Đề án
ĐỀ ÁN: Một số giải pháp quản lý nhằm đẩy nhanh quá trình thực
hiện công tác “dồn điền đổi thửa” đất nông nghiệp ở huyện Yên
Phong.
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỒN ĐIỀN ĐỔI
THỬA ĐẤT NÔNG NGHIỆP.
1.1
Khái niệm và vai trò của dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp.
1.1.1 Khái niệm của dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp.
1.1.2 vai trò của công tác dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp trong chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp.
1.2.
Quản lý hoạt động dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp.
1.2.1
Phương hướng chung.
1.2.2
Nguyên tắc thực hiện hoạt động dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp .
1.2.3
Mục tiêu.
Bước 7: Tổ chức thực hiện công tác dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp.
1.3.8
Bước 8: Kiểm soát hoạt động dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp .
1.3.8.1 Chế độ thông tin báo cáo.
1.3.8.2 Đánh giá thực hiện hoạt động dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp .
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ DỒN ĐIỀN ĐỔI
THỬA ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH.
2.1
Một số nét khái quát về đặc điểm đất nông nghiệp huyện Yên Phong.
2.1.1
Quá trình manh mún hoá đất canh tác nông nghiệp.
2.1.2
Quá trình tích tụ đất nông nghiệp nông thôn.
2.1.3
Đất đai của huyện Yên Phong có mức độ manh mún lớn.
2.1.4
3.1
Những kinh nghiệp rút ra từ thực tiễn hoạt động dồn điền, đổi thửa đất
nông nghiệp .
3.2
Giải pháp quản lý đẩy nhanh đẩy nhanh hoạt động dồn điền, đổi thửa đất
nông nghiệp ở huyện Yên Phong.
3.2.1
Giải pháp tạo hành lang pháp lý cho hoạt động dồn điền, đổi thửa đất nông
nghiệp .
3.2.2
Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục ,và vận động quần chúng.
3.2.3
hoá .
Quy hoạch sủ dụng đất gắn với tổ chức sản xuất theo hướng sản xuất hàng
3.3
Kiến nghị.
KẾT LUẬN.
3
Mở đầu
• Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện nghị quyết số 10/NQ-TW của bộ chính trị ngày 27/2/1992 và
ruộng đất để sản xuất hành hoá quy mô lớn, sản lượng, chất lượng, hiệu quả kinh tế
cao hơn.
Uỷ ban nhân dân huyện Yên Phong đã xây dựng kế hoạch số 64/KH-UB
ngày 15/6/2007 và thông qua ban chấp hành huyện Uỷ họp bàn và đã ra nghị
quuyết số 20/NQ-HU ngày 28/6/2007 về thực hiện hoạt động dồn điền, đổi thửa
đất nông nghiệp.
Công tác dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp rất quan trọng tạo ra “bước
đệm” để sản xuất nông nghiệp nâng cao giá trị, tạo ra những sản phẩm chất lượng,
khai thác tốt tiềm năng của mỗi địa phương. Nhưng nếu chỉ làm bằng khẩu hiệu mà
không có giải pháp quản lý cụ thể, kịp thời thì mục tiêu khó trở thành hiện thực. Và
nếu không đẩy mạnh quy hoạch dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp, thay đổi cơ cấu
cây trồng để sản xuất hàng hoá quy mô lớn thì công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại
hoá nông nghiệp nông thôn cũng chỉ nằm trên “bàn giấy”.
• Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ tình hình thực tiễn hoạt động dồn điền, đổi thửa đất nông
nghiệp huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Đề tài đã phân tích nghiên cứu thực trạng
hoạt động và cơ chế quản lý của hoạt động dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp, trên
cơ sở đề xuất một số kiến nghị, giải pháp quản lý đẩy nhanh quá trình thực hiện
hoạt động này trên địa bàn huyện Yên Phong.
• Bố cục đề tài
Chương I: cơ sở lý luận về họat động dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp
Chương II: thực trạng quản lý hoạt động dồn điền, đổi thửa đất nông
nghiệp huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Chuơng III: hoàn thiện hệ thống quản lý đẩy nhanh hoạt động dồn điền,
đổi thửa đất nông nghiệp huyện Yên Phong.
5
Lời cảm ơn!
Cuộc cải cách kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn Việt Nam ở những
năm đầu thập kỷ trước đã đem lại những thành quả to lớn về mặt kinh tế, xã hội
cho đất nước. Từ một nước nhập khẩu lương thực, thực phẩm là chủ yếu, kinh tế
nghèo nàn, lạc hậu, chúng ta đã vươn lên trở thành nước xuất khẩu lớn trên thế giới
về một số mặt hàng nông sản như: gạo cà phê, tiêu, thuỷ sản … thu nhập và đời
sống của người dân luôn được cải thiện. Tỷ lệ đói nghèo giảm đáng kể, đặc biệt là
ở nông thôn…đóng góp vào thành quả to lớn trên không thể không kể đến các chủ
trương, chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước đã ban hành trong quá trình
đổi mới vừa qua . Một trong số đó là chủ trương dồn điền đổi thửa đất nông
nghiệp. Đây là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, là hướng đi tất yếu để đưa
nền nông nghiệp vốn rất manh mún, nhỏ lẻ phát triển thành sản xuất hàng hoá qui
mô lớn. Sau hơn mười năm thực hiện, từ những ý tưởng manh nha ban đầu rồi trở
thành chủ trương lớn, dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp đã thu được những thành
tựu đáng kể.
1.1.2.1 Dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp khắc phục tình trạng đất manh
mún, phân tán.
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân đã liền
khoảnh, liền khu, tạo điều kiện thuận lợi cho hộ cải tạo ruộng đồng, thâm canh,
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tiết kiệm chi phí sản xuất và tạo điều kiện tốt hơn cho
cơ giới hoá. Giảm bớt thời gian đi lại vận chuyển, thu hoạch cho các hộ nông dân.
Tăng thêm diện tích canh tác do giảm bớt diện tích đất để làm bờ ruộng. Tạo điều
7
kiện hình thành các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh cũng như thuận lợi cho
việc áp dụng tiến bộ khoa học-kỷ thuật vào sản xuất góp phần thực hiện mục tiêu
cánh đồng có thu nhập 35triệu/ha; 50 triệu/ha của địa phương.
1.1.2.2 Dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp là cơ hội để qui hoạch và phát triển hệ
thống giao thông thuỷ lợi, tạo điều kiện phát triển đa dạng hoá nông nghiệp.
Quá trình dồn điền, đổi thửa cho phép khắc phục tình trạng manh mún
Các cấp uỷ Đảng chính quyền và cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo
8
chặt chẽ dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp và đưa chăn nuôi ra khỏi khu dân cư.
Để đảm bảo yêu cầu và nguyên tắc sau:
- Phải quy hoạch lại đồng ruộng để có hệ thống giao thông thuỷ lợi thuận
tiện cho sản xuất lâu dài, xây dựng các công trình văn hoá thể thao. Trên cơ sở tận
dụng tối đa các công trình giao thông thuỷ lợi hiện có của địa phương, tránh lãng
phí.
- Trong chỉ đạo điều hành phải thực sự công khai, dân chủ phương án qui
hoạch đồng ruộng. Phương án dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp và đưa khu chăn
nuôi ra khỏi khu dân cư, để dân bàn bạc tạo sự thống nhất đồng thuận cao trong
Đảng bộ và Nhân dân.
- Diện tích đất canh tác của các hộ khi thực hiện dồn điền, đổi thửa đất
nông nghiệp phải trên cơ sở diện tích giao cho hộ đó năm 1993 trừ đi phần chênh
lệch diện tích đã bị Nhà nước thu hồi (nếu có).
1.2.3
Mục tiêu
Năm 2007chỉ đạo thực hiện làm điểm dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp
ở một xã để rút kinh nghiệm.
Năm 2008 triển khai thực hiện ở tất cả các xã thị trấn trong huyện.
Phấn đấu năm 2010 cơ bản hoàn thành dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp
trên địa bàn huyện. Sau khi thực hiện xong mỗi hộ nông dân còn từ 1-3 mảnh
ruộng và mỗi thửa ruộng có diện tích từ 1000m2 trở lên.
1.3
đồng chí bí thư chi bộ làm trưởng ban, đồng chí trưởng thôn làm phó ban, chủ
nhiệm hợp tác xã làm phó ban, các thành viên là các ban, nghành đoàn thể và các
đồng chí kinh nghiệm uy tín, am hiểu đồng ruộng.
Đại hội xã viên hoặc hội nghị xã viên họp ra nghị quyết hoặc tổ chức phát
phiếu thăm dò đến các hộ xã viên để tổng hợp các ý kiến thống nhất thực hiện chủ
trương dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp.
1.3.2. Bước 2: Quy hoạch đông ruộng
a. Trước khi tiến hành quy hoạch đồng ruộng cần thực hiện các việc cụ thể
sau:
Thống kê toàn bộ diện tích đất nông nghiệp hiện có của từng hộ thành các
bảng biểu
Thống kê toàn bộ diện tích đất công ích hiện có
b. Tíên hành quy hoạch
Khi cần căn cứ vào bản đồ địa chính địa hình thực tế của các chân ruộng
10
từng khu, từng vùng, các công trình hiện có của địa phương. Lập bản đồ quy hoạch
gồm :
Đất ở khu dân cư (nên chọn các vị trí thuận lợi có giá trị sinh lời)
Các công trình công cộng của thôn (cần có sự thống nhất giữa thôn và các
xã ) bao gồm nhà trẻ, mẫu giáo, nhà văn hoá thôn và sân thể thao …
Các công trình thuỷ lợi đường giao thông nội đồng, kênh mương tưới tiêu,
nghĩa địa, bãi giác thải…trong nội dung này phải tận dụng các công trình hiện có
của địa phương đặc biệt là đường giao thông và các công trình thuỷ lợi. Đồng thời
các tính toán sau khi chia ruộng các thửa đất của các hộ đều được tiếp cận với
đường giao thông và các công trình tưới tiêu.
Các vùng sản xuất theo địa hình của thôn (nên chia 3 vùng chính đó là
vùng trũng, đồng vàn và đồng cao)
c. Sau khi quy hoạch lại cần phải xác định một số nội dung sau:
nên khuốn khích các hộ có nhu cầu chuyển đổi sang nhu cầu kinh tế tổng hợp
(chăn nuôi, thuỷ sản, trồng trọt). Đối với vùng này ngoài định suất chung được
chia như các hộ khác thì có thể chia theo hệ số tăng tuỳ theo tình hình vụ thể của
từng địa phương sau khi đã thống nhất trước toàn dân (k = 1.1; k = 1.2)
Tại khu đồng vàn (đất hai lúa) khuyến khích các hộ tự nguyện (các bộ,
đảng viên, gia đình, anh em họ tộc…) nhận gọn thửa, gọn khu trên cơ sở đảm bảo
số diện tích đất canh tác của mỗi hộ như trước khi chia ruộng (gọi là khu đồng tự
nguyện)
Các vùng còn lại tiến hành các phiếu chia ruộng.
Trong quá trình chia có thể ưu tiên các gia đình chính sách, neo đơn không
nơi nương tựa nhận ruộng gần, dễ canh tác
1.3.4. Bước 4: công khai hoá quy hoạch, phương án chia ruộng và thực hiện chia
ruộng tại thực địa.
a. Công khai hoá nội dung quy hoạch, phương án chia ruộng
Ban thực hiện dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp qua nội dung quy hoạch,
phương án chia ruộng để chi bộ họp bàn thống nhất và ra nghị quyết. Sau đó tiến
hành mở hội nghị xã viên để họp bàn thống nhất và ra nghị quyết thực hiện.
Niêm yết các bản đồ quy hoạch, phương án chia ruộng tại nơi công cộng
để toàn bộ nhân dân biết và tìm hiểu cụ thể.
Tăng cường các biện pháp tuyên truyền, vận động nhân dân đặc biệt là
vận động cá biệt các trường hợp chưa đồng ý với chủ trương dồn điền, đổi thửa đất
nông nghiệp.
b. Chia ruộng tại thực địa
12
Đo đạc diện tích đất của các hộ tự nguyện, tại vùng đất trũng (có gắp
phiếu tứ tự)
Số hộ còn lại, vùng còn lại tiến hành gắp phiếu tiếp theo.
Thời điểm chia ruộng thuận lợi nhất là sau khi gặt lúa vụ mùa xong và
+ Thôn có từ 200 đến 400 hộ
: Hỗ trợ 30 triệu đồng
13
Hỗ trợ 20 triệu đồng
+ Thôn có trên 400 hộ
: Hỗ trợ 40 triệu đồng
Kinh phí làm đường giao thông, kênh mương, cầu cống nội đồng Huyện
cho phép các thôn được đấu thầu hồ ao, đấu thầu quyền sử dụng đất ở có quy
hoạch để đầu tư xây dựng, Huyện chỉ thu tiền sử dụng đất theo quy định
1.3.7
Bước 7: tổ chức thực hiện đồn điền đổi thửa
1.3.7.1 Tổ chức triển khai
a. Ở Huyện
Uỷ ban nhân dân xây dựng kế hoạch thực hiện hoạt động dồn điền, đổi
thửa đất nông nghiệp giai đoạn 2007- 2010 trình ban thường vụ Huyên uỷ. Ban
chấp hành Huyện uỷ họp ra nghị quyết lãnh đạo thực hiện hoạt động dồn điền, đổi
thửa đất nông nghiệp Huyện Yên Phong.
Huyện uỷ thành lập ban chỉ đạo hoạt động dồn điền, đổi thửa đất nông
nghiệp.
a. Ở Xã
Trên cơ sở nghị quyết của ban chấp hành Huyện uỷ kế hoạch thực hiện
dồn điền đổi thửa của đơn vị mình.
+ Thôn có 400 hộ trở lên hỗ trợ 40 trđ
Kinh phí làm đường giao thông, kênh mương huyện cho phép các thôn
đấu giá quyền sử dụng đất . Huyện chỉ thu tiền sử dụng theo quy định.
1.3.8
1.3.8.1
Bước 8: kiểm soát hoạt động dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp
Chế độ thông tin báo cáo.
Các xã nghành báo cáo về ban chỉ đạo thực hiện dồn điền đổi thửa đất
nông nghiệp trên địa bàn huyện vào ngày 30 hàng tháng.
Hàng tháng, quý uỷ ban nhân dân huyện, ban thường vụ huyện uỷ nghe và
cho ý kiến chỉ đạo.
Mỗi năm sơ kết một lần vào cuối năm.
Hết năm 2010 tổng kết thực hiện kế hoạch.
Thực hiện thắng lợi hoạt động dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp sẽ mang
lại hiệu quả kinh tế xã hội to lơn, góp phần đưa năng suất, sản lượng, giá trị nông
nghiệp vững mạnh, làm thay đổi dần tập quá sản xuất, làm thay đổi dần tập quán
sản xuất lớn, sản xuất.
Tuy nhiên thực hiện hoạt động dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp là một
15
việc khó khăn đòi hỏi phải quyết tâm cao, hăng say nhiệt nhiệt tình, vô tư, khách
quan, dân chủ nhất là sự quyết tâm từ cơ sở và cán bộ được phân công thực hiện
nhiệm vụ này.
Huyện uỷ, hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân huyện quyết tâm thực hiện
thành công chủ trương kế hoạch dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp huyện Yên
Phong giai đoạn 2007-2010.
1.3.8.2
nghiệp vươn tới một nền sản xuất hàng hoá, đủ sức cạnh tranh là quá trình phấn lâu
dài bỏ dần tư tưởng tiểu nông, nhỏ lẻ. Trong quá trình ấy hoạt động dồn điền, đổi
thửa đất nông nghiệp là quan trọng, tạo ra “bước đệm” để sản xuất nông nghiệp
nâng cao giá trị, tạo ra những sản phẩm hàng hoá chất lượng, khai thác hết tiềm
năng của mỗi địa phương.
• Đánh gía tính công bằng của hoạt động dồn điền, đổi thửa đất nông
nghiệp.
Nguyên tắc của hoạt động dồn điền đổi thử đất nông nghiệp là phải đảm
bảo tính công bằng, công khai minh bạch. Tuy nhiên hệ quả của hoạt động dồn
điền, đổi thửa đất nông nghiệp là sự hình thành nên các nhóm lợi ích khác nhau về
ruộng đất và sự phát triển của thị trường đất nông nghiệp.
Lợi ích có thể thu được của bộ phận các hộ khá giả hoặc những hộ có “vị
trí” trong nông thôn, trong quá trình thực hiện hoạt động dồn điền, đổi thửa đất
nông nghiệp.
Có thể khẳng định rằng những hộ khá giả và những người quan trọng
trong nông thôn là những người thu được nhiều lợi ích hơn cả trong thực hiện dồn
điền, đổi thửa đất nông nghiệp. Sự gia tăng phân hoá ruộng đất giữa người giầu và
người nghèo kéo theo sự phân hoá về kinh tế.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DỒN ĐIỀN DẤT
NÔNG NGHIỆP HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH.
2.1
Một số nét khái quát về đặc điểm đât nông nghiệp huyện Yên Phong.
2.1.1
Qúa trình manh mún hoá đất canh tác nông nghiệp.
Đất bị nhiễm mặn
Đất canh tác của
các hộ bị manh
mún hoá
Kết hôn, tách hộ
Kinh tế
Kinh tế
Hộ nông dân A
Hộ
nông
dân
Hộ nông dân
giàu lên
phát triển
có nghề phụ, đi Sơ đồ 1: Quá trình
A chomanh
con mún hoá đất nông nghịêp
A bỏ dần
công nhân
thoát ly
nghề nông
2.1.2
Nhượng đất
ruộng
mở bộ phận dân cưtụnông
tế
trang
trại
rộng sản xuất
gần đây.
Nhượng
ruộng đất
Hộ C do
DĐĐT có
hiệu quả cao
Kinh tế
phát triển
Kinh tế
giàu lên
Hộ nông dân
C cho con
thoát ly
18
Sơ đồ 2 : Quá trình tích ruộng đất
Nhượng đất
ruộng
Hộ nông dân C
bỏ dần nghề
nông
quân 6,9 sào/1 hộ: một khẩu có 2 sào, nghề nghiệp chủ yếu là làm ruộng, ngoài ra
có một số nghề khác như : Nấu rượu ở Tam Đa, làm mì miến, bánh đa nem ở Yên
Phụ, cô đúc nhôm ở Văn Môn…
Thực hiện nghị quyết số 10- NQ/TW của bộ chính trị ngày 27/2/1992 và
nghị định số 64- NĐ/CP ngày 27/9/1999 của Chính phủ ban hành về việc giao đất
nông nghiệp cho nông dân sử dụng lâu dài với mục đích sản xuất nông nghiệp.
Chính điều này đã tạo lập cơ sở pháp lý để nông dân là đơn vị sản xuất nông
nghiệp tự chủ và nhờ đó tạo ra động lực nâng cao năng xuất, đảm bảo an ninh
lương thực cho tất cả người dân trên địa bàn Huyện.
Tuy nhiên, trong quá trình quản lý, sử dụng đất nông nghiệp tại Huyện
trong những năm gần đây, đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn hiện nay đã gặp phải nhiều khó khăn: ruộng đất sản xuất
nông nghiệp phân tán, manh mún, không đều, bình quân mỗi hộ 12 – 18 thửa/hộ,
cá biệt có 21 thửa/hộ. Do vậy không phát huy được tiềm năng của đất, lãng phí
nhân lực, chi phí sản xuất cao. Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn cũng
như công tác quy hoạch đầu tư cải tạo ruộng đất gặp rất nhiều khó khăn.
Từ thực tế trên 1998-1999 Huyện Uỷ - Uỷ ban nhân dân Huyện có chủ
trương cho phép nông dân thực hiện chuyển đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ thành ô
thửa lớn và làm điểm ở: hợp tác xã Trác Bút, đông mai, xong mới chỉ lấy tinh thần
tự giác, tự phát trong nhân dân nên hiệu quả đạt chưa cao, ruộng đất vẫn còn manh
mún… Đòi hỏi cấp trên có chủ trương chỉ đạo mạnh mẽ hoạt động dồn điền, đổi
thửa đất nông nghiệp. Đây là khâu đột phá cách mạng trong sản xuất nông nghiệp.
Uỷ ban nhân dân Huyện đã xây dựng kế hoạch số 264/KH- UB ngày
15/6/2007 và thông qua ban chấp hành Huyện Uỷ họp bàn và đã ra nghị quyết số
20
20/NQ- HU ngày 28/6/2007 dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp giai đoạn 20072010.
so với tổng chi phí thực hiện ở địa bàn đã dồn ghép ruộng cho nông dân từ 1- 4
21
thửa ruộng/hộ.
2.2. Thực trạng quản lý hoạt động dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp huyện
Yên Phong.
2.2.1. Thực trạng thực hiện hoạt động dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp huyện
Yên Phong.
Theo kế hoạch thực hiện nghị quyết năm 2007 dồn điền, đổi thửa đất nông
nghiệp tại một số xã; năm 2008 tiến hành theo quy mô toàn huyện và năm 2010
toàn huyện hoàn thành việc dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp.
2.2.1.1. Tất cả các thôn đã họp bàn và dược nhân dân đồng tìng ủng hộ cao: 8090% hộ gia đình nhất chí.
2.2.1.2. Xã điểm Thuỵ Hoà
Năm 2007 Uỷ ban Nhân dân xã Thuỵ Hoà đã tiến hành hoạt động dồn
điền, đổi thửa đất nông nghiệp được tại hai thôn Đông Tảo và Lạc Nhuế, thôn
Thiểm Xuyên, Bằng Lục phấn đấu thực hiện xong năm 2008.
Bước đầu đã thu được kết quả khả quan được cán bộ, Đảng viên và nhân
dân rất đồng tình ủng hộ, cụ thể như sau:
• Kết quả thực hiện tại thôn Đông Tảo
Tổng diện tích tự nhiên 80.45 ha, trong đó đất canh tác trồng trọt là 52 ha,
đất nuôi thuỷ sản là 2,42 ha…
Kết quả là giảm từ 18 ô xuống 3 ô/1 hộ, ô to nhất là 6 sào, ô nhỏ nhất là 2
sào.
Đã có 10 hộ nhận cánh đồng tự nguyện 15 mẫu, có 4 hộ nhận diện tích đấu
thầu của hợp tác xã là 7 mẫu đất trũng cấy lúa kết hợp với thả cá, phát triển VAC
Về quy hoạch đồng ruộng: Toàn thôn 21 tuyến đường rộng 3,5 đến 4m,
xây dựng một trạm bơm và 500m mương cứng, toàn bộ hệ thống cầu cống xây
dựng hoàn chỉnh theo thiết kế. Diện tích đất để làm thuỷ lợi là 10 mẫu (3,6 ha)
2.3 . Quản lý hoạt động dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp huyện Yên
Phong
2.2.2
Cơ cấu tổ chức.
a. Ở huyện
Ban chấp hành huyện uỷ ra nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện dồn
23
điền, đổi thửa đất nông nghiệp trên địa bàn Huyện.
Thành lập ban chỉ đạo dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp của Huyện do
đồng chí bí thư Huyện Uỷ hoặc phó bí thư Huyện uỷ làm trưởng ban; đồng chí chủ
tịch phụ trách khối kinh tế làm phó ban, các thành viên là các cơ quan: Kinh tế, tài
nguyên và môi trường văn hoá thông tin; đài truyền thanh; hạ tầng kinh tế, tài
chính kế hoạch, chi cục thuế, mặt trận tổ quốc, hội đồng nhân dân.
b. Ở xã
Họp ban chấp hành mở rộng ra nghị quyết chỉ đạo thực hiện dồn điền, đổi
thửa đất nông nghiệp.
Hội đồng nhân dân đã ra nghị quyết thực hiện.
Thành lập ban chỉ đạo dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp do đồng chí bí
thư Đảng uỷ làm trưởng ban, chủ tịch uỷ ban nhân dân làm phó ban. Các thành
viên gồm các ban ngành, đoàn thể của xã, bí thư chi bộ và trưởng thôn.
c. Ở thôn
Các thôn thành lập dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp do đồng chí bí thư
chi bộ làm trưởng ban, đồng chí trưởng thôn làm phó ban, chủ nhiệm hợp tác xã
làm phó ban, các thành viên là các ban ngành đoàn thể.
Đại hội xã viên họp nghị quyết hoặc tổ chức phát phiếu thăm dò đến các
hộ xã viên để tổng hợp ý kiên thống nhất thực hiện chủ trương dồn điền, đổi thửa
đất nông nghiệp.
- Đại đa số dân dân đồng tình cao trong công tác dồn điền, đổi thửa đất
nông nghiệp.
- Cán bộ chỉ đạo từ ban chỉ đạo Huyện đến xã, thôn có tinh thần trách
nhiệm, có năng lực lãnh đạo quản lý nên đã tổ chức điều hành hiệu quả hoạt động
dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp.
- Quy chế dân chủ và qưyền tham gia của người dân phát huy triệt để, tích
cực.
- Đồng ruộng được quy hoạch thành vùng, ô thửa lớn, giao thông tưới tiêu
thuận lợi giúp bà con nông dân yên tâm phấn khởi sản xuất, hạ giá thành, tăng thu
nhập .
- Mở ra một không gian tư duy mới, một luồng sinh khí mới cho nông dân
trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn .
25