1
MỤC LỤC
1
2
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
“Nông thôn mới” là chương trình mục tiêu quốc gia lớn và dài hơi của
Chính phủ. Quy mô lớn, kỳ vọng cũng nhiều, thế nhưng nhìn nhận nông thôn
trong năm qua, ngành nông nghiệp đã thừa nhận về những bước đi chậm của
chương trình mà rõ nét nhất là nguồn thu của nông dân chưa được cải thiện,
diện mạo nông thôn mới vẫn chưa rõ hình hài vậy đâu là nguyên nhân làm
chậm bước đi của chương trình. Có nhiều nguyên nhân như: sự quản lý lỏng
lẻo, chưa tập trung vào những vấn đề chính trong sự phát triển của nông thôn,
chuyển dịch cơ cấu cây trồng phù hợp với điêu kiện của địa phương chưa hợp
lý trong đó công tác quản lý, thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
là khá quan trong trong sự phát triển của địa phương.
Công tác quản lý, thực hiện quy hoạch sử dụng đất sau khi phê duyệt
tại nhiều địa phương chưa được coi trọng trong khâu thực hiện; việc công
khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được duyệt còn mang tính hình thức,
các quyền của người sử dụng đất trong phạm vi quy hoạch ở nhiều nơi còn bị
vi phạm, chẳng hạn như không cấp Giấy chứng nhận, không được sửa chữa
nhà cửa gây nhiều bức xúc cho người dân.
Nhiều nơi để cho dân ngang nhiên lấn chiếm, chuyển mục đích sử dụng
đất trái phép không bị xử lý, gây khó khăn phức tạp và làm tăng chi phí bồi
thường, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất. Công tác kiểm tra, giám sát,
đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa thực sự
nghiêm túc, đặt biệt là việc quản lý, sử dụng đất theo các chỉ tiêu quy hoạch
đã được phê duyệt.
Trong những năm qua, xã Chi Khê đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm
nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai tiến hành giao quyền sử dụng đất lâu dài
1.3. Yêu cầu của đề tài
- Tìm hiểu Luật Đất đai 2003, các văn bản, nghị định có liên quan đến
công tác quy hoạch đất nông nghiệp
- Thu thâp tài liệu một cách trung thực, chính xác
- Đưa ra những giải pháp và những kiến nghị phù hợp, khách quan và
có tính khả thi
- Phải có thái độ nghiêm túc, khắc phục mọi khó khăn để học hỏi,
nghiên cứu, biết tranh thủ sự giúp đỡ của cán bộ nhân viên tại đơn vị thực tập
3
4
- Có tinh thần trách nhiệm với nhiệm vụ được giao, làm đến nơi đến
chốn, chính xác, kịp thời.
- Chủ động thu thập và chuẩn bị tài liệu để viết báo cáo thu hoạch đợt
thực tập được thuận lợi
- Giữ mối quan hệ tốt với cán bộ công nhân viên chức trong đơn vị
thực tập
- Tham gia đầy đủ tích cực mọi hoạt động phong trào của đơn vị thực tập
- Hoàn thành chuyên đề thực tập đúng thời hạn quy định
1.4. Ý nghĩa của đề tài
- Giúp cho sinh viên nắm được tình hình thực tế của công tác quản lý
nhà nước về đất đai tại đơn vị thực tập. Qua đó liên hệ với phần lý luận ở nhà
trường nhằm đưa ra giải pháp công tác quản lý của đơn vị, củng cố thêm nhận
thức và nâng cao tay nghề chuyên môn
- Qua đợt thực tập sinh viên học được: tính tổ chức, kỷ luật trong nghể
nghiệp, tinh thần trách nhiệm đối với công việc được giao, tinh thần khắc
phục mọi khó khăn, phát huy tính tích cực trong học tập.
4
5
Phần 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
5
6
Đất đai là nguồn của cải, là một tài sản cố định hoặc đầu tư cố định. Là
thước đo sự giầu có của mộ quốc gia. Đất đai còn là sự bảo hiểm cho cuộc
sống, bảo hiểm về tài chính, như là sự chuyển nhượng của cải qua các thế hệ
và như là một nguồn lực cho các mục đích tiêu dùng.
Luật Đất đai 1993 của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có
ghi: “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các
khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng.
Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao nhiêu công sức, xương máu mới
tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay !".
Thực vậy, trong các điều kiện vật chất cần thiết, đất đai giữ vị trí và ý
nghĩa đặc biệt quan trọng - là điều kiện đầu tiên, là cơ sở thiên nhiên của mại
quá trình sản xuất, là nơi tìm được công cụ lao động, nguyên liệu lao dộng và
nơi sinh tồn của xã hội loài người.
Tuy nhiên, vai trò của đất đai đối với từng ngành rất khác nhau :
Trong các ngành phi nông nghiệp: Đất đai giữ vai trò thụ động với
chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là
kho tàng dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản). Quá trình
sản xuất và sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu
của đất, chất lượng thảm thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong đất.
Trong các ngành nông-lâm nghiệp: Đất đai là yếu tố tích cực của quá
trình sản xuất, là điều kiện vật chất - cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng
lao động (luôn chịu sự tác động của quá trình sản xuất như cày, bừa, xới
xáo ) và công cụ hay phương tiện lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn
nuôi ). Quá trình sản xuất nông-lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ
phì nhiêu quá trình sinh học tự nhiên của đất.
Thực tế cho thấy trong quá trình phát triển xã hội loài người, sự hình
thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất - văn minh tinh thần, thành
quốc lần thứ VII là: “Sản xuất nông nghiệp đi vào chuyên canh kết hợp với
kinh doanh tổng hợp nhằm đạt giá trị cao nhất trên một đơn vị diện tích.
Thâm canh tăng vụ là chính và mở thêm diện tích ở những nơi có điều kiện.
Tăng sản lượng lương thực đủ nhu cầu trong nước, có dự trữ và xuất khẩu.
Đất nông nghiệp là người ta nghĩ ngay đến vấn đề sử dụng đất vào sản
xuất các ngành nông nghiệp, bởi vì trên thực tế có trường hợp đất đai được sử
dụng vào những mục đích khác nhau của các ngành. Trong trường hợp đó, đất
đai được sử dụng chủ yếu cho mục đích hoạt động sản xuất nông nghiệp mới
7
8
coi là đất nông nghiệp, nếu không sẽ là loại đất khác (tuỳ theo việc sử dụng
vào mục đích nào là chính).
Tuy nhiên, để sử dụng đầy đủ, hợp lý ruộng đất trên thực tế người ta
coi đất đai có thể tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà không cần
có đầu tư lớn nào là đất nông nghiệp cho dù nó đã đưa vào sản xuất nông
nghiệp hay chưa. Vì vậy, trong Luật Đất đai năm 1993, Điều 17 ghi rõ:
“Khoanh định các loại đất nông nghiệp điều chỉnh việc khoanh định cho
phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi từng địa
phương và cả nước. Những diện tích đất đai phải qua cải tạo mới đưa vào
hoạt động sản xuất nông nghiệp được coi là đất có khả năng nông nghiệp.
Nhà nước xác định mục đích sử dụng chủ yếu của đất nông nghiệp là sử dụng
vào sản xuất nông nghiệp. Song, do đặc điểm tính chất từng loại đất này có sự
khác nhau, dẫn đến tác dụng sử dụng cụ thể cũng khác nhau, người ta chia đất
nông nghiệp thành 4 loại sau đây:
- Đất trồng cây hàng năm: Là toàn bộ diện tích thực tế trồng các loại
cây mà thời gian sinh trưởng và tồn tại thường không quá 1 năm như đất trồng
lúa, đất trồng màu, đất trồng chuyên rau,
- Đất trồng cây lâu năm: là toàn bộ diện tích thực tế đã trồng các loại
cây mà thời gian sinh trưởng và tồn tại trên một năm như đất trồng cà phê,
dừa, cam, chanh, xoài, kể cả đất làm vườn ươm, cây giống.
Qua phân tích ta có thể định nghĩa: Quy hoạch sử dụng đất đai là hệ
thống các biện pháp của nhà nước (thể hiện đựơc đồng thời ba tính chất kinh
tế, kỹ thuật và pháp chế) về tổ chức sử dụng đất đai phải hợp lý, đầy đủ và tiết
kiệm nhất, thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoan định cho các mục đích
vàcác ngành ) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất của xã hội, tạo điều
kiện bảo vệ đất đai môi trường.
Như vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình
thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để
mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: điều chỉ các mối
quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục
đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường.
Từ đó, ta thấy việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng không chỉ cho trước mắt mà cả lâu dài. Căn cứ vào đặc
điểm, điều kiện tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành
nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và kế
9
10
hoạch sử dụng đất đai chi tiết của mình; xác lập ổn định về mặt pháp lý cho
công tác quản lý nhà nước về đất đai; làm cơ sở để tiến hành giao cấp đất và
đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ nhu cầu
dân sinh, văn hoá - xã hội.
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất đai còn là biện pháp hữu hiệu của
nhà nước nhầm tổ chức lại việc sử dụng đất đai,hạn chế sự chồng chéo gây
lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút
nghiêm trọng quỹ đất lâm nghiệp, lâm nghiệp (đặc biệt là đất trồng lúa và đất
lâm nghiệp có rừng ), ngăn ngừa được các hiện tượng tiêu cực, chanh chấp,
lấn chiếm huỷ hoại đất, phá vỡ môi trường sinh thái, gây ô nhiễm môi trường
dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và
rất nhiều các hiện tượng gây ra các hiệu quả khó lường về tình hình bất ổn
sinh mối quan hệ giữa người với đất đai. Các công việc của con người như
điều tra, đo đạc, khoanh định, thiết kế đều liên quan chặt chẽ với đất đai,
nhằm đưa đất đai vào sử dụng sao cho đầy đủ, hợp lý và hiệu quả cao nhất.
Quy hoạch đất đai thể hiện động thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực
lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó
luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất xã hội.
Mặt khác, ở mỗi nước khác nhau đều có Luật Đất đai riêng của mình.
Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất đai của các nước cũng có nội dung khác nhau.
ở nước ta, quy hoạch sử dụng đất đai phục vụ nhu cầu sử dụng đất và quyền
lợi của toàn xã hội. Bởi vì vậy theo Luật Đất đai thì đất đai nước ta thuộc sở
hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý và nhà nước giao đất cho các hộ
gia đình và tổ chức sử dụng. Điều đó góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất
ở nông thôn, tạo điều kiện cho người dân làm chủ mảnh đất, tự tin trong sản xuất
và đầu tư, giúp cho việc bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội.
Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, quy hoạch sử dụng đất đai góp
phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế xã hội và môi
trường nảy sinh trong quá trình sử dụng đất, cũng như mâu thuẫn giữa các lợi
ích trên với nhau.
*Tính tổng hợp
Đất đai có vai trò quan trọng đối với đời sống của con người và các
hoạt động xã hội. Cho nên quy hoạch sử dụng đất đai mang tính tổng hợp rất
cao, đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế, xã hội như: Khoa học tự
nhiên, khoa học xã hội dân số và đất đai, sản xuất công - nông nghiệp, môi
trường sinh thái Quy hoạch sử dụng đất đai thường động chạm đến việc sử
11
12
dụng đất của sáu loại đất chính: Đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân
cư nông thôn, đất đô thị, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng, cũng như ảnh
hưởng đến toàn nhu cầu sử dụng đất đai của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Quy hoạch sử dụng đất đai lãnh trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu
sách lớn để đạt được mục tiêu của phương hướng sử dụng đất. Quy hoạch có
tính dài hạn, lên khoảng thời gian dự báo tương đối dài, mà trong quá trình dự
báo chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố kinh tế xã hội khó xác định, nên chỉ
tiêu qui hoạch càng khái lược hoá qui hoạch sẽ càng ổn định. Do đó, qui
hoạch thường có giá trị trong thời gian, tạo nền tảng và định hướng cho các
ngành khác sử dụng đất đai, tạo nền tảng và định hướng cho các ngành khác
sử dụng đất đai theo phương hướng đã vạch ra.
* Tính chính sách
Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và chính
sách xã hội. Mỗi đất nước có các thể chế chính trịnh khác nhau, các phương
hướng hoạt động kinh tế xã hội khác nhau, nên chính sách qui hoạch sử dụng
đất đai cũng khác. Khi xây dựng phương án phải quán triện các chính sách và
quy định có liên quan đến đất đai của đảng và nhà nước, đảm bảo cụ thể mặt
bằng đất đai của các mục tiêu phát triển kinh tế quốc dân, phát triển ổn định
kinh tế chính trị xã hội; tuân thủ các chỉ tiêu, các qui định khống chế về dân
số, đất đai và môi trường sinh thái. Trong một số trường hợp ta có thể hiểu
qui hoạch là luật, qui hoạch sử dụng đất đai để đề ra phương hướng, kế hoạch
bắt mọi người phải làm theo. Nói chính sách cứng, là cái khung cho mọi hoạt
động diễn ra trong đó. Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện tính chính
sách rất cao. Nhưng không phải thế mà qui hoạch sử dụng đất đai là vĩnh
viễn, không thay đổi.
* Tính khả biến
Với xu hướng đi lên của xã hội, mọi sự vật hiện tượng luôn thay đổi. Vì
vậy, dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó định trước, đoán truớc, theo
nhiều phương diện khác nhau, qui hoạch sử dụng đất đai chỉ là một trong
những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp
hơn cho việc phát triển kinh tế trong một thời lỳ nhất định. Càng ngày xã hội
càng phát triển, khoa học kỹ thuật phát triển mạnh, đời sống của con người
đòi hỏi càng cao, các nhu cầu luôn biến đổi, cùng với những thay đổi đó các
chính sách của nhà nước và tình hình kinh tế cũng thay đổi theo. Do đó, các
+ Phạm vi lãnh thổ quy hoạch ( cấp vị lãnh thổ hành chính) cũng như
nội dung và phuơng pháp quy hoạch.
Đối với nước ta, Luật Đất đai năm 1993 (Điều 16,17,18) quy định:
Quy hoạch sử dụng đất được tiến hành theo lãnh thổ và theo ngành.
Quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ có các dạng sau:
+ Quy hoạch tổng thể sử dụng đất cả nước;
14
15
+ Quy hoạch sử dụng đất các vùng;
+ Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh;
+ Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện;
+ Quy hoạch sử dụng đất cấp xã;
Quy hoạch theo ngành: Dựa trên cơ sở đánh giá khả năng thích nghi
của đất mà phân cho các ngành sử dụng và định hướng cho người sử dụng đất
phù hợp với đặc điểm từng ngành để có hiệu quả kinh tế cao.
Hiện nay một số ngành đã triển khhai lập quy hoạch sử dụng đất đai
của ngành mình như: Ngành nông nghiệp, giao thông, thuỷ lợi… nhưng tiến
hành còn chậm.
Hai loại quy hoạch này có liên quan chặt chẽ với nhau. Các ngành tuy
có khác nhau về mục đích sử dụng nhưng đều được phân bố trên cùng một
lãnh thổ cụ thể nào đó (tức là trên một lãnh thổ tồn tại một lúc nhiều ngành).
Do đó, tuỳ thuộc vào đặc điểm phân bố lực lượng sản xuất và sự phát triển
của các ngành mà mỗi dạng quy hoạch theo lãnh thổ hành chính có thể bao
hàm toàn bộ hoặc một số quy hoạch theo ngành.
2.1.5. Sự cần thiết của quy hoạch sử dụng đất đai
Trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở nước ta, sự dịch
chuyển cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ sang Công
nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp đã và đang gây áp lực ngày càng lớn đối với
đất nên vấn đề làm quy hoạch là hết sức bức xúc và cần được quan tâm hàng
đầu. Nó liên quan chặt chẽ tới hoạt động của từng ngành từng lĩnh vực, quyết
phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, tập quán sản xuất
của từng địa phương. Cần phải nắm rõ đặc điểm đó để đưa ra những phương
hướng sử dụng đất tốt nhất, phù hợp nhất, khoa học nhất.
2.1.6. Lập quy hoạch. Kế hoạch sử dụng đất.
Điều 25 Luật Đất đai 2003 nêu rõ: Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
1. Chính phủ tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất của cả nước.
2. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức thực
hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương.
3. Uỷ ban nhân dân huyện thuộc tỉnh tổ chức thực hiện việc lập quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất của thị trấn thuộc huyện.
16
17
Uỷ ban nhân dân huyện, quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương,
Uỷ ban nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh tổ chức thực hiện việc lập quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất của các đơn vị hành chính cấp dưới, trừ trường hợp quy định tại khoản 4
Điều này.
4. Uỷ ban nhân dân xã không thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị
trong kỳ quy hoạch sử dụng đất tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất của địa phương.
5. Quy hoạch sử dụng đất của xã, phường, thị trấn được lập chi tiết gắn
với thửa đất (sau đây gọi là quy hoạch sử dụng đất chi tiết); trong quá trình
lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết, cơ quan tổ chức thực hiện việc lập quy
hoạch sử dụng đất phải lấy ý kiến đóng góp của nhân dân.
Kế hoạch sử dụng đất của xã, phường, thị trấn được lập chi tiết gắn với
thửa đất (sau đây gọi là kế hoạch sử dụng đất chi tiết).
6. Uỷ ban nhân dân cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc lập quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua quy
3. Diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất đã được công bố phải
thu hồi để thực hiện dự án, công trình hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất
mà sau ba năm không được thực hiện theo kế hoạch thì cơ quan nhà nước có
thẩm quyền xét duyệt kế hoạch sử dụng đất phải điều chỉnh hoặc huỷ bỏ và
công bố.
2.2. Cơ sở pháp lý
2.2.1. Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
Với đặc điểm “ Đất chật người đông” nên Đảng và Nhà nước ta luôn
luôn quan tâm, chú trọng tới vấn đề qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai để
nhằm sử dụng hợp lý các quỹ đất giúp người dân yên tâm sản xuất, đưa đất
nước phát triển đi lên trong thời đại công nghiệp hoá - hiện đại hoá hiện nay.
Sự quan tâm cảu Đảng và Nhà nước thể hiện ngay trong hệ thống các
văn bản pháp luật như: Hiến pháp, Luật, các Văn bản duới luật và các Nghị
18
19
định hướng dẫn thi hành luật. Những văn bản này là cơ sở pháp lý cho các cấp
thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai
2.2.2. Chính sách đất đai và những quy định về quy hoạch sử dụng đất đai
cấp xã trong thời kỳ mới
* Luật Đất đai năm 2003
Luật Đất đai 2003, tại chương II Mục 2 quy định:
Điều 21: Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Điều 22: Căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Điều 23: Nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Điều 24: Kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Điều 25: Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Điêù 26: Thẩm quyền quyết định xét duyệt quy hoạch , kế hoạch sử dụng.
Điều 27: Điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Điều 28: Công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Điều 29: Thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
nguyên và Môi trường về việc triển khai lập quy hoạch sử dụng đất đến năm
2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015)
- Kế hoạch số 461/kh-UBND ngày 17/11/2009 của UBND tỉnh Nghệ
An về việc Triển khai công tác Lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và
Kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) các cấp trên địa bàn tỉnh Nghệ An
- Báo cáo điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006-2010 của
tỉnh Nghệ An đã được Chính phủ phê duyệt tại nghị quyết số 50/2007/NQ-CP
ngày 13/9/2007;
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của huyện Con Cuông
đến năm 2020;
- Báo cáo điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch
sử dụng đất đến năm 2010 của huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An;
- Hướng dẫn số 797/STNMT ngày 24/9/2009 của Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh Nghệ An hướng dẫn thực hiện chỉ tiêu tài nguyên và môi
trường theo đề án thí điểm mô hình xã “Nông thôn mới” trên địa bàn tỉnh
Nghệ An;
- Báo cáo thuyết minh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và định
hướng sử dụng đất đến năm 2020 của huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An;
- Văn kiện Đại hội Đảng bộ xã Chi Khê, các nghị quyết của Hội đồng
nhân dân về các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội;
20
21
- Đề cương, dự toán, thiết kế quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và
kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2011-2015 huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An;
Do vậy công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thống nhất
trong cả nước mà vẫn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế- xã hội của
từng vùng thì các cấp lãnh đạo cần phải căn cứ vào quy định của Nhà nước và
thực hiện lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Điều này đã khẳng định tính
pháp chế của Nhà nước ta trong quản lý và sử dụng đất đai;
- Căn cứ Quyết định 193/QĐ-TTg ngày 02/2/2010 của Thủ tướng
Thông qua đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã, tiến hành
quy hoạch định hướng phát triển về không gian, mạng lưới dân cư, hạ tầng kỹ thuật,
xã hội xã Chi Khê để nhằm khai thác các tiềm năng thế mạnh vốn có, đáp ứng
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội theo Chương trình Nông thôn mới của Đảng
và Nhà nước đề ra trở thành một yêu cầu cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện
nay. Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ
sang Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp đã và đang gây áp lực ngày càng
lớn đối với đất nên vấn đề làm quy hoạch sử dụng đất là hết sức bức xúc và
cần được quan tâm hàng đầu. Nó liên quan chặt chẽ tới hoạt động của từng
ngành từng lĩnh vực, quyết định đến hiệu quả sản xuất và sự sống còn của
từng người dân cũng như vận mệnh của cả Quốc gia.
22
23
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Sổ sách, tài liệu về tình hình cơ bản của xã, điều kiện kinh tế - xã hội
- Phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của xã Chi
Khê – huyện Con Cuông – tỉnh Nghệ An
- Số liệu thông kê đất đai hàng năm của thị xã Chi Khê
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất xã Chi Khê trong chương
trình “xây dựng nông thôn mới”.
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1. Địa điểm
Phòng tài nguyên môi trường huyện Con Cuông – tỉnh Nghệ An
3.2.2. Thời gian
Từ ngày 20/2/2012 đến ngày 20/4/2012
năm 2011
- Kết quả sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện các công trình dự án
- Hệu quả sử dụng đất nông nghiệp
3.3.5. Đánh giá chung vê quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp xã Chi Khê-
huyện Con Cuông – tỉnh Nghệ An trong chương trình “ Xây dựng nông
thôn mới”
- Đánh giá các căn cứ xây dựng kế hoạch
- Đánh giá nội dung quy hoạch
- Đánh giá việc thực hiện quy hoạch
3.3.6. Khó khăn,tồn tại chủ yếu trong quá trình thực hiện quy hoạch sử
dụng đất nông nghiệp cảu xã Chi Khê, nguyên nhân và giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng qhuy hoạch sử dụng đất.
- Khó khăn, tồn tại
- Nguyên nhân
- Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quy hoạch sử dụng đất.
24
25
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu
Thu thập số liệu tại Phòng Tài Nguyên Môi Trường huyện Con Cuông,
phòng thống kê, qua mạng Internet, qua sách báo… Dùng để thu thập các
thông tin liên quan đến đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình quản lý sử
dụng đất và các tài liệu liên quan đến quy hoạch đất đai khu vực nghiên cứu
3.4.2. Phương pháp điều tra dã ngoại bổ sung
Trên cơ sở các tài liệu, số liệu đã thu thập được trong các phòng ban,
tiến hành điều tra dã ngoại bổ sung nhằm thống nhất các tài liệu số liệu đã thu
thập được. Phát hiện và bổ sung những thiếu sót, những chênh lệch giữa thực
tế và tài liệu thu thập.
3.4.3. Phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê và đánh giá so sánh
Sau khi đã thu thập thống kê đầy đủ các tài liệu số liệu cần thiết. Các