Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Trong thời gian gần đây, bên cạnh những kết quả đã đạt được, nền kinh tế
thị trường cũng đã xuất hiện những mặt trái của nó: sự cạnh tranh gay gắt khiến
cho một số doanh nghiệp phá sản, tình trạng làm ăn mang tính chất lừa đảo
nhằm kiếm lợi bất chính của một số đối tượng làm cho nền kinh tế thị trường
thêm phức tạp. Trong bối cảnh đó, hoạt động của Ngân hàng cũng khó tránh
khỏi sự tác động của nền kinh tế thị trường.
Dịch vụ tiền tệ, tín dụng ngân hàng có tính chất đặc thù khác với những
hàng hoá, dịch vụ thông thường. Ngân hàng dễ trở thành nạn nhân khi các
doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng chịu sự
tác động của nhiều yếu tố khiến cho rủi ro dễ xảy ra, trong đó rủi ro tín dụng là
dễ xảy ra nhất. Khi xảy ra rủi ro tín dụng, Ngân hàng sẽ phải chịu thiệt hại mất
mát lớn. Làm thế nào để hạn chế tối đa rủi ro tín dụng là một bài toán nan giải
do tín dụng là nghiệp vụ hàng đầu có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và
phát triển của Ngân hàng.
Qua quá trình hoc tập và tìm hiểu trên các kênh thông tin, qua đợt thực
tập tại Ngân hàng thương mại và cổ phần nhà Hà Nội HABUBANK và đặc biệt
là sự hướng dẫn của thầy giáo, em quyết định nghiên cứu đề tài: “Một số giải
pháp quản lý rủi ro tín dụng ở Ngân hàng thương mại và cổ phần nhà Hà
Nội HABUBANK”.
Chuyên đề thực tập bao gồm các chương:
Chương I: Những lý luận cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng
Chương II: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại
cổ phần nhà Hà Nội HABUBANK
_______________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Mai Bảo Ngọc- Lớp: KT&QLC46
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chương III: Giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
thương mại và cổ phần nhà Hà Nội HABUBANK
hợp đồng tín dụng không có khả năng thanh toán cho các bên còn lại. Đối với
_______________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Mai Bảo Ngọc- Lớp: KT&QLC46
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ngân hàng thương mại, rủi ro tín dụng xảy ra trong trường hợp ngân hàng
không thu hồi được toàn bộ cả gốc và lãi của các khoản cho vay, hoặc là việc
thanh toán nợ gốc và lãi vay không đúng thời hạn đã quy định. Nếu như tất cả
các khoản cho vay của ngân hàng đều được thanh toán đầy đủ và kịp thời hạn
cả gốc và lãi thì rủi ro tín dụng sẽ không xảy ra. Ngược lãi, nếu khách hàng vay
tiền không có khả năng hoàn trả hoặc cố ý không hoàn trả ngân hàng thì rủi ro
tín dụng sẽ nẩy sinh.
Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn trong hoạt động cho vay của các ngân
hàng thương mại mà còn diễn ra trong nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng
khác như hoạt động cho thuê tài chính, tài trợ xuất nhập khẩu và bảo lãnh.
1.1.2. Phân loại rủi ro tín dụng
Có thể nói rằng rủi ro tín dụng là một vấn đề tất yếu khách quan trong
hoạt động của tất cả các Ngân hàng thương mại. Vấn đề cần đặt ra là làm sao để
có thể ngăn ngừa, hạn chế đến mức tối đa những rủi ro có thể xảy ra đối với
hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Muốn làm được điều đó, trước hết các Ngân
hàng cần phân loại được các loại rủi ro tín dụng. Tuỳ theo các tiêu thức khác
nhau mà ta có thể phân loại rủi ro tín dụng thành các nhóm:
- Phân loại rủi ro tín dụng theo loại cho vay:
+ Rủi ro tín dụng đối với các khoản cho vay dùng để tài trợ vốn lưu
động: Do thời gian luân chuyển của vốn lưu động tương đối nhanh dẫn đến thời
gian hoàn trả khoản vay cũng nhanh, do đó mức độ rủi ro tín dụng cũng thấp
hơn.
+ Rủi ro tín dụng đối với các khoản cho vay dùng để tài trợ cho tài sản cố
định: Đối với các khoản vay này rủi mức độ rủi ro tín dụng thường cao vì thời
_______________________________________________________________
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2. Nguyên nhân dẫn tới rủi ro tín dụng
1.2.1. Nguyên nhân chung
Là những nguyên nhân do môi trường bên ngoài tác động, không xuất
phát từ ngân hàng hay khách hàng trong cuộc sống hàng ngày. Cụ thể đó là:
- Những nguyên nhân mang tính bất khả kháng: là những rủi ro mà bản
thân khách hàng và ngân hàng không thể lường trước được.
- Do cơ chế, chính sách kinh tế của Nhà nước thay đổi bất thường. Chức
năng can thiệp vào nền kinh tế và điều khiển một cách gián tiếp thông qua pháp
luật, chính sách, thuế của Nhà nước vô cùng quan trọng, tuy nhiên sự thay đổi
của các chính sách cũng có thể tác động đến hoạt động của các doanh nghiệp
cũng như các Ngân hàng.
- Sự biến động của tình hình kinh tế-chính trị-xã hội trong và ngoài nước
cũng là nguyên nhân có thể dẫn đến rủi ro, đe doạ hoạt động của các ngân hàng.
- Do sự ảnh hưởng của chu kỳ phát triển kinh tế: nếu nền kinh tế ở trong
thời kỳ khủng hoảng, suy thoái sẽ dẫn đến rủi ro cao trong hoạt động của hệ
thống các ngân hàng thương mại.
- Do sự lỏng lẻo của môi trường pháp lý.
1.2.2. Nguyên nhân từ phía khách hàng
Trong quá trình tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, nhiều doanh
nghiệp có thể lâm vào tình trạng thua lỗ, thậm chí có thể dẫn đến phá sản,
không có khả năng trả nợ đầy đủ và đúng thời hạn đã cam kết vớí Ngân hàng.
Cụ thể như sau:
_______________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Mai Bảo Ngọc- Lớp: KT&QLC46
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Khách hàng gặp phải những sự cố trên thị trường cung cấp và tiêu thị
sản phẩm. Do sự thay đổi về giá cả, chất lượng, sảm lượng hàng hóa dẫn đến rủi
1.3. Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng
Hoạt động sản xuất kinh doanh của người đi vay luôn chịu sự ảnh hưởng
từ sự biến động của thị trường, khi thị trường vân động theo tính thiếu sự ổn
định tương đối thì nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng càng lớn. Vì thế, nếu như việc
quyết định cho vay chủ yếu dựa trên cơ sở những dự báo về biến động cảu thị
trường thì sau khi cho vay cũng cần thiết phải tiếp tục xem xét, giám sát người
vay đã sử dụng số tiền vay như thế nào, và đặc biệt quan trọng là họ đã xử sự
như thế nào trước những biến động của thị trường. Hơn thế nữa, những tài sản
mà khách hàng đưa ra làm thế chấp cũng là một loại hàng hoá trên thị trường
nên cũng chịu sự biến động, nhiều khoản vay tuy đã có tài sản làm đảm bảo
nhưng rủi ro không thu được nợ vẫn có thể xảy ra do tài sản không hội đủ yếu
tố pháp lý, khó mau bán do ban đầu đã định giá quá cao hoặc tài sản đã bị giảm
giá… Chính vì những lý do trên, việc phát hiện sớm những dấu hiệu có thể dẫn
đến rủi ro tín dụng là một yêu cầu vô cùng quan trọng.
1.3.1. Nợ quá hạn
Nợ quá hạn là dấu hiệu đặc trưng nhất của rủi ro tín dụng. Nợ quá hạn là
những khoản tín dụng cấp ra mà không được thanh toán đầy đủ và đung thời
hạn như trong hợp đồng tín dụng.
_______________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Mai Bảo Ngọc- Lớp: KT&QLC46
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Như vậy, có thể nói rằng nợ quá hạn là kết quả của mối quan hệ tín dụng
không hoàn hảo, khi người đi vay vi phạm các nguyên tắc tín dụng. Không
hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn có thể gây ra đổ vỡ lòng tin của
người cấp tín dụng đối với người được cấp tín dụng. Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao
thì mức độ rủi ro tín dụng của Ngân hàng sẽ càng lớn.
Nợ quá hạn là rủi ro trong hoạt động tín dụng và cũng là vấn đề của tất cả
các Ngân hàng thương mại trên toàn thế giới, vì vậy, nợ quá hạn được coi như
một hiện tượng bình thường của hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, hoạt động của
hàng.
- Sử dụng vốn không đúng mục đích.
- Trong hoạt động sản xuất kinh doanh có sự tăng lên bất thường các
khoản phải thu hoặc hàng tồn kho.
- Người đi vay xin hoãn trả nợ hoặc khất nợ.
- Có biểu hiện không lành mạnh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
người đi vay, chất lượng sản phẩm hay dịch vụ giảm sút, đánh mất uy tín trên
thị trường, với bạn hàng và người tài trợ, quan hệ giao dịch với các đối tác của
doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, các đối tác huỷ bỏ hợp đồng kinh doanh với
doanh nghiệp.
- Thay đổi trong cơ cấu tổ chức quản lý kinh doanh của doanh nghiệp,
biểu hiện qua một số hình thức như công nhân nghỉ việc, thu hẹp quy mô sản
xuất và chủnh loại sản phẩm…
- Sự thay đổi của giá trị hợp đồng bảo đảm và bảo hiểm tài sản liên quan.
- Khả năng xuất hiện tranh chấp về các vật bảo đảm có liên quan đến các
chủ nợ khác của người vay.
_______________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Mai Bảo Ngọc- Lớp: KT&QLC46
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Hoạt động sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bão lụt, hoả
hoạn, hạn hán…
- Trên đây là những biểu hiện về khó khăn tài chính đối với người đi vay,
sự xuất hiện của một trong những dấu hiệu này báo hiệu khả năng người đi vay
khó có khả năng hoặc không có ý định hoàn trả khoản tiền đã vay cho Ngân
hàng. Ngân hàng cần dựa vào các dấu hiệu này để dự đoán, phát hiện sớm và
tìm ra các biện pháp ngăn ngừa, xử lý kịp thời và có hiệu quả.
1.4. Tác động của rủi ro tín dụng đối với hoạt động của Ngân
hàng thương mại
Rủi ro tín dụng sẽ không xảy ra đối với các Ngân hàng thương mại nếu
gây ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh toán của Ngân hàng, tình trạng này nếu
kéo dài sẽ làm mất lòng tin của người gửi tiền. Các Ngân hàng lâm vào tìng
trạng khó khăn, gây ra sự mất ổn định của hệ thống Ngân hàng nói riêng và mất
ổn định của toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia nói chung, ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sự phát triển của nền kinh tế.
Tóm lại rủi ro tín dụng luôn phát sinh và tồn tại cùng với hoạt động của
hệ thống Ngân hàng, khó lường trước. Nó gây ảnh hưởng xấu đến không chỉ
hoạt động kinh doanh của hệ thống Ngân hàng mà còn đến toàn bộ nền kinh tế.
Vì lẽ đó, quản lý rủi ro tín dụng đang là vấn đề bức xúc đặt ra với các nhà quản
lý Ngân hàng.
_______________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Mai Bảo Ngọc- Lớp: KT&QLC46
12
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2. Quản lý rủi ro tín dụng
2.1. Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng
Để có một khái niệm chính xác, đầy đủ về quản lý rủi ro tín dụng, có thể
có nhiều cách định nghĩa khác nhau, điều này do mục đích của việc nghiên cứu
quyết định.
Trên giác độ quản trị Ngân hàng thì việc định nghĩa quản lý rủi ro tín
dụng là việc trả lời ngắn gọn 4 câu hỏi chính: Ai là người có trách nhiệm quản
lý? Đối tượng cần quản lý là ai? Mục đích và các công cụ quản lý là gì?
Từ bốn yêu cầu trên, ta có thể nêu ra một định nghĩa khái quát về quản lý
rủi ro tín dụng như sau: Quản lý rủi ro tín dụng là việc các nhà quản trị Ngân
hàng lập kế hoạch hoạt động và sử dụng các công cụ quản lý thích hợp nhằm tối
ưu hoá khả năng thu hồi vốn vay từ khách hàng và hạn chế tối đa tác động tiêu
cực của các khoản nợ xấu.
2.2. Mục tiêu quản lý rủi ro tín dụng
Trong những năm gần đây, bên cạnh nhiều thành tựu đã đạt được, nền
kinh tế thị trường cũng đang bộc lộ những mặt trái của nó. Sự cạnh tranh gay
Dù rằng đứng trước những sự lựa chọn thì mục tiêu của quản lý rủi ro tín
dụng vẫn là tối đa hoá tỉ lệ thu hồi vốn thông qua việc duy trì một mức độ rủi ro
có thể chấp nhận được và hạn chế đến mức tối đa tác động tiêu cực của các
khoản nợ xấu.
_______________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Mai Bảo Ngọc- Lớp: KT&QLC46
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2.3. Các biện pháp quản lý rủi ro tín dụng
2.3.1. Thực hiện công tác sàng lọc khách hàng trước khi cho vay
Muốn lựa chon được những khách hàng đạt điều kiện để cho vay, Ngân
hàng phải thường xuyên tiến hành sàng lọc khách hàng. Sàng lọc khách hàng
được thực hiện chủ yếu qua các hoạt động phân tích đánh giá khách hàng và
thẩm định tính khả thi của dự án đầu tư. Để giảm được phần nào rủi ro trong
hoạt động tín dụng, khi Ngân hàng tiếp nhận đề nghị vay vốn của khách hàng,
cần phải phân tích, thẩm định về khách hàng và xem xét phương án vay vốn.
Cán bộ tín dụng cần phải nghiên cứu hết sức cẩn thận dưới nhiều khía cạnh để
quyết định xem có cho vay được hay không và nếu cho vay được thì cho vay
bao nhiêu, trong thời gian bao lâu và bằng hình thức tín dụng nào… Việc phân
tích, thẩm định được tiến hành càng kỹ thì Ngân hàng càng tránh được những
rủi ro có thể xảy ra. Đối với mỗi đề nghị vay vốn, cán bộ tín dụng cần phải xác
định nội dung, phương pháp thẩm định cụ thể, trong đó thường quan tâm đến
các điểm chính sau:
Thứ nhất, năng lực tài chính và năng lực pháp ly của khách hàng. Nếu
như khách hàng là pháp nhân, phải xem xét sự thành lập đó có hợp pháp hay
không. Nếu như khách hàng là thể nhân, phải xem người đó có đủ năng lực
pháp lý để giao dịch với Ngân hàng hay không. Đánh giá năng lực tài chính để
xác định sức mạnh về tài chính, khả năng độc lập, tự chủ về tài chính trong kinh
doanh, khả năng thanh toán và hoàn trả nợ của người đi vay. Ngân hàng thường
dựa vào các báo cáo tài chính do khách hàng cung cấp để đánh giá.
chuẩn bị đến hạn thanh toán, những con số dự tính về nguồn thu trong phương
án kinh doanh, cùng với các nguồn thu khác mà khách hàng đã cam kết dùng để
trả nợ khi nguồn thu chính có sự cố.
_______________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Mai Bảo Ngọc- Lớp: KT&QLC46
16
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2.3.2.Thẩm định dự án đầu tư
Ngân hàng tiến hành thẩm định dự án đầu tư, xem xét hiệu quả kinh tế từ
đó mới quyết định cho vay. Trình tự thẩm định bắt đầu nghiên cứu từ hiệu quả
kinh tế, sau đó mới xem xét đến các mục khác. Thẩm định dự án vay vốn được
tiến hành tuần tự theo các nội dung sau:
- Thẩm định về hiệu quả kinh tế của dự án và các điều kiện để vay vốn.
Thẩm định hiệu quả kinh tế để quyết định có cho vay hay không nên cần phải
thẩm định cả khả năng trả nợ của khách hàng.
- Thẩm định về điều kiện vay vốn: Cần phải thẩm định tư cách pháp nhân
của chủ đầu tư, nhất là khi có công ty nước ngoài liên quan để tránh gặp phải
những công ty không có con dấu riêng đứng ra làm cò mồi. Về vốn đầu tư tham
gia dự án, cần phải xem xét về nguồn tài chính của chủ đầu tư. Thẩm định tính
chuyển tiếp xem có khớp với dây chuyền thiết bị đang sử dụng không, có tính
đồng bộ hay không?
- Thẩm định kỹ thị trường đầu vào.
- Thẩm định rõ ràng về phương diện tài chính.
Ngoài thẩm định dự án đầu tư, Ngân hàng cũng cần phải xem xét kỹ
phương án thi công, vì nếu phương án thi công không được tính toán hợp lý thì
sẽ kéo dài thời gian thi công và có thể làm lỡ thời cơ đưa công côg trình vào sản
xuất kinh doanh đúng thời hạn.
_______________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Mai Bảo Ngọc- Lớp: KT&QLC46
17
Có thể khẳng định là không một Ngân hàng nào lường trước được mọi sự
bất ngờ khi đề ra những quy định hạn chế đối với một hợp đồng tín dụng, sẽ
luôn có những rủi ro có thể xảy ra đối với hoạt động của người vay tiền. Để
ngăn ngừa, giảm thiểu rủi ro tín dụng thì Ngân hàng thường áp dụng biện pháp
khống chế khối lượng tín dụng, áp dụng nhiều mức lãi suất khác nhau đối với
khách hàng hay quy định số dư bù. Muốn thu được nhiều lợi nhuận, Ngân hàng
phải thực hiện các khoản cho vay có kết quả tốt, được hoàn trả đầy đủ và đúng
thời hạn cả gốc và lãi. Song do thông tin không đối xứng nên những khách hàng
đi vay có những dự án đầu tư rủi ro lại vẫn có thể được lựa chọn, do Ngân hàng
có ít thông tin về những cơ hội đầu tư và về hoạt động của các khách hàng vay
tiền. Khi người đi vay đã có được món tiền vay, có khả năng họ sẽ đầu tư vào
những dự án có rủi ro cao, khiến họ khó có khả năng hoàn trả lại món tiền đã
vay cho Ngân hàng. Một trong những phương pháp giúp Ngân hàng đối phó với
sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức là việc đưa ra hạn mức tín dụng. Ngân
hàng có thể từ chối không cho vay đối với những khách hàng nhu cầu vốn quá
lớn hoặc cho vay với mức thấp hơn. Hơn thế nữa, khi khách hàng muốn vay
vốn đầu tư vào những dự án có rủi ro cao thì họ cũng sẵn sàng chấp nhận mức
lãi suất cao. Tuy nhiên Ngân hàng cũng phải thận trọng trong việc lựa chọn
khách hàng, không muốn thực hiện các khoản cho vay như vậy, vì khả năng rủi
ro tín dụng xay ra là rất lớn. Lãi suất cao hơn chỉ khiến cho sự lựa chọn đối
nghịch xấu thêm với Ngân hàng. Để ngăn ngừa rủi ro về đạo đức, Ngân hàng sẽ
không cấp khối lượng tín dụng quá lớn cho một khách hàng hay một nhóm
khách hàng, chỉ cho vay số tiền ít hơn nhu cầu họ muốn trong đơn đề nghị vay
vốn, qua đó có thể kiểm soát được các khoản vay, khả năng thu hồi vốn cao.
_______________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Mai Bảo Ngọc- Lớp: KT&QLC46
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Để giảm bớt khả năng thiệt hại của Ngân hàng trong trường hợp khách
hàng bị phá sản, Ngân hàng cũng đưa ra những quy định về số dư bù. Về thực
quan quản lý của Nhà nước, cá nhân và hộ gia đình… Quản lý rủi ro tín dụng
có tác dụng rất quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Ngân hàng cho
vay có hiệu quả cũng có nghĩa là khách hàng sử dụng vốn vay đạt hiệu quả cao,
qua đó Ngân hàng cũng có khả năng thanh toán lãi cho người gửi tiền. Như vậy
nó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao khả năng thực hiện các chính
sách kinh tế vĩ mô của chính phủ.
_______________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Mai Bảo Ngọc- Lớp: KT&QLC46
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chương II: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại
Ngân hàng thương mại cổ phần nhà Hà Nội
HABUBANK
1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Ngân
hàng thương mại và cổ phần nhà Hà Nội HABUBANK
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Habubank là ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên ở Việt Nam được
thành lập từ năm 1989 với mục tiêu ban đầu là hoạt động tín dụng và dịch vụ
trong lĩnh vực phát triển nhà. Tiền thân của Habubank là Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam kết hợp với các cổ đông bao gồm Uỷ ban Nhân dân Thành
phố Hà Nội và một số doanh nghiệp quốc doanh hoạt động trong lĩnh vực xây
dựng, quản lý nhà và du lịch. Với số vốn điều lệ ban đầu là 5 tỷ đồng,
Habubank được phép kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng trong 99
năm.
Tháng 10 năm 1992, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho
phép Ngân hàng thực hiện thêm một số hoạt động kinh doanh ngoại tệ gồm tiền
gửi, tiết kiệm, vay và tiếp nhận, cho vay, mua bán kiều hối, thanh toán ngoại tệ
trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
Năm 1995 đánh dấu một bước ngoặt đáng chú ý trong chiến lược kinh
doanh của Habubank với việc chú trọng mở rộng các hoạt động thương mại
_______________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Mai Bảo Ngọc- Lớp: KT&QLC46
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
động, cho vay tiêu dùng, mua nhà…) và các hoạt động đầu tư khác trên thị
trường chứng khoán.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của NHTM cổ phần nhà Hà Nội
1.2.1. Phòng Kế toán giao dịch:
Chức năng: Là bộ phận nghiệp vụ thực hiện các giao dịch trực tiếp với
khách hàng, cung cấp các dịch vụ ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh
toán, xử lý hạch toán các giao dịch theo quy định của Nhà nước. Quản lý và
chịu trách nhiệm đối với hệ thống giao dịch trên máy, quản lý quỹ tiền mặt đến
từng giao dịch viên, thực hiện tư vấn cho khách hàng về các sản phẩm của ngân
hàng.
Nhiệm vụ: Phối hợp với phòng thông tin điện toán quản lý hệ thống giao
dịch trên máy. Thực hiện mở, đóng giao dịch chi nhánh hàng ngày. Nhận các
_______________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Mai Bảo Ngọc- Lớp: KT&QLC46
24
Tổng Giám Đốc
Phòng
tiền tệ
kho
quỹ
Phó TổngGiám Đốc
Phòng
khách
hàng
cá
nhân
thẩm quyền, kiểm soát lưu trữ chứng từ, tổng hợp liệt kê trong ngày, đối chiếu,
lập báo cáo và phân tích báo cáo cuối ngày của giao dịch viên, làm các báo cáo,
đóng nhật ký theo quy định;
Đảm bảo an toàn bí mật các số liệu có liên quan theo quy định;
Làm các công tác khác;
Chịu trách nhiệm trước Giám đôc về nhiệm vụ được giao trong phạm vi
được uỷ quyền.
1.2.2. Phòng khách hàng doanh nghiệp:
Chức năng: Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các
doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ để khai thác vốn bằng VNĐ và ngoại tệ, xử lý các
nghiệp vụ liên quan đến cho vay, quản lý các sản phẩm cho vay phù hợp với
chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của NHNN.
Nhiệm vụ: Khai thác nguồn vốn bằng VNĐ và ngoại tệ từ khách hàng là
các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ;
Hỗ trợ, tiếp thị khách hàng, phối hợp với phòng Tổng hợp tiếp thị làm
công tác chăm sóc khách hàng, phát triển các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng
đến các khách hàng;
_______________________________________________________________
Sinh viên thực hiện: Mai Bảo Ngọc- Lớp: KT&QLC46
25