Một số giải pháp quản lý rủi ro tín dụng ở Ngân hàng thương mại và cổ phần nhà Hà Nội HABUBANK - Pdf 17

Lời mở đầu
Trong thời gian gần đây, bên cạnh những kết quả đã đạt được, nền kinh tế
thị trường cũng đã xuất hiện những mặt trái của nó: sự cạnh tranh gay gắt khiến
cho một số doanh nghiệp phá sản, tình trạng làm ăn mang tính chất lừa đảo
nhằm kiếm lợi bất chính của một số đối tượng làm cho nền kinh tế thị trường
thêm phức tạp. Trong bối cảnh đó, hoạt động của Ngân hàng cũng khó tránh
khỏi sự tác động của nền kinh tế thị trường.
Dịch vụ tiền tệ, tín dụng ngân hàng có tính chất đặc thù khác với những
hàng hoá, dịch vụ thông thường. Ngân hàng dễ trở thành nạn nhân khi các
doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng chịu sự
tác động của nhiều yếu tố khiến cho rủi ro dễ xảy ra, trong đó rủi ro tín dụng là
dễ xảy ra nhất. Khi xảy ra rủi ro tín dụng, Ngân hàng sẽ phải chịu thiệt hại mất
mát lớn. Làm thế nào để hạn chế tối đa rủi ro tín dụng là một bài toán nan giải
do tín dụng là nghiệp vụ hàng đầu có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và
phát triển của Ngân hàng.
Qua quá trình hoc tập và tìm hiểu trên các kênh thông tin, qua đợt thực
tập tại Ngân hàng thương mại và cổ phần nhà Hà Nội HABUBANK và đặc biệt
là sự hướng dẫn của thầy giáo, em quyết định nghiên cứu đề tài: “Một số giải
pháp quản lý rủi ro tín dụng ở Ngân hàng thương mại và cổ phần nhà Hà
Nội HABUBANK”.
Chuyên đề thực tập bao gồm các chương:
Chương I: Những lý luận cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng
Chương II: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại
cổ phần nhà Hà Nội HABUBANK
_______________________________________________________________

1
Chương III: Giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
thương mại và cổ phần nhà Hà Nội HABUBANK
Để hoàn thành chuyên đề này, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn
của thầy giáo TS.Phạm Vũ Thắng và các cô chú trong ngân hàng thương mại và

3
ngân hàng thương mại, rủi ro tín dụng xảy ra trong trường hợp ngân hàng
không thu hồi được toàn bộ cả gốc và lãi của các khoản cho vay, hoặc là việc
thanh toán nợ gốc và lãi vay không đúng thời hạn đã quy định. Nếu như tất cả
các khoản cho vay của ngân hàng đều được thanh toán đầy đủ và kịp thời hạn
cả gốc và lãi thì rủi ro tín dụng sẽ không xảy ra. Ngược lãi, nếu khách hàng vay
tiền không có khả năng hoàn trả hoặc cố ý không hoàn trả ngân hàng thì rủi ro
tín dụng sẽ nẩy sinh.
Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn trong hoạt động cho vay của các ngân
hàng thương mại mà còn diễn ra trong nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng
khác như hoạt động cho thuê tài chính, tài trợ xuất nhập khẩu và bảo lãnh.
1.1.2. Phân loại rủi ro tín dụng
Có thể nói rằng rủi ro tín dụng là một vấn đề tất yếu khách quan trong
hoạt động của tất cả các Ngân hàng thương mại. Vấn đề cần đặt ra là làm sao để
có thể ngăn ngừa, hạn chế đến mức tối đa những rủi ro có thể xảy ra đối với
hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Muốn làm được điều đó, trước hết các Ngân
hàng cần phân loại được các loại rủi ro tín dụng. Tuỳ theo các tiêu thức khác
nhau mà ta có thể phân loại rủi ro tín dụng thành các nhóm:
- Phân loại rủi ro tín dụng theo loại cho vay:
+ Rủi ro tín dụng đối với các khoản cho vay dùng để tài trợ vốn lưu
động: Do thời gian luân chuyển của vốn lưu động tương đối nhanh dẫn đến thời
gian hoàn trả khoản vay cũng nhanh, do đó mức độ rủi ro tín dụng cũng thấp
hơn.
+ Rủi ro tín dụng đối với các khoản cho vay dùng để tài trợ cho tài sản cố
định: Đối với các khoản vay này rủi mức độ rủi ro tín dụng thường cao vì thời
_______________________________________________________________

4
gian vay vốn dài, hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình của tài sản cố định
cũng rất cao.

- Những nguyên nhân mang tính bất khả kháng: là những rủi ro mà bản
thân khách hàng và ngân hàng không thể lường trước được.
- Do cơ chế, chính sách kinh tế của Nhà nước thay đổi bất thường. Chức
năng can thiệp vào nền kinh tế và điều khiển một cách gián tiếp thông qua pháp
luật, chính sách, thuế của Nhà nước vô cùng quan trọng, tuy nhiên sự thay đổi
của các chính sách cũng có thể tác động đến hoạt động của các doanh nghiệp
cũng như các Ngân hàng.
- Sự biến động của tình hình kinh tế-chính trị-xã hội trong và ngoài nước
cũng là nguyên nhân có thể dẫn đến rủi ro, đe doạ hoạt động của các ngân hàng.
- Do sự ảnh hưởng của chu kỳ phát triển kinh tế: nếu nền kinh tế ở trong
thời kỳ khủng hoảng, suy thoái sẽ dẫn đến rủi ro cao trong hoạt động của hệ
thống các ngân hàng thương mại.
- Do sự lỏng lẻo của môi trường pháp lý.
1.2.2. Nguyên nhân từ phía khách hàng
Trong quá trình tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, nhiều doanh
nghiệp có thể lâm vào tình trạng thua lỗ, thậm chí có thể dẫn đến phá sản,
không có khả năng trả nợ đầy đủ và đúng thời hạn đã cam kết vớí Ngân hàng.
Cụ thể như sau:
_______________________________________________________________

6
- Khách hàng gặp phải những sự cố trên thị trường cung cấp và tiêu thị
sản phẩm. Do sự thay đổi về giá cả, chất lượng, sảm lượng hàng hóa dẫn đến rủi
ro cho Ngân hàng.
- Tình hình tài chính của doanh nghiệp yếu kém.
- Lãnh đạo doanh nghiệp còn yếu kém trong hoạt động điều hành sản
xuất kinh doanh.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ của doanh nghiệp quá lạc hậu,
không thể sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao cạnh tranh trên thị
trường.

mà khách hàng đưa ra làm thế chấp cũng là một loại hàng hoá trên thị trường
nên cũng chịu sự biến động, nhiều khoản vay tuy đã có tài sản làm đảm bảo
nhưng rủi ro không thu được nợ vẫn có thể xảy ra do tài sản không hội đủ yếu
tố pháp lý, khó mau bán do ban đầu đã định giá quá cao hoặc tài sản đã bị giảm
giá… Chính vì những lý do trên, việc phát hiện sớm những dấu hiệu có thể dẫn
đến rủi ro tín dụng là một yêu cầu vô cùng quan trọng.
1.3.1. Nợ quá hạn
Nợ quá hạn là dấu hiệu đặc trưng nhất của rủi ro tín dụng. Nợ quá hạn là
những khoản tín dụng cấp ra mà không được thanh toán đầy đủ và đung thời
hạn như trong hợp đồng tín dụng.
_______________________________________________________________

8
Như vậy, có thể nói rằng nợ quá hạn là kết quả của mối quan hệ tín dụng
không hoàn hảo, khi người đi vay vi phạm các nguyên tắc tín dụng. Không
hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn có thể gây ra đổ vỡ lòng tin của
người cấp tín dụng đối với người được cấp tín dụng. Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao
thì mức độ rủi ro tín dụng của Ngân hàng sẽ càng lớn.
Nợ quá hạn là rủi ro trong hoạt động tín dụng và cũng là vấn đề của tất cả
các Ngân hàng thương mại trên toàn thế giới, vì vậy, nợ quá hạn được coi như
một hiện tượng bình thường của hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, hoạt động của
ngân hàng sẽ tê liệt nếu như tỷ lệ nợ quá hạn quá cao, khi đó Ngân hàng sẽ
không thu hồi được vốn để thực hiện các hoạt động kinh doanh khác và để trả
tiền cho những người gửi tiền. Do đó vấn đề ngăn ngừa, hạn chế nợ quá hạn là
một công tác rất quan trọng đối với mọi Ngân hàng thương mại. Hiện nay,
nhiều nhà quản lý cho rằng tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ ở mức từ 3%-5% là
có thể chấp nhận được trong hoạt động tín dụng.
Có nhiều loại hình nợ quá hạn khác nhau, mỗi loại phản ánh rủi ro tín
dụng ở những góc cạnh khác nhau. Phân loại nợ quá hạn có ý nghĩa hết sức
quan trọng trong việc đánh giá mức độ rủi ro tín dụng và trong việc đề ra các

- Thay đổi trong cơ cấu tổ chức quản lý kinh doanh của doanh nghiệp,
biểu hiện qua một số hình thức như công nhân nghỉ việc, thu hẹp quy mô sản
xuất và chủnh loại sản phẩm…
- Sự thay đổi của giá trị hợp đồng bảo đảm và bảo hiểm tài sản liên quan.
- Khả năng xuất hiện tranh chấp về các vật bảo đảm có liên quan đến các
chủ nợ khác của người vay.
_______________________________________________________________

10
- Hoạt động sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bão lụt, hoả
hoạn, hạn hán…
- Trên đây là những biểu hiện về khó khăn tài chính đối với người đi vay,
sự xuất hiện của một trong những dấu hiệu này báo hiệu khả năng người đi vay
khó có khả năng hoặc không có ý định hoàn trả khoản tiền đã vay cho Ngân
hàng. Ngân hàng cần dựa vào các dấu hiệu này để dự đoán, phát hiện sớm và
tìm ra các biện pháp ngăn ngừa, xử lý kịp thời và có hiệu quả.
1.4. Tác động của rủi ro tín dụng đối với hoạt động của Ngân
hàng thương mại
Rủi ro tín dụng sẽ không xảy ra đối với các Ngân hàng thương mại nếu
như họ luôn nhận được cả gốc và lãi của các khoản cho vay đúng thời hạn,
ngược lại nếu người đi vay có tình hình tài chính không thuận lợi thì cả gốc và
lãi của khoản vay bị đặt trong tình trạng rủi ro không thu hồi được. Tuỳ theo
từng mức độ rủi ro mà ảnh hưởng đến hoạt động của các Ngân hàng nhiều hay
ít. Rủi ro tín dụng ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, khả năng cạnh tranh của
Ngân hàng trên thị trường tài chính, làm ảnh hưởng đến thu nhập của Ngân
hàng, giảm khả năng thanh toán của Ngân hàng và gây ra nguy cơ mất vốn kinh
doanh, dẫn đến phá sản Ngân hàng. Hoạt động tín dụng là hoạt động thường
xuyên và cơ bản nhất của Ngân hàng thương mại, phần lớn thu nhập của Ngân
hàng xuất phát từ hoạt động tín dụng.
Do đó, thu nhập của Ngân hàng sẽ trực tiếp bị ảnh hưởng khi rủi ro tín

12
2. Quản lý rủi ro tín dụng
2.1. Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng
Để có một khái niệm chính xác, đầy đủ về quản lý rủi ro tín dụng, có thể
có nhiều cách định nghĩa khác nhau, điều này do mục đích của việc nghiên cứu
quyết định.
Trên giác độ quản trị Ngân hàng thì việc định nghĩa quản lý rủi ro tín
dụng là việc trả lời ngắn gọn 4 câu hỏi chính: Ai là người có trách nhiệm quản
lý? Đối tượng cần quản lý là ai? Mục đích và các công cụ quản lý là gì?
Từ bốn yêu cầu trên, ta có thể nêu ra một định nghĩa khái quát về quản lý
rủi ro tín dụng như sau: Quản lý rủi ro tín dụng là việc các nhà quản trị Ngân
hàng lập kế hoạch hoạt động và sử dụng các công cụ quản lý thích hợp nhằm tối
ưu hoá khả năng thu hồi vốn vay từ khách hàng và hạn chế tối đa tác động tiêu
cực của các khoản nợ xấu.
2.2. Mục tiêu quản lý rủi ro tín dụng
Trong những năm gần đây, bên cạnh nhiều thành tựu đã đạt được, nền
kinh tế thị trường cũng đang bộc lộ những mặt trái của nó. Sự cạnh tranh gay
gắt khiến cho một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất bị phá sản. Tình trạng làm ăn
mang tính chất lừa đảo dưới nhiều hình thức tinh vi nhằm thu được lợi nhuận
bất chính của một số đối tượng làm cho bộ mặt thị trường ngày càng phức tạp
hơn. Trong bối cảnh đó, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng cũng chịu sự tác
động bởi những mặt trái của thị trường.
Có thể nói, kinh doanh dịch vụ tín dụng Ngân hàng có tính chất đặc thù
khác với các hàng hoá thông thường. Ngân hàng có khả năng trở thành nạn
nhân của các vụ lừa đảo mất khả năng trả nợ, dẫn đến rủi ro tín dụng. Cũng như
_______________________________________________________________

13
trong phần định nghĩa đã đề cập thì rủi ro không phải bây giờ mới có và cũng
không phải mãi đến nay mới được đề cập. Tuy nhiên, làm thế nào để hạn chế

cần phải phân tích, thẩm định về khách hàng và xem xét phương án vay vốn.
Cán bộ tín dụng cần phải nghiên cứu hết sức cẩn thận dưới nhiều khía cạnh để
quyết định xem có cho vay được hay không và nếu cho vay được thì cho vay
bao nhiêu, trong thời gian bao lâu và bằng hình thức tín dụng nào… Việc phân
tích, thẩm định được tiến hành càng kỹ thì Ngân hàng càng tránh được những
rủi ro có thể xảy ra. Đối với mỗi đề nghị vay vốn, cán bộ tín dụng cần phải xác
định nội dung, phương pháp thẩm định cụ thể, trong đó thường quan tâm đến
các điểm chính sau:
Thứ nhất, năng lực tài chính và năng lực pháp ly của khách hàng. Nếu
như khách hàng là pháp nhân, phải xem xét sự thành lập đó có hợp pháp hay
không. Nếu như khách hàng là thể nhân, phải xem người đó có đủ năng lực
pháp lý để giao dịch với Ngân hàng hay không. Đánh giá năng lực tài chính để
xác định sức mạnh về tài chính, khả năng độc lập, tự chủ về tài chính trong kinh
doanh, khả năng thanh toán và hoàn trả nợ của người đi vay. Ngân hàng thường
dựa vào các báo cáo tài chính do khách hàng cung cấp để đánh giá.
Thứ hai, tính cách và uy tín của khách hàng. Để hạn chế rủi ro chủ quan
do khách hàng gây ra, phát hiện những âm mưu lừa đảo ngay từ ban đầu của
một số khách hàng. Đánh giá không chỉ bởi phẩm chất đạo đức mà còn phải
_______________________________________________________________

15
kiểm nghiệm thông qua kết quả hoạt động kinh doanh trong quá khứ, hiện tại
cũng như chiến lược phát triển trong tương lai, năng lực của đội ngũ lãnh đạo,
quản lý. Uy tín được thể hiện ở chất lượng, giá cả hàng hoá, dịch vụ, mức độ
chiếm lĩnh trên thị trường, quan hệ về kinh tế tài chính, vay vốn trả nợ đối với
khách hàng, ngân hàng… Việc thẩm định uy tín của khách hàng là yếu tố quan
trọng trong quan hệ tín dụng, việc đánh giá sai đối tượng khách hàng có khả
năng làm giảm những khách hàng có mối quan hệ tốt với Ngân hàng hoặc cũng
có thể Ngân hàng không có khả năng thu hồi nợ đã cho vay, phát sinh rủi ro
trong các khoản cho vay.

những công ty không có con dấu riêng đứng ra làm cò mồi. Về vốn đầu tư tham
gia dự án, cần phải xem xét về nguồn tài chính của chủ đầu tư. Thẩm định tính
chuyển tiếp xem có khớp với dây chuyền thiết bị đang sử dụng không, có tính
đồng bộ hay không?
- Thẩm định kỹ thị trường đầu vào.
- Thẩm định rõ ràng về phương diện tài chính.
Ngoài thẩm định dự án đầu tư, Ngân hàng cũng cần phải xem xét kỹ
phương án thi công, vì nếu phương án thi công không được tính toán hợp lý thì
sẽ kéo dài thời gian thi công và có thể làm lỡ thời cơ đưa công côg trình vào sản
xuất kinh doanh đúng thời hạn.
_______________________________________________________________

17
2.3.3. Phân chia và giới hạn rủi ro
Để tránh xảy ra rủi ro, Ngân hàng cần tiến hành đa dạng hoá các hình
thức đầu tư, Ngân hàng có thể phân chia rủi ro trong hoạt động tín dụng bằng
các hình thức sau:
Đa dạng hoá khách hàng, tiến hành cho nhiều khách hàng vay. Chính
sách khách hàng của từng Ngân hàng là không giống nhau, mỗi Ngân hàng có
những thế mạnh riêng và qua đó sẽ lựa chon thị trường mục tiêu phù hợp, Ngân
hàng càng có nhiều khách hàng vay thì rủi ro càng được phân chia, tuy nhiên sự
phân chia đó cũng có giới hạn. Với quy mô khách hàng lớn thì chất lượng tín
dụng của Ngân hàng sẽ khó được đảm bảo chắc chắn, tuy nhiên Ngân hàng vẫn
phải chấp nhận một mức độ rủi ro, không phân chia quá mức dẫn đến các phí
tổn nhiều so với lợi nhuận thu được. Khi khách hàng có nhu cầu vay một số tiền
lớn thì Ngân hàng nên lựa chọn hình thức cho vay đồng tài trợ. Còn khi không
có đủ căn cứ để có được một đánh giá hoàn hảo về khách hàng thì Ngân hàng
có thể hạ thấp hạn mức tín dụng.
Tiến hành cho nhiều ngành hoạt động vay. Ngân hàng đầu tư vốn vào
nhiều ngành kinh tế khác nhau thì sẽ có khả năng tránh được những hậu quả

ro tín dụng xay ra là rất lớn. Lãi suất cao hơn chỉ khiến cho sự lựa chọn đối
nghịch xấu thêm với Ngân hàng. Để ngăn ngừa rủi ro về đạo đức, Ngân hàng sẽ
không cấp khối lượng tín dụng quá lớn cho một khách hàng hay một nhóm
khách hàng, chỉ cho vay số tiền ít hơn nhu cầu họ muốn trong đơn đề nghị vay
vốn, qua đó có thể kiểm soát được các khoản vay, khả năng thu hồi vốn cao.
_______________________________________________________________

19
Để giảm bớt khả năng thiệt hại của Ngân hàng trong trường hợp khách
hàng bị phá sản, Ngân hàng cũng đưa ra những quy định về số dư bù. Về thực
chất, số dư bù là một dạng của vật thế chấp, đó là số dư bắt buộc phải có trong
tài khoản séc của khách hàng và nó sẽ bị Ngân hàng phong toả khi khách hàng
vỡ nợ. Số dư bù sẽ giúp làm tăng khả năng trả nợ của món tiền vay, thêm nữa,
số dư bù còn đóng vai trò giúp Ngân hàng kiểm soát người vay, mang lại thông
tin về tình hình tài chính của khách hàng qua việc theo dõi sự giảm sút trong số
dư trên tài khoản séc. Những thay đổi trong thủ tục thanh toán của khách hàng
sẽ là dấu hiệu cho Ngân hàng thấy sự thay đổi trong việc sử dụng tiền vay của
khách hàng và Ngân hàng cần phải kiểm tra, xem xét qua đó đưa ra biện pháp
xử lý kịp thời.
2.4. Ý nghĩa của quản lý rủi ro tín dụng
Hiện nay, một trong những mặt yếu kém của hệ thống Ngân hàng thương
mại là chất lượng tín dụng thấp, nợ quá hạn cao. Vấn đề cấp bách được đặt ra
hiện nay trong quản trị điều hành hoạt động kinh doanh Ngân hàng là làm sao
để đảm bảo an toàn tín dụng, cải thiện tình hình tài chính và nâng cao khả năng
cạnh tranh của Ngân hàng thương mại. Rủi ro tín dụng là điều khó tránh khỏi
trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng, quản lý rủi ro tín dụng nhằm mục đích
tối đa hoá tỷ lệ thu hồi vốn thông qua việc duy trì một mức độ rủi ro nhất định.
Quản lý rủi ro tín dụng có hiệu quả sẽ góp phần làm ổn định sự hoạt động của
bất kỳ Ngân hàng nào.
Quản lý rủi ro tín dụng đạt hiệu quả cao tức là Ngân hàng cho vay và thu

Habubank được phép kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng trong 99
năm.
Tháng 10 năm 1992, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho
phép Ngân hàng thực hiện thêm một số hoạt động kinh doanh ngoại tệ gồm tiền
gửi, tiết kiệm, vay và tiếp nhận, cho vay, mua bán kiều hối, thanh toán ngoại tệ
trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
Năm 1995 đánh dấu một bước ngoặt đáng chú ý trong chiến lược kinh
doanh của Habubank với việc chú trọng mở rộng các hoạt động thương mại
nhằm vào đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng các cá
nhân và tổ chức tài chính khác bên cạnh việc thực hiện các hoạt động hỗ trợ và
phát triển nhà. Thêm vào đó, cơ cấu cổ đông cũng được mở rộng một cách rõ
_______________________________________________________________

22
rệt với nhiều cá nhân và doanh nghiệp quốc doanh và tư nhân tham gia đầu tư
đóng góp phát triển.
Tới nay, qua hơn 18 năm hoạt động, Habubank đã có số vốn điều lệ
là 2.000 tỷ đồng với mạng lưới ngày càng mở rộng, 8 năm liên tục được Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam xếp loại A và được công nhận là ngân hàng phát triển
toàn diện với hoạt động ổn định, an toàn và hiệu quả. Habubank luôn giữ vững
niềm tin của khách hàng bằng chất lượng sản phẩm dịch vụ và phong cách nhiệt
tình, chuyên nghiệp của tất cả nhân viên.
1.2. Mô hình cơ cấu tổ chức
Habubank hiện có mô hình tổ chức báo cáo ít tầng nhằm giảm thiểu tính
quan liêu trong hệ thống cũng như nâng cao tính năng động của tổ chức. Ðặc
điểm nổi bật của mô hình Habubank là tập trung vào khách hàng, đội ngũ nhân
viên chuyên nghiệp và quản lý rủi ro hiệu quả.
Rủi ro là một phần gắn liền với mọi hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Kiểm tra và quản lý rủi ro sao cho cân bằng được mối quan hệ rủi ro - lợi nhuận
trước hết đòi hỏi một cơ cấu tổ chức phù hợp và chính sách nhất quán trong

Phó TổngGiám Đốc
Phòng
khách
hàng

nhân
Phòng
khách
hàng
doanh
nghiệp
Phòng
kinh
doanh
Phòng
kế
toán
giao
dịch
Phòng
tổng
hợp
tiếp thị
Phòng
thông
tin
điện
toán
dữ liệu tham số mới nhât của các chi nhánh HABUBANK. Thiết lập thông sô
đầu ngày để thực hiện hay không thực hiện các giao dịch.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status