LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Một số giải pháp quản lý Nhà
Nước nhằm hạn chế những rủi ro trong
hoạt động của các dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài FDI vào Việt Nam trong thời kỳ
hôi nhập kinh tế quốc tế.” Chuyên đề tốt nghiệp 1 Mục Lục
Phần mở đầu. 1
LỜI CAM ĐOAN 4
án FDI tại Việt Nam. 49
1. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật liên quan đến đầu
tư trực tiếp nước ngoài 50
2 Hướng dẫn hỗ trợ nhà đầu tư thực hiện các dự án đầu tư, giải quyết các
vướng mắc, yêu cầu của các nhà đầu tư Error! Bookmark not defined.
3 Thủ tục hành chính:Cấp và thu hồi giấy phép đầu tư 54
4 Tổ chức hoạt động đào tạo nguồn nhân lực liên quan đến hoạt động đầu
tư 55
5 Hoạt động xúc tiến thương mại 56
Chương III: Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động
của các dự án FDI tại Việt Nam 57
I. Một số giải pháp 57
1. Các giải pháp chung. 57
2. Các giải pháp tác động trực tiếp đến các dự án FDI. 63
II- Một số kiến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước. 65
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. 65
2. Bộ Tài chính 66
3. Bộ Công nghiệp: 67
4. Với các bộ khác. 68
Phần kết luận. 73
Danh mục tài liệu tham khảo 74 Chuyên đề tốt nghiệp 1
Phần mở đầu.
I. Đặt vấn đề
“ Quốc tế hoá đời sống kinh tế là xu hướng khách quan, là sự phát triển
2
với những thay đổi trong quá trình hội nhập kinh tế đã nhận được sự ủng hộ
của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Trong những năm gần đây, tỷ lệ FDI đầu tư vào Việt Nam có xu hướng
tăng cao và đóng góp lớn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận
khách quan về hoạt động của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài không
phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả, các rủi ro xảy ra từ các nguyên nhân chủ
quan và cả nguyên nhân khách quan gây nên sự cản trở
cho các dự án FDI hoạt động và phát triển.
Theo những cách nhìn nhận khác nhau thì rủi ro là những sự kiện không
may và bất ngờ xảy ra gây nên những thiệt hại đến lợi ích của con người, nó
luôn tồn tại song song với cuộc sống và trong mọi hoạt động của con người,
hoạt động đầu tư vào các dự án cũng không phải là ngoại lệ. Theo đó thì việc
quản lý các rủi ro có thể xảy ra cho các dự án FDI là cần thiết để giảm thiểu
các thiệt hại do nó mang lại.
II. Mục đích nghiên cứu.
Nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp quản lý Nhà Nước nhằm hạn chế
những rủi ro trong hoạt động của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI vào Việt Nam trong thời kỳ hôi nhập kinh tế quốc tế” với đối tượng là
những rủi ro của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Xuất
phát từ những dự án bị rút giấy phép đầu tư hoặc đang hoạt động trong tình
trạng thua lỗ. Từ đó đưa ra đánh giá về các nguyên nhân gây nên rủi ro của
các dự án.
Mục đích của việc nghiên cứu dự án này nhằm phát hiện ra những rủi ro
cơ bản mà các dự án FDI ở Việt Nam thường mắc phải, các nguyên nhân cơ
bản làm nảy sinh các rủi ro này và từ đó đưa ra một số giải pháp quản lý Nhà
Nước để hạn chế những rủi ro trong các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Việt Nam, tạo lòng tin cho các nhà đầu tư nước ngoài khi đưa ra quyết định
Chuyên đề tốt nghiệp
4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Một Số Giải Pháp Quản Lý Của Nhà Nước
Nhằm Hạn Chế Những Rủi Ro Trong Hoạt Động Của Các Dự án Đầu Tư
Trực Tiếp Nước Ngoài ( FDI ) Vào Việt Nam Trong Thời kỳ Hội Nhập Kinh
Tế Quốc Tế” là do chính tôi viết. Tất cả những trích dẫn nguyên văn và không
nguyên văn đều đầy đủ và chính xác về nguồn gốc. Các số liệu, kết quả trong
chuyên đề này là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế tại Bộ Kế hoạch &
Đầu tư. Hà Nội, ngày….tháng….năm 2008
Người cam đoan. Hồ Thị Phương
Chuyên đề tốt nghiệp
2
Banlance of payments, fifth edition, Washington, DC IMF 1993, page 235
3
Xem: World Investment Report 1996, United Nations, 1996, page 219.
Chuyên đề tốt nghiệp 6
tư trực tiếp nước ngoài đươc sửa đổi bổ sung năm 2000: “ đầu tư trực tiếp
nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền
hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của
Luật này”
4
.
1.2. Dự án FDI
Dự án đầu tư về nội dung là tổng thể các hoạt động dự kiến với các
nguồn lực và chi phí cần thiết được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch
sử thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối
tượng nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu kinh tế- xã hội nhất định.
Theo sự đa dạng của các khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài thì
cũng có những các hiểu khác nhau về dự án FDI . Trong khuôn khổ của đề tài
nghiên cứu thì có thể hiểu, dự án FDI là những dự án đầu tư do các nhà đầu
tư nước ngài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến
hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài.
2. Các đặc trưng cơ bản
Để hiểu rõ hơn về các dự án FDI để nhìn nhận một cách khách quan về
các vấn đề còn tồn tại, cần nắm được những đặc trưng cơ bản của các dự án
này.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng là một hình thức đầu tư nên các dự án
3. Vai trò của FDI đối với nền kinh tế
3.1. Những ảnh hưởng tích cực đối với tăng trưởng kinh tế
5
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng
kinh tế,giúp cho nước tiếp nhận đầu tư huy động mọi nguồn lực sản xuất.
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh
tế.Có thể coi đó là một nhân tố hay cú huých lớn để phá vỡ vòng luẩn quẩn
của sự đói nghèo.
5
Xem: Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế ở Việt Nam, Nguyễn Văn Tuấn,
Nhà xuất bản Tư Pháp, năm 2005, tr181-219
Chuyên đề tốt nghiệp 8
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một kênh chuyển giao công nghệ làm
khoảng cách công nghệ giữa nước đầu tư và nước nhận đầu tư bị thu hẹp.Bên
cạnh đó tạo phản ứng tích cực phổ biến công nghệ và hoạt động phát minh
công nghệ.
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần nâng cao chất lượng lao
động,phát triển nguồn nhân lực.Hoạt động của các dự án FDI giúp trực tiếp
đào tạo lao động và gián tiếp nâng cao chất lượng lao động của nước tiếp
nhận đầu tư.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần trong việc giải quyết các vấn đề
kinh tế- xã hội,góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu
tư.Bên cạnh đó, còn giúp thúc đẩy xuất khẩu, xây dựng năng lực xuất khẩu và
mở rộng thị truờng xuất khẩu.
gây những thiệt hại cho lợi ích con người, tài sản, nguồn lợi và trách nhiệm.
6
1.2. Một số tính chất.
Rủi ro là một trạng thái tiềm ẩn gây nên những mối nguy hiểm với các
mức độ khác nhau gây tổn thất cho con người nhưng lại rất khó để có thể đo
lường trước nó. Từ những khái niệm khác nhau về rủi ro, có thể thấy rủi ro có
những tính chất cơ bản sau:
- Tính bất ngờ: rủi ro bao gồm những sự kiện mà con người không thể đo
lường nó một cách đầy đủ và chắc chắn.Tất cả các rủi ro đều bất ngờ với
những mức độ khác nhau dẫn đến việc con người có thể nhận diện rủi ro hay
không. Trong trường hợp con người không thể đoán trước được rủi ro và
không nhận dạng được thì nó sẽ xảy ra hoàn toàn bất ngờ với con người.
Cũng có những rủi ro mà con người nhận dạng được nhưng không thể đo
lường một cách chính xác những thiệt hại mà nó có thể mang lại.Tuy nhiên,
6
Một số giải pháp ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong triển khai thực hiện các dự án FDI
tại Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và dự báo, Hà Nội 2001, Số 12, tr7-9
Chuyên đề tốt nghiệp 10
nếu con người có thể nhận dạng và tính được chính xác các rủi ro có thể đến
với mình thì rủi ro sẽ không còn nữa mà nó trở thành những sự kiện bất lợi
mà con người không mong muốn xảy ra như thiên tai, thời tiết,
- Tính chất ngoài mong đợi: trong cuộc sống, con người ai cũng mong
muốn nhận được lợi ích cũng như những điều tốt đẹp may mắn trong mọi lĩnh
vực và hoạt động của cuộc sống.Tuy nhiên trong cuộc sống không phải lúc
nào cũng được như vậy. Những điều, những sự kiện không may mắn, gây tổn
Rủi ro thuần tuý thường đưa đến kết quả mất mát và tổn thất khi xảy ra.
Như rủi ro hoả hoạn,cháy nổ sẽ dẫn đến việc mất mát một số tài sản nhưng
nếu không xảy ra thì sẽ không gây thiệt hại gì.
Rủi ro thuần tuý liên quan đến việc phá huỷ tài sản,động đất gây phá huỷ
các toà nhà.
Theo đó,rủi ro này có nguyên nhận từ những đe doạ, nguy hiểm rình rập,
và vì vậy nên biện pháp để đối phó với nó chính là hình thức bảo hiểm.
- Rủi ro suy tính: đây là loại rủi ro xảy ra do ảnh hưởng của các nguyên
nhân khó có thể dự đoán và có phạm vi ảnh hưởng rất rộng lớn.
Rủi ro suy tính thường xảy ra trong thực tế như: rủi ro tình hình bất ổn
về chính trị, giá cả hay mức thuế xuất đối với đối tượng được đầu tư.
Đặc điểm cơ bản thường không được bảo hiểm nhưng lại có khả năng
đối phó bằng biện pháp rào chắn.
2.2. Theo khả năng dự đoán
- Rủi ro có thể tính được: loại rủi ro có tần số xuất hiện có thể đoán được ở
mức chính xác và độ tin cậy cao.
- Rủi ro không thể tính được: tần số xuất hiện của loại rủi ro này quá bất
thường và khó để có thể dự đoán.
2.3. Theo khả năng bảo hiểm rủi ro
- Rủi ro không thể bảo hiểm: gồm có rủi ro cờ bạc và suy tính.Các rủi ro
này không tồn tại trước đó trong khi bảo hiểm có tác dụng làm giảm rủi ro.
- Rủi ro có thể bảo hiểm được: những rủi ro nếu xảy ra có thể dẫn đến các
thiệt hại. Nó có khả năng gây thiệt hại của một tập hợp đơn vị tương tự nhau,
thiệt hại có tính ngẫu nhiên không phải do tự tạo ra hay do hiện tượng hao
mòn vật chất tự nhiên gây ra.Các thiệt hại này phải được định dạng, có thể đo
Chuyên đề tốt nghiệp 12
lường và đủ để tạo ra những khó khăn về kinh tế và có xác xuất thiệt hại thảm
về thông tin giữa các bên,…
Cụ thể của các nguyên nhân gây nên rủi ro này sẽ được nói rõ ràng hơn
khi tìm hiểu về một số rủi ro trong các hoạt động của dự án FDI ở mục tiếp
theo.
3. Một số rủi ro trong các hoạt động của dự án FDI
3.1. Rủi ro về chính trị.
Là sự thay đổi bất thường của các thể chế chính trị, chiếm đoạt, quốc
hữu hoá, sự phận biệt đối xử của chính quyền địa phương, Ngoài ra, còn lại
là những tác động của chiến tranh,bạo lực, của các thế lực thế giới.
Rủi ro về chính trị bao hàm những hành động của chính phủ từ quốc hữu
hoá tài sản đến sự thay đổi trong hệ thống thuế làm giới hạn cơ hội kinh
doanh của các nhà đầu tư và thường gây hậu quả nặng nề cho doanh nghiệp.
3.2. Rủi ro về kinh tế.
Thông thường do các nhân tố vĩ mô gây ra bất lợi cho doanh nghiệp.Bao
gồm những yếu tố như lạm phát, suy thoái kinh tế, khă năng thanh toán, dự
trữ ngoại tệ,
3.3. Rủi ro về pháp lý.
Rủi ro về pháp lý có nguồn gốc từ sự thay đổi về luật pháp, sự mập mờ,
chồng chéo và không thống nhất của các văn bản pháp quy; sự thiếu thông tin
phổ biến pháp luật, thiếu chặt chẽ trong các hợp đồng kinh tế,
Loại rủi ro này thường xuất hiện nhiều ở những nước chuyển đổi,những
nước mà nền kinh tế đang trong quá trình từng bước hội nhập,đặc biệt là đối
với Việt Nam. Hậu quả rủi ro pháp lý là những tranh chấp, kiện tụng giữa các
doanh nghiệp, tịch thu hàng hoá của chính quyền, Chuyên đề tốt nghiệp 14
các thành viên tổ chức, cũng là những yếu tố tác động mạnh mẽ đến quá
trình vận hành các doanh nghiệp.
Có rất nhiều những nguyên nhân khác nhau do nhiều chủ thể mang lại
những rủi ro và gây thiệt hại cho các dự án.Với mỗi nguyên nhân khác nhau
cần đưa ra phương pháp quản lý phù hợp nhằm hạn chế tối đa những thiệt hại
có thể có. Dưới đây là một số phương pháp quản lý rủi ro đã được biết đến và
sử dụng trong các hoạt động của dự án
III. Quản lý rủi ro.
1. Phương pháp mà các nhà đầu tư lựa chọn để quản lý rủi ro
Mỗi chủ thể tham gia vào hoạt động FDI đều có những phương thức
quản lý khác nhau cho mỗi dự án trong tững giai đoạn .Dưới đây là một số
phương pháp quản lý rủi ro mà các nhà đầu tư lực chọn để quản lý rủi ro trong
các dự án FDI
8
.
1.1. Né tránh rủi ro.
Phương pháp đầu tiên được nhắc đến trong các phương pháp quản lý rủi
ro là né tránh rủi ro. Theo đó với phương pháp này, nhà đầu tư không chấp
nhận các dự án có độ rủi ro quá lớn, loại bỏ khả năng gậy thiệt hại của dự án.
Trường hợp áp dụng: khi khả năng bị thiệt hại cao với mức độ lớn, gây tổn
hại quá cao đối với nhà đầu tư.
Phuơng pháp này có thể được sử dụng ngay trong giai đoạn đầu của dự án
đầu tư, khi đánh giá mức độ rủi ro quá cao thì loại bỏ ngay trong đầu chu kỳ
của dự án .
Tuy nhiên vẫn có những rủi ro không thể né tránh được,khi đó chỉ có thể
làm giảm thiệt hại của rủi ro chứ không thể loại trừ khả năng xảy ra.
8
Xem: Khoa đầu tư, ĐH KTQD: Giáo trình quản lý dự án đầu tư, Võ Kim Sơn, Bùi Thế
Vĩnh, Trần Thế Nhuận, Nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội 1996, tr 278-282
1.4. Ngăn ngừa thiệt hại.
Chuyên đề tốt nghiệp 17
Ngăn ngừa thiệt hại là phương pháp bao gồm những hoạt động nhằm giảm
tính thường xuyên của thiệt hại khi nó xuất hiện.
Để có thể thực hiện các hoạt động này đòi hỏi phải xác định đúng các
nguyên nhân gây nên chúng. ó có thể xuất phát từ các nhân tố của môi trường
đầu tư hoặc ngay từ những vấn đề bên trong của dự án.
Biện pháp mà các nhà đầu tư có thể áp dụng là phát triển các hệ thống an
toàn, đào tạo lại đội ngũ lao động hay thuê người bảo vệ…
1.5. Giảm bớt thiệt hại.
Chủ đầu tư và các bộ quản lý dự án sử dụng các biện pháp đo lường,phân
tích và đánh giálại các rủi ro một cách liên tục và xây dựng các kế hoạch cụ
thể để làm giảm mức độ thiệt hại khi nó xảy ra.
1.6. Chuyển dịch rủi ro.
Chuyển dịch rủi ro là biện pháp trong đó các bên liên kết với nhau để
cùng chịu rủi ro.
Nó giống với biện pháp bảo hiểm ở điểm là có sự chuyển dịch từ cá nhân
sang nhóm sự bất định của các rủi ro có thể xảy ra hay nói cách khác là cùng
có sự liên kết của nhiểu chủ thể nhằm quản lý rủi ro. Tuy nhiên, chuyển dịch
rủi ro chỉ là một bộ phận của bảo hiểm vì ngoài chuyển dịch rủi ro thì bảo
hiểm rủi ro còn giúp dự đoán thiệt hại bằng quy luật số lớn trước khi nó xuất
hiện, nhờ đó mà giảm được thiệt hại do rủi ro mang lại.
1.7. Bảo hiểm.
Với các quan điểm khác nhau thì bảo hiểm được hiểu khác nhau.Theo
quan điểm của các nhà quản lý bảo hiểm thì bảo hiểm là sự chuyển dịch rủi ro
theo hợp đồng. Còn theo quan điểm xã hội thì nó không chỉ là sự chuyển dịch
mà còn giúp giảm rủi ro vì nhóm người có những rủi ro tương tự tự nguyên
hiện một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn
hoá, xã hội và chính trị nước ta.
9
Vũ Chí Lộc: Giáo trình đầu tư nước ngoài, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1997, tr 85-86.
Chuyên đề tốt nghiệp 19
Đây là hoạt động mang tính chủ động, sáng tạo theo từng đối tượng
chủ thể, địa điểm từ đó dưa ra các biện pháp cụ thể.
2.3. Các hoạt động cơ bản.
Theo luật Đầu tư
10
(2006), hoạt động quản lý của Nhà Nước đối với FDI
bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và
các chính sách đầu tư phát triển.
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật có liên quan đến
đầu tư.
- Hướng dẫn hỗ trợ nhà đầu tư thực hiện các dự án đầu tư, giải quyết
những vướng mắc, yêu cầu của các nhà đầu tư.
- Cấp và thu hồi giấy chứng nhận đầu tư.
- Hướng dẫn, đánh giá hiệu quả đầu tư, kiểm tra, thanh tra và giám sát hoạt
động đầu tư, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm trong
hoạt động đầu tư.
- Tổ chức hoạt động đào tạo nguồn nhân lực liên quan đến hoạt động đầu
tư.
- Tổ chức hoạt động xúc tiến đầu tư.
2.4. Các phương pháp quản lý Nhà Nước.
pháp lý ổn định, an toàn và phù hợp cho các đối tượng, tạo niểm tin cho người
dân. Bên cạnh đó là việc cụ thể hoá khung pháp luật và các kế hoạch thị
trường thông quan các công cụ khác nhau trong xét duyệt, kiểm định chất
lượng, giấy phép kinh doanh, Phương pháp này có hiệu lực nhanh, ngay
khi ban hành tuy nhiên lại có một nhược điểm rất lớn là có thể phát sinh hiện
tượng lạm dụng hành chính và phụ thuộc quá nhiều vào đội ngũ cán bộ hành
chính trong bộ máy Nhà Nước.
Thứ hai, phương pháp hành chính phải gắn chặt quyền hạn và trách nhiệm
của cấp ra quyết định. Điều này có vai trò quan trọng trong quản lý kinh tế nói
11
Đỗ Hoàng Toàn, Mai Văn Bưu: Giáo trình quản lý Nhà Nước về kinh tế, ĐH KTQD,
Nhà xuất bản Lao động xã hội, Hà Nội 2005, tr 138.
Chuyên đề tốt nghiệp 21
chung và quản lý FDI noi riêng, phân định rõ ràng quyền hạn trách nhiệm của
các cấp quản lý.
2.4.2. Phương pháp kinh tế.
Đây là một trong những phương pháp hữu hiệu mà Nhà Nước sử dụng
tác động một cách gián tiếp dựa trên những lợi ích kinh tế. Với phương pháp
này, Nhà Nước hạn chế sự bắt buộc, cưỡng chế lên các đối tượng và chủ yếu
mang tính hướng dẫn nhằm làm cho các đối tượng quản lý quan tâm tới hiệu
quả cuối cùng của các hoạt động, chủ động hoàn thành tốt các nhiệm vụ được
giao.
Hướng vào lợi ích cuả các đối tượng, đưa ra các điều kiện khuyến khích
kinh tế và những phương tiện vật chất, phương pháp kinh tế được áp dụng tác
động nhạy bén, linh hoạt và phát huy được tính chủ độnh sáng tạo cuat người
lao động cũng như của các tổ chức.