_______________________________________________________________
1
Luận văn
Một số giải pháp quản lý rủi ro
tín dụng ở Ngân hàng thương
mại và cổ phần nhà Hà Nội
HABUBANK
_______________________________________________________________
2
Lời mở đầu
Trong thời gian gần đây, bên cạnh những kết quả đã đạt được, nền kinh tế
thị trường cũng đã xuất hiện những mặt trái của nó: sự cạnh tranh gay gắt khiến
cho một số doanh nghiệp phá sản, tình trạng làm ăn mang tính chất lừa đảo
nhằm kiếm lợi bất chính của một số đối tượng làm cho nền kinh tế thị trường
thêm phức tạp. Trong bối cảnh đó, hoạt động của Ngân hàng cũng khó tránh
khỏi sự tác động của nền kinh tế thị trường.
Dịch vụ tiền tệ, tín dụng ngân hàng có tính chất đặc thù khác với những
hàng hoá, dịch vụ thông thường. Ngân hàng dễ trở thành nạn nhân khi các
doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng chịu sự
tác động của nhiều yếu tố khiến cho rủi ro dễ xảy ra, trong đó rủi ro tín dụng là
dễ xảy ra nhất. Khi xảy ra rủi ro tín dụng, Ngân hàng sẽ phải chịu thiệt hại mất
mát lớn. Làm thế nào để hạn chế tối đa rủi ro tín dụng là một bài toán nan giải
do tín dụng là nghiệp vụ hàng đầu có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và
phát triển của Ngân hàng.
1. Rủi ro tín dụng
_______________________________________________________________
4
1.1. Khái niệm rủi ro tín dụng và phân loại rủi ro tín dụng
1.1.1. Khái niệm rủi ro tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường, một trong những chức năng kinh tế cơ bản
của Ngân hàng là cung cấp tín dụng. Đối với đa số các ngân hàng, thu nhập từ
tín dụng chiếm khoảng ½ đến 2/3 tổng thu nhập của ngân hàng và dư nợ tín
dụng thường chiếm tới ½ tổng tài sản có. Thêm vào đó, trong kinh doanh ngân
hàng, rủi ro thường có xu hướng tập trung vào danh mục tín dụng. Khi ngân
hàng rơi vào tình trạng khó khăn tài chính nghiêm trọng, nguyên nhân chủ yếu
phát sinh từ hoạt động tín dụng của ngân hàng. Từ việc ngân hàng buông lỏng
quản lý, không minh bạch trong việc cấp tín dụng, thi hành một chính sách tín
dụng kém hiệu quả, hay do sự đi xuống không lường trước được của nền kinh tế
có thể dẫn đến rủi ro tín dụng và ngân hàng không thu hồi được vốn. Chính vì
lý do này, mỗi khi cán bộ thanh tra đến ngân hàng, họ luôn kiểm tra chi tiết
danh mục tín dụng của ngân hàng, trong đó bao gồm: phân tích toàn bộ các hồ
sơ tín dụng và hồ sơ bảo đảm tín dụng đối với các khoản tín dụng lớn, kiểm tra
ngẫu nhiên đối với các khoản tín dụng vừa và nhỏ, trên cơ sở đó sẽ đưa ra đánh
giá chính sách tín dụng của ngân hàng nhằm bảo đảm sự lành mạnh và hiệu
quả, qua đó bảo vệ những người gửi tiền và cổ đông của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh khi một hoặc các bên tham gia vào
hợp đồng tín dụng không có khả năng thanh toán cho các bên còn lại. Đối với
ngân hàng thương mại, rủi ro tín dụng xảy ra trong trường hợp ngân hàng
không thu hồi được toàn bộ cả gốc và lãi của các khoản cho vay, hoặc là việc
thanh toán nợ gốc và lãi vay không đúng thời hạn đã quy định. Nếu như tất cả
các khoản cho vay của ngân hàng đều được thanh toán đầy đủ và kịp thời hạn
cả gốc và lãi thì rủi ro tín dụng sẽ không xảy ra. Ngược lãi, nếu khách hàng vay
_______________________________________________________________
hưởng đến thời gian giao hàng, khách hàng không có tiền trả nợ ngân hàng
đúng thời hạn.
- Phân loại rủi ro tín dụng theo thời gian của khoản vay:
+ Rủi ro tín dụng xảy ra đối với các khoản vay ngắn hạn: là loại rủi ro tín
dụng đối với các khoản tín dụng có thời gian từ 12 tháng trở xuống.
+ Rủi ro tín dụng xảy ra đối với các khoản vay trung và dài hạn: là loại rủi ro tín
dụng đối với các khoản tín dụng có thời gian trên 12 tháng. Thông thường mức
độ rủi ro tín dụng của các khoản vay ngắn hạn thường thấp hơn rủi ro tín dụng
của các khoản cho vay trung và dài hạn. Do đó, cho dù lãi suất cho vay của các
khoản vay trung và dài hạn này thường hấp dẫn hơn nhưng các Ngân hàng
thương mại ở Việt Nam vẫn hạn chế việc mở rộng hoạt động tín dụng đối với
loại cho vay này.
- Phân loại rủi ro tín dụng theo nguyên nhân gây ra rủi ro:
+ Rủi ro tín dụng có nguyên nhân từ phía khách hàng.
+ Rủi ro tín dụng có nguyên nhân từ phía Ngân hàng.
+ Rủi ro tín dụng phát sinh từ các nguyên nhân khác.
- Phân loại rủi ro tín dụng theo khách hàng vay:
+ Rủi ro tín dụng đối với khoản vay của các doanh nghiệp nhà nước.
+ Rủi ro tín dụng đối với khoản vay của các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh.
1.2. Nguyên nhân dẫn tới rủi ro tín dụng
1.2.1. Nguyên nhân chung
Là những nguyên nhân do môi trường bên ngoài tác động, không xuất
phát từ ngân hàng hay khách hàng trong cuộc sống hàng ngày. Cụ thể đó là:
_______________________________________________________________
7
- Những nguyên nhân mang tính bất khả kháng: là những rủi ro mà bản
thân khách hàng và ngân hàng không thể lường trước được.
- Do cơ chế, chính sách kinh tế của Nhà nước thay đổi bất thường. Chức
1.2.3. Nguyên nhân từ chính bản thân ngân hàng
Quá trình hoạt động của Ngân hàng còn nhiều khâu chưa hợp lý, đặc biệt
là quá trình quản lý thực hiện tín dụng, cơ chế chính sách tín dụng còn nhiều sơ
hở để khách hàng có thể lợi dụng để chiếm đoạt vốn của Ngân hàng. Cụ thể là:
- Do không phân tích về khách hàng đầy đủ và chính xác trước khi cho
vay, trong quá trình cho vay không kiểm tra và giám sát chặt chẽ việc sử dụng
tiền vay, không thẩm định kỹ càng dự án của khách hàng.
- Do ngân hàng không thu thập đầy đủ thông tin chính xác về khách hàng
trước khi cho vay.
- Do sự bất cập trong trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân viên cũng
như công nghệ Ngân hàng.
- Do sự cạnh tranh gay gắt trong hệ thống Ngân hàng đã dẫn đến việc các
Ngân hàng đơn giản hoá các thủ tục trong thẩm định tín dụng cho vay dể lôi
kéo khách hàng.
- Do ngân hàng thực hiện không tốt thậm chí không thực hiện các bảo
đảm tín dụng như: cầm cố bảo lãnh, thế chấp và trong các nghiệp vụ tạp nên
nguồn thu dự phòng của Ngân hàng. Vì những lý do trên mà rủi ro tín dụng
luôn có thể xảy ra đối với các Ngân hàng.
1.3. Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng
_______________________________________________________________
9
Hoạt động sản xuất kinh doanh của người đi vay luôn chịu sự ảnh hưởng
từ sự biến động của thị trường, khi thị trường vân động theo tính thiếu sự ổn
định tương đối thì nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng càng lớn. Vì thế, nếu như việc
quyết định cho vay chủ yếu dựa trên cơ sở những dự báo về biến động cảu thị
trường thì sau khi cho vay cũng cần thiết phải tiếp tục xem xét, giám sát người
vay đã sử dụng số tiền vay như thế nào, và đặc biệt quan trọng là họ đã xử sự
như thế nào trước những biến động của thị trường. Hơn thế nữa, những tài sản
dụng ở những góc cạnh khác nhau. Phân loại nợ quá hạn có ý nghĩa hết sức
quan trọng trong việc đánh giá mức độ rủi ro tín dụng và trong việc đề ra các
biện pháp xử lý thu hồi nợ.
1.3.2. Lãi quá hạn
Đó là số tiền lãi mà khách hàng không trả được khi đến thời hạn thanh
toán lãi cho Ngân hàng. Khoản lãi thanh toán không gắn với việc trả gốc và có
giá trị không lớn, được trả vào ngày xác định được ghi trên hợp đồng tín dụng,
khi doanh nghiệp không trả được khoản lãi tiền vay thể hiện doanh nghiệp đang
gặp khó khăn đặc biệt về tài chính. Nếu điều đó xảy ra thì doanh nghiệp phải
điều tra rõ, từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục để hạn chế những thiệt hại
cho Ngân hàng cũng như cho doanh nghiệp.
1.3.3. Những dấu hiệu khác
Ngoài những dấu hiệu quan trọng đã nêu ở trên, rủi ro tín dụng còn có thể
nhận biết qua:
- Người đi vay cố tình không nộp hoặc trì hoãn việc nộp các báo cáo tài
chính cho Ngân hàng.
- Khi cán bộ tín dụng yêu cầu khảo sát tình hình sử dụng vốn, người đi
vay cố tình trì hoãn trong việc sắp xếp các cuộc viếng thăm cơ sở sản xuất của
_______________________________________________________________
11
mình, có những biểu hiện thiếu thiện chí trong mối quan hệ hợp tác với Ngân
hàng.
- Sử dụng vốn không đúng mục đích.
- Trong hoạt động sản xuất kinh doanh có sự tăng lên bất thường các
khoản phải thu hoặc hàng tồn kho.
- Người đi vay xin hoãn trả nợ hoặc khất nợ.
- Có biểu hiện không lành mạnh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
Ngân hàng trên thị trường tài chính, làm ảnh hưởng đến thu nhập của Ngân
hàng, giảm khả năng thanh toán của Ngân hàng và gây ra nguy cơ mất vốn kinh
doanh, dẫn đến phá sản Ngân hàng. Hoạt động tín dụng là hoạt động thường
xuyên và cơ bản nhất của Ngân hàng thương mại, phần lớn thu nhập của Ngân
hàng xuất phát từ hoạt động tín dụng.
Do đó, thu nhập của Ngân hàng sẽ trực tiếp bị ảnh hưởng khi rủi ro tín
dụng xảy ra dù ở bất kỳ mức độ nào. Rủi ro tín dụng không chỉ làm giảm thu
nhập của Ngân hàng từ hoạt động tín dụng, mà còn có ảnh hưởng lớn làm giảm
thu nhập từ các hoạt động kinh doanh khác của Ngân hàng. Khi hoạt động tín
dụng phát triển, chất lượng tín dụng được cải thiện thì sẽ có tác dụng thúc đẩy
các hoạt động khác phát triển. Ngược lại, nếu như hoạt động tín dụng có chất
lượng không cao sẽ không thể thúc đẩy mà thậm chí còn làm cản trở các hoạt
động khác, kết quả là thu nhập của Ngân hàng sẽ giảm sút.
Trong nền kinh tế, tín dụng Ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong
việc điều hoà vốn và sự thành công của chính sách tiền tệ quốc gia. Rủi ro tín
dụng xảy ra sẽ làm Ngân hàng chậm hoặc không có khả năng thu hồi vốn để
tiếp tục cho vay, qua đó làm giảm khả năng cung cấp vốn cho nền kinh tế.
_______________________________________________________________
13
Hoạt động Ngân hàng thể hiện tính xã hội hoá cao, khi một Ngân hàng rơi vào
tìng trạng đổ vỡ sẽ gây ảnh hưởng xấu đến các Ngân hàng khác. Hoạt động tín
dụng của Ngân hàng dựa trên cơ sở huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và
sử dụng vốn đó để cung cấp cho những người thiếu vốn. Rủi ro tín dụng xảy ra
gây ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh toán của Ngân hàng, tình trạng này nếu
kéo dài sẽ làm mất lòng tin của người gửi tiền. Các Ngân hàng lâm vào tìng
trạng khó khăn, gây ra sự mất ổn định của hệ thống Ngân hàng nói riêng và mất
ổn định của toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia nói chung, ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sự phát triển của nền kinh tế.
mang tính chất lừa đảo dưới nhiều hình thức tinh vi nhằm thu được lợi nhuận
bất chính của một số đối tượng làm cho bộ mặt thị trường ngày càng phức tạp
hơn. Trong bối cảnh đó, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng cũng chịu sự tác
động bởi những mặt trái của thị trường.
Có thể nói, kinh doanh dịch vụ tín dụng Ngân hàng có tính chất đặc thù
khác với các hàng hoá thông thường. Ngân hàng có khả năng trở thành nạn
nhân của các vụ lừa đảo mất khả năng trả nợ, dẫn đến rủi ro tín dụng. Cũng như
trong phần định nghĩa đã đề cập thì rủi ro không phải bây giờ mới có và cũng
không phải mãi đến nay mới được đề cập. Tuy nhiên, làm thế nào để hạn chế
một cách tối đa những rủi ro là một bài toán nan giải. Bởi các mục tiêu của
Ngân hàng thường có sự mâu thuẫn lẫn nhau, buộc các nhà quản trị cần phải
tính toán và lựa chọn.
Thứ nhất, tín dụng là một trong những nghiệp vụ hàng đầu, có ý nghĩa
quan trọng quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của một Ngân hàng. Vì
vậy, sự tăng về số dư nợ sẽ là tín hiệu đáng mừng cho Ngân hàng song cũng
_______________________________________________________________
15
tiềm ẩn xác suất rủi ro lớn. Lúc này nhà quản trị Ngân hàng đứng trước lựa
chọn là số dư nợ tăng và hạn chế rủi ro tín dụng có thể xảy ra.
Thứ hai, khi bước vào cơ chế thị trường thị sự cạnh tranh gay gắt buộc
các Ngân hàng giành giật lấy khách hàng, chính sự giành giật này cũng tiềm ẩn
rủi ro tín dụng. Lúc này, nhà quản trị lại đứng trước mâu thuẫn giữa cạnh tranh
và hạn chế rủi ro tín dụng.
Dù trong bất cứ thời lì nào, bối cảnh nào thì yêu cầu cơ bản của Ngân
hàng vẫn là “hiện thực, khả thi và hiệu quả”. Để thực hiện được yêu cầu này thì
các nhà quản trị phải tính toán đến khả năng lấy những khoản không rủi ro để
bù đắp vào những khoản rủi ro đang tiềm ẩn.
Dù rằng đứng trước những sự lựa chọn thì mục tiêu của quản lý rủi ro tín
doanh, khả năng thanh toán và hoàn trả nợ của người đi vay. Ngân hàng thường
dựa vào các báo cáo tài chính do khách hàng cung cấp để đánh giá.
Thứ hai, tính cách và uy tín của khách hàng. Để hạn chế rủi ro chủ quan
do khách hàng gây ra, phát hiện những âm mưu lừa đảo ngay từ ban đầu của
một số khách hàng. Đánh giá không chỉ bởi phẩm chất đạo đức mà còn phải
kiểm nghiệm thông qua kết quả hoạt động kinh doanh trong quá khứ, hiện tại
cũng như chiến lược phát triển trong tương lai, năng lực của đội ngũ lãnh đạo,
quản lý. Uy tín được thể hiện ở chất lượng, giá cả hàng hoá, dịch vụ, mức độ
chiếm lĩnh trên thị trường, quan hệ về kinh tế tài chính, vay vốn trả nợ đối với
khách hàng, ngân hàng… Việc thẩm định uy tín của khách hàng là yếu tố quan
trọng trong quan hệ tín dụng, việc đánh giá sai đối tượng khách hàng có khả
năng làm giảm những khách hàng có mối quan hệ tốt với Ngân hàng hoặc cũng
có thể Ngân hàng không có khả năng thu hồi nợ đã cho vay, phát sinh rủi ro
trong các khoản cho vay.
_______________________________________________________________
17
Thứ ba, mục đích vay vốn của khách hàng. Ngân hàng sau khi đã xem xét
thông tin về khách hàng thì cần xem xét đến vấn đề khách hàng vay để làm gì,
vay bao nhiêu và vay trong khoàn thời gian bao lâu? Nhu cầu vay vốn của
khách hàng có thể nhằm bổ sung lượng vốn lưu động còn thiếu, mở rộng hoạt
động sản xuất kinh doanh, vay để tiêu dùng… Ngân hàng cần phải xác minh
được khách hàng vay vốn để làm gì, tránh xay ra tình trạng sử dụng vốn sai
mục đích đã cam kết sau khi phát vốn vay.
Thứ tư, phương án vay vốn và khả năng trả nợ. Cần phải nghiên cứu hiệu
quả kinh tế và tính khả thi của phương án vay vốn, bằng việc tiến hành đánh
giá, kiểm tra kế hoạch sản xuất kinh doanh và phương án sử dụng vốn vay có
phù hợp với thực tế thị trường hay không? Các điều kiện cần thiết để thực thi
phương án, các số liệu về chi phí và thu nhập, các định mức kinh tế và kỹ thuật,
2.3.3. Phân chia và giới hạn rủi ro
Để tránh xảy ra rủi ro, Ngân hàng cần tiến hành đa dạng hoá các hình
thức đầu tư, Ngân hàng có thể phân chia rủi ro trong hoạt động tín dụng bằng
các hình thức sau:
Đa dạng hoá khách hàng, tiến hành cho nhiều khách hàng vay. Chính
sách khách hàng của từng Ngân hàng là không giống nhau, mỗi Ngân hàng có
những thế mạnh riêng và qua đó sẽ lựa chon thị trường mục tiêu phù hợp, Ngân
hàng càng có nhiều khách hàng vay thì rủi ro càng được phân chia, tuy nhiên sự
phân chia đó cũng có giới hạn. Với quy mô khách hàng lớn thì chất lượng tín
_______________________________________________________________
19
dụng của Ngân hàng sẽ khó được đảm bảo chắc chắn, tuy nhiên Ngân hàng vẫn
phải chấp nhận một mức độ rủi ro, không phân chia quá mức dẫn đến các phí
tổn nhiều so với lợi nhuận thu được. Khi khách hàng có nhu cầu vay một số tiền
lớn thì Ngân hàng nên lựa chọn hình thức cho vay đồng tài trợ. Còn khi không
có đủ căn cứ để có được một đánh giá hoàn hảo về khách hàng thì Ngân hàng
có thể hạ thấp hạn mức tín dụng.
Tiến hành cho nhiều ngành hoạt động vay. Ngân hàng đầu tư vốn vào
nhiều ngành kinh tế khác nhau thì sẽ có khả năng tránh được những hậu quả
nếu có khủng hoảng xảy ra đối với lĩnh vực nào đó, Ngân hàng sẽ phải xem xét,
đánh giá rủi ro theo tình hình kinh tế, diễn biến thị trường. Khi thấy tình hình
kinh tế biến động theo chiều hướng không thuận lợi hay khi dự đoán thấy có
những thay đổi chính sách quan trọng thì Ngân hàng cần phải thận trọng trong
nghịch xấu thêm với Ngân hàng. Để ngăn ngừa rủi ro về đạo đức, Ngân hàng sẽ
không cấp khối lượng tín dụng quá lớn cho một khách hàng hay một nhóm
khách hàng, chỉ cho vay số tiền ít hơn nhu cầu họ muốn trong đơn đề nghị vay
vốn, qua đó có thể kiểm soát được các khoản vay, khả năng thu hồi vốn cao.
Để giảm bớt khả năng thiệt hại của Ngân hàng trong trường hợp khách
hàng bị phá sản, Ngân hàng cũng đưa ra những quy định về số dư bù. Về thực
chất, số dư bù là một dạng của vật thế chấp, đó là số dư bắt buộc phải có trong
tài khoản séc của khách hàng và nó sẽ bị Ngân hàng phong toả khi khách hàng
vỡ nợ. Số dư bù sẽ giúp làm tăng khả năng trả nợ của món tiền vay, thêm nữa,
số dư bù còn đóng vai trò giúp Ngân hàng kiểm soát người vay, mang lại thông
tin về tình hình tài chính của khách hàng qua việc theo dõi sự giảm sút trong số
dư trên tài khoản séc. Những thay đổi trong thủ tục thanh toán của khách hàng
sẽ là dấu hiệu cho Ngân hàng thấy sự thay đổi trong việc sử dụng tiền vay của
_______________________________________________________________
21
khách hàng và Ngân hàng cần phải kiểm tra, xem xét qua đó đưa ra biện pháp
xử lý kịp thời.
2.4. Ý nghĩa của quản lý rủi ro tín dụng
Hiện nay, một trong những mặt yếu kém của hệ thống Ngân hàng thương
mại là chất lượng tín dụng thấp, nợ quá hạn cao. Vấn đề cấp bách được đặt ra
hiện nay trong quản trị điều hành hoạt động kinh doanh Ngân hàng là làm sao
để đảm bảo an toàn tín dụng, cải thiện tình hình tài chính và nâng cao khả năng
cạnh tranh của Ngân hàng thương mại. Rủi ro tín dụng là điều khó tránh khỏi
trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng, quản lý rủi ro tín dụng nhằm mục đích
tối đa hoá tỷ lệ thu hồi vốn thông qua việc duy trì một mức độ rủi ro nhất định.
Quản lý rủi ro tín dụng có hiệu quả sẽ góp phần làm ổn định sự hoạt động của
bất kỳ Ngân hàng nào.
Chương II: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại
Ngân hàng thương mại cổ phần nhà Hà Nội
HABUBANK
1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Ngân
hàng thương mại và cổ phần nhà Hà Nội HABUBANK
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
_______________________________________________________________
23
Habubank là ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên ở Việt Nam được
thành lập từ năm 1989 với mục tiêu ban đầu là hoạt động tín dụng và dịch vụ
trong lĩnh vực phát triển nhà. Tiền thân của Habubank là Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam kết hợp với các cổ đông bao gồm Uỷ ban Nhân dân Thành
phố Hà Nội và một số doanh nghiệp quốc doanh hoạt động trong lĩnh vực xây
dựng, quản lý nhà và du lịch. Với số vốn điều lệ ban đầu là 5 tỷ đồng,
Habubank được phép kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng trong 99
năm.
Tháng 10 năm 1992, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho
phép Ngân hàng thực hiện thêm một số hoạt động kinh doanh ngoại tệ gồm tiền
gửi, tiết kiệm, vay và tiếp nhận, cho vay, mua bán kiều hối, thanh toán ngoại tệ
trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
Năm 1995 đánh dấu một bước ngoặt đáng chú ý trong chiến lược kinh
doanh của Habubank với việc chú trọng mở rộng các hoạt động thương mại
nhằm vào đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng các cá
nhân và tổ chức tài chính khác bên cạnh việc thực hiện các hoạt động hỗ trợ và
phát triển nhà. Thêm vào đó, cơ cấu cổ đông cũng được mở rộng một cách rõ
rệt với nhiều cá nhân và doanh nghiệp quốc doanh và tư nhân tham gia đầu tư
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của NHTM cổ phần nhà Hà Nội
Tổng Giám Đốc
Phó TổngGiám Đốc
_______________________________________________________________
25 1.2.1. Phòng Kế toán giao dịch:
Chức năng: Là bộ phận nghiệp vụ thực hiện các giao dịch trực tiếp với
khách hàng, cung cấp các dịch vụ ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh
toán, xử lý hạch toán các giao dịch theo quy định của Nhà nước. Quản lý và
chịu trách nhiệm đối với hệ thống giao dịch trên máy, quản lý quỹ tiền mặt đến
từng giao dịch viên, thực hiện tư vấn cho khách hàng về các sản phẩm của ngân
hàng.
Nhiệm vụ: Phối hợp với phòng thông tin điện toán quản lý hệ thống giao
dịch trên máy. Thực hiện mở, đóng giao dịch chi nhánh hàng ngày. Nhận các
dữ liệu tham số mới nhât của các chi nhánh HABUBANK. Thiết lập thông sô
dịch
Phòng
tổng
hợp
tiếp
thị
Phòng
thông
tin
điện
toán