về cuộc vận động chuyển đổi sử dụng ruộng
đất nông nghiệp. Trên địa bàn huyện đã có 26/26 xã, thị trấn tổ chức triển khai
thực hiện, bước đầu đã đem lại hiệu quả thiết thực, nhiều địa phương trước
chuyển đổi bình quân 12 - 13 thửa, nhưng sau chuyển đổi chỉ còn lại 5 - 7 thửa.
Đây là kết quả nhằm góp phần cho chuyển đổi kinh tế, cải thiện điều kiện sống
của nhân dân, tăng cường cho công tác quản lý nhà nước về đất đai, áp dụng các
tiến bộ khoa học mới vào sản xuất nông nghiệp, tạo tiền đề cần thiết cho quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn và được nhân dân
đồng tình ủng hộ.
Tuy nhiên, sự chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương chưa có
tính cương quyết và sâu sát, còn mang tính hình thức, kinh phí đầu tư còn hạn
chế nên kết quả chưa đạt được yêu cầu; đất sản xuất của các hộ vẫn còn manh
mún, số hộ sử dụng 5 - 7 thửa vẫn còn phổ biến; chưa gắn công tác chuyển đổi
diện tích đất với chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất và xây dựng hồ sơ địa chính theo quy định. Vì vậy tiến độ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất sau chuyển đổi còn thấp (mới đạt 0,91%).
Để khắc những tồn tại, hạn chế, đồng thời đẩy nhanh tiến độ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và xây dựng hồ sơ địa chính đến năm 2010 phải
hoàn thành theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 05/2006/CT-
TTg ngày 22/02/2006 và Chỉ thị số 02/CT-BTNMT ngày 19/11/2007 của Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên môi trường, Chỉ thị số 11/CT-UBND ngày 20/3/2008 của
UBND Tỉnh về việc tiếp tục chuyển đổi ruộng đất lần 2. UBND Huyện yêu cầu

thấp trũng, đất gò đồi… nhất của huyện. Vì thế, việc dồn điền đổi thửa diễn ra
khá phức tạp và rất khó để phân chia cho phù hợp với mong muốn của người
đân.
* Chọn mẫu
Chọn 30 hộ thuộc thôn Quang Trung I có điều kiện kinh tế khác nhau, có
số nhân khẩu khác nhau trong đó có cả một số hộ làm nghề phi nông nhằm có cái
nhìn tổng quát hơn về những ý kiến khác nhau xung quanh công tác DĐĐT.
Dựa trên những tiêu chí tìm hiểu địa bàn đại diện cho việc thực hiện công
tác dồn điền đổi thửa theo hướng tác động tích cực và tiêu cực mà các hộ được
hưởng lợi hoặc phải chịu thiệt thòi.
3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin
3.3.2.1 Thu thập thông tin sơ cấp
* Phỏng vấn cán bộ khuyến nông huyện
Nội dung
- Tìm hiểu công tác quản lý của nhà nước về đất đai.
- Tìm hiểu quy trình thực hiện DĐĐT.
- Mặt tích cực và hạn chế của công tác DĐĐT trên toàn huyện nói chung.
- Những sự hỗ trợ của phòng nông nghiệp tới các xã trước, trong và sau
khi thực hiện công tác dồn điền đổi thửa.
* Phỏng vấn chính quyền và cán bộ nông dân xã, cán bộ các thôn xóm
Nội dung
- Quá trình triển khai thực hiện công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn xã.
- Đánh giá tác động của công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn.
- Các chính sách hỗ trợ của xã đến thôn xóm.
- Khả năng giải quyết các mâu thuẩn, thu hồi đất vô chủ, cấp bìa đất,… của
chính quyền địa phương.
* Phỏng vấn các hộ nông dân
Nội dung
- Sự tham gia của người dân trong công tác dồn điền đổi thửa.
- Những thuận lợi hay khó khăn trong sản xuất giữa trước và sau khi nhà

nhiên là 3.857,6 ha. Địa hình kéo dài từ Tây sang Đông, một số thôn phân bố rải
rác nằm xen lẫn với các cánh đồng rộng lớn nên khó khăn trong việc đi lại như
thôn Lạc Thọ, thôn Nam Hà. Xã có vị trí địa lý như sau:
- Phía Nam giáp xã Cẩm Minh.
- Phía Bắc giáp xã Cẩm Thịnh.
- Phía Đông giáp xã Cẩm Lộc và Cẩm Sơn.
Phía Tây là dãy núi ngăn cách với huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh.
Địa hình xã Cẩm Lạc chia làm 2 dạng cơ bản:
- Dạng thứ nhất là đồng bằng bán sơn địa có độ dốc khá lớn, xã được chia
làm 2 vùng ngăn cách bởi con sông Rác kéo dài đổ ra biển đông.
- Dạng thứ 2 là vùng đồng bằng có độ dốc vừa phải thuận lợi cho phát
triển nông nghiệp, trong đó phổ biến là trồng lúa, sắn và lạc.
4.1.2 Dân số và lao động
Dân số và lao động là nguồn lực không thể thiếu của một vùng, một địa
phương. Nó vừa là nguồn lực trong sản xuất vừa là người được hưởng trực tiếp
các lợi ích của phát triển kinh tế. Ở nước ta hiện nay, nền kinh tế về cơ bản vẫn
là nền kinh tế nông nghiệp, lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao và là
lực lượng dân số chủ yếu. Trong quá trình CNH - HĐH đất nước hiện nay, sự
phát triển kinh tế của từng địa phương ngoài những ảnh hưởng tích cực đến nông
nghiệp nông thôn, thì nó cũng có những ảnh hưởng theo chiều hướng ngược lại
đến sản xuất cũng như lao động nông nghiệp. Nếu dân số và lao động vừa đảm
bảo về lượng vừa đảm bảo về chất thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển
kinh tế và xã hội một cách bền vững, nhưng ngược lại nếu dân số nhiều nhưng
lao động ít, chất lượng lao động thấp thì sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội
của đất nước hay địa phương đó. Do vậy, khi thực hiện đề tài tôi đã tìm hiểu cơ
cấu dân số và lao động của xã Cẩm Lạc, kết quả thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1: Cơ cấu dân số và lao động của xã Cẩm Lạc
TT Cơ cấu Người
I Tổng số hộ 1574
II Tổng dân số 6422

Loại đất Diện tích ((ha)
Tổng diện tích đất tự nhiên 3.857,6
1.1. Đất nông nghiệp 564,69
1.1.1. Đất trồng cây hàng năm 453,28
1.1.2. Đất lúa, hoa màu 413,97
1.1.3. Đất trồng cây lâu năm 9
1.2. Đất lâm nghiệp
1.2.1. Đất có rừng tự nhiên 648,9
a. Đất có rừng sản xuất 86,7
b. đất có rừng phòng hộ 562,2
1.2.2. Đất có rừng trồng 378
a. Đất có rừng sản xuất 6,7
b. Đất có rừng phòng hộ 41,5
1.3. Đất chuyên dùng 297,7
1.3.1. Đất xây dựng 16,75
1.3.2. Đất giao thông 49,46
1.3.3. Đất thuỷ lợi, mặt nước chuyên dùng 127,99
1.3.4. Đất nghĩa địa 29,5
1.3.5. Đất khác 74,5
1.4. Đất ở nông thôn 28,38
1.5. Đất chưa sử dụng 1.939,93
1.5.1. Đất bằng 123,06
1.5.2 Đất đồi núi 1.105,87
1.5.3. Sông suối 70,5
1.5.4. Đất núi đá có cây 613
1.5.5. Đất khác 27,5
Nguồn: Tổng hợp số liệu của UBND xã năm 2009
Nhìn vào bảng trên ta thấy hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của xã
Cẩm Lạc là 2.642,77ha chiếm 49,7% tổng diện tích đất tự nhiên, trong 50,3%
diện tích còn lại chưa sử dụng thì đất đồi núi chiếm tới 57%.

Có 32 hộ kinh doanh nhỏ, 60 hộ kinh doanh vừa, có 9 hộ kinh doanh đại
lý vật tư hàng hoá, có 1051 lao động làm hợp đồng với các công ty xí nghiệp, có
50 máy cày, 25 máy tuốt lúa, 84 máy xay xát và nghiền thức ăn gia súc, 6 ô tô
vận tải. Tổng giá trị ước tính từ kinh doanh thương mại dịch vụ đạt 23,068 tỷ
đồng.
4.2 Đánh giá tình hình sử dụng và quản lý đất đai trên địa bàn xã
4.2.1 Công tác quản lý Nhà nước về đất đai thời kỳ trước Luật đất đai
năm 1993 ra đời
Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng vào năm 1975 cùng với các địa
phương khác trên cả nước nói chung và xã Cẩm Lạc, huyện Cẩm Xuyên nói
riêng đều thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về
công tác quản lý đất đai, bao gồm: Thực hiện quyết định 169/CP năm 1977 của
Thủ tướng chính phủ về công tác đo đạc, điều tra thống kê tình hình cơ bản đất
đai cả nước; thực hiện quyết định số 201/CP ngày 01 tháng 07 năm 1980; chỉ thị
299TTg ngày 10/11/1980 về công tác đo đạc, phân hạng, đăng ký thống kê đất
đai; chỉ thị 100CT/TW ngày 13/01/1981 về khoán sản phẩm; tổ chức tuyên
truyền Luật đất đai được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 10 năm 1987; nghị
quyết 10NQ/TW ngày 05 tháng 04 năm 1988; chỉ thị 30/HĐBT ngày 23 tháng
03 năm 1989 của hội đồng bộ trưởng về thi hành Luật đất đai.
Mặc dù đã thực hiện tốt các chủ trương chính sách đó nhưng công tác
quản lý đất đai của Cẩm Lạc còn nhiều hạn chế và tồn tại như: năng lực quản lý
và trình độ của cán bộ địa chính lúc bấy giờ còn thấp trong lúc đó thì các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thường xuyên thay đổi, các nghị
quyết, chỉ thị chưa đồng nhất về nội dung. Do vậy dẫn đến việc phân cấp quản lý
chưa rõ ràng, nội dung quản lý chưa chặt chẽ, dẫn đến việc sử dụng đất sai mục
đích và kém hiệu quả. Kết quả thống kê, kiểm kê đất đai hàng năm thường thiếu
chính xác. Tóm lại, thời kỳ chưa có Luật đất đai 1993 ra đời thì công tác quản lý
đất đai còn nhiều bất cập và hạn chế kìm hãm sự phát triển nền kinh tế của xã
nhà nói riêng và các địa phương khác trên cả nước nói chung.
4.2.2 Công tác quản lý Nhà nước về đất đai thời kì Luật đất đai năm

pháp kinh tế - kỹ thuật - pháp lý để phân bố đất đai cho các mục tiêu kinh tế - xã
hội nhằm công khai cho người dân biết để an tâm sản xuất. Việc lập quy hoạch
sử dụng đất chi tiết cho xã còn khá mới mẻ nên hiện nay xã Cẩm Lạc đang tiến
hành triển khai công tác này.
* Công tác giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng và cấp giấy
CNQSD đất
Thực hiện theo đúng Nghị định 64/CP của Chính phủ về công tác dồn điền
đổi thửa thì hiện nay hầu hết diện tích đất đai của xã đã có chủ sử dụng ngoại trừ
1.939,93 ha đất chưa sử dụng. Việc chuyển mục đích sử dụng đất đai của xã đều
được thực hiện theo đúng trình tự mà luật quy định, người dân không tự ý
chuyển mục đích khi chưa có quyết định của cơ quan quản lý đất đai.
Sau khi công tác dồn điền đổi thửa được hoàn thành, Văn phòng đăng ký
quyền sử dụng sử dụng đất huyện đã tiền hành công tác chỉnh lý bản đồ, hoàn
thiện dần hồ sơ sổ sách và tiến hành cấp giấy CNQSD đất nông nghiệp cho tất cả
người dân trong xã.
* Công tác quản lý tài chính về đất đai
Đây là công tác nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách, đảm bảo sự công
bằng xã hội. Hàng năm cán bộ địa chính xã tiến hành xác định và thu tất cả các
loại thuế sử dụng đất để nộp cho cơ quan quản lý tài chính.
* Công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại tố cáo về đất đai
Theo quy định mới của Luật đất đai 2003 việc giải quyết tranh chấp, khiếu
nại tố cáo về đất đai là nhiệm vụ của cơ quan quản lý đất đai mà cụ thể là là địa
chính xã, theo phương châm “hoà giải”. Từ đó tìm ra các giải pháp cụ thể đúng
đắn nhằm phục hồi các quyền lợi bị xâm hại, truy cứu trách nhiệm pháp lý đối
với các hành vi vi phạm pháp luật. Hàng năm trên địa bàn xã vẫn xảy ra một số
vụ tranh chấp đất đai giữa các hộ sử dụng đất liền kề về ranh giới sử dụng đất và
một số vụ về lấn chiếm đất đai.
4.3 Đánh giá công tác dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp xã Cẩm Lạc,
huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
4.3.1 Sự cần thiết phải dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp

xu hướng diện tích đất canh tác trên đầu người càng giảm.
Đối với huyện Cẩm Xuyên nói chung và xã Cẩm Lạc nói riêng thực hiện
chính sách chia ruộng đất ổn định lâu dài cho nông hộ trên cơ sở nguyên trạng
khoán 10 nên bộc lộ những nhược điểm sau đây:
- Hệ thống mương máng, giao thông nội đồng chưa được quy hoạch một
cách tổng thể, hiệu quả tưới tiêu thấp. Trong khi đó hệ thống giao thông nội đồng
đang ngày càng bị xuống cấp, các đầu mối cống tưới tiêu đều không được sữa
chữa đã ảnh hưởng rất lớn đến công việc sản xuất của nông dân.
- Quá trình giao đất theo nguyên trạng khoán 10 (khoán hộ) cho nên ruộng
đất chia cho hộ manh mún, phân tán trên tất cả các xứ đồng theo quan điểm có
tốt có xấu, có gần có xa. Đây là vấn đề khó khăn nhất cho người dân trong việc
đi lại đầu tư thâm canh.
- Qua khảo sát tình hình sử dụng đất nông nghiệp, đất trồng lúa trên địa
bàn toàn huyện, có 218.349 thửa, số thửa có diện tích trên 500m
2
là 62.264 thửa
và số thửa có diện tích dưới 500m
2
là 56.085 thửa. Điều đó nói lên mức độ manh
mún, hiện nay có những xã như Cẩm Hưng, Cẩm Lạc, Cẩm Long …trung bình
mỗi hộ từ 9-11 thửa, như thế có những hộ sử dụng trên 15 thửa đất.
- Đất công ích các xã, thị để phân tán rải rác, trên 68% chủ yếu gửi vào đất
giao ổn định lâu dài, thậm chí có những vùng không có địa chỉ cụ thể.
- Công tác quản lý nhà nước về đất đai gặp nhiều khó khăn, đặc biệt công
tác để quản lý và xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong thời gian tới.
Từ thực trạng như trên, đặc biệt những khó khăn tồn tại cho nên việc thực
hiện cuộc vận động chuyển đổi sử dụng ruộng đất nông nghiệp trong thời gian
tới là vấn đề hết sức cần thiết, tạo điều kiện cho các xã, thị, thôn, xóm tiếp tục
chỉ đạo giao hết diện tích đất nông nghiệp, quy hoạch lại hệ thống kênh mương,
bờ vùng, bờ thửa, cải tạo lại đồng ruộng, xoá bỏ manh mún, quy hoạch đất công

nước quản lý, do tính chất rộng lớn phân tán nên việc quản lý của Nhà nước ở
tầm vĩ mô, không trực tiếp quản lý đến từng hộ cá nhân sử dụng đất vì thế không
thấy được những khó khăn tồn tại trong việc sử dụng đất dẫn đến kết quả sản
xuất nông nghiệp đạt hiệu quả thấp.
Mặt khác, công tác quản lý và sử dụng đất đai trước đây đã gặp phải những
vướng mắc như quỹ đất công ích nằm xen lẫn quỹ đất giao sử dụng ổn định lâu
dài nên có một số trường hợp người dân tự động sử dụng mà không được sự
đồng ý của chính quyền UBND xã, hoặc một số trường hợp nông dân lấn chiếm
đất công ích để làm quỹ đất riêng của mình. Đó là 2 trong nhiều lý do quan trọng
cần tiến hành dồn điền đổi thửa.
Kết quả cấp giấy chuyển quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân

Trích đoạn Những hạn chế, tồn tại.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status