đánh gía công tác dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp đối với đời sống nông hộ tại xã lăng thành, huyện yên thành, tỉnh nghệ an - Pdf 13

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở một đất nước mà tài nguyên đất bị hạn chế như ở Việt Nam, quá trình đô
thị hoá diễn ra mạnh mẽ. Cùng với sự gia tăng dân số đặt ra cho người dân và
chính quyền các cấp một nhiệm vụ hết sức nặng nề, đó là việc sử dụng tài nguyên
đất của quốc gia một cách bền vững. Xuất phát từ thực tế đó, Nghị định 64/CP đã
ra đời với việc giao quyền sử dụng đất lâu dài cho nông dân nhằm khuyến khích họ
tích cực đầu tư thâm canh, cải tạo ruộng và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất để nâng cao thu nhập cho nông dân trên một đơn vị diện tích và từng
bước cải thiện bộ mặt của nông thôn.
Hiệu quả đất theo phương thức” Có tốt, có xấu, có gần ,có xa” theo nghị định
64/CP lúc đầu được nông dân ủng hộ, song ngày càng bộc lộ nhiều yếu điểm đó là:
Tình trạng đất đai manh mún nhỏ lẽ dẫn đến hiệu quả sử dụng đất không còn phù
hợp với nhu cầu phát triển sản xuất theo hướng hàng hoá thị trường. Trong lúc
người nông dân muốn phát triển sản xuất các loại hàng hoá nông sản như: lúa, ngô,
lạc ,sắn…với quy mô lớn thì ruộng đất của họ lại quá nhỏ và manh mún nằm rải
rác ở các xứ đồng khác nhau. Chính điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc sản
xuất của các hộ.
Nhận thấy sự cấp bách của việc manh mún ruộng đất, Đảng và Nhà nước ta
đã chủ trương dồn điền đổi thửa. Nhằm điều chỉnh lại việc sử dụng đất cho phù
hợp với nhu cầu sản xuất, theo hướng CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn thực sự
là một việc làm có ý nghĩa đúng đắn và cấp thiểt. Thực hiện chỉ thị 02/CT ngày
05/04/2002 của Ban thường vụ tỉnh uỷ và thông tư 02/CT-HU ngày 09/04/2002
của Ban thường vụ Huyện uỷ Yên Thành đã tổ chức triển khai thực hiện dồn điền
đổi thữa.UBND huyện đã tiến hành thực hiện dồn điền đổi thữa và thu được nhiều
thành công to lớn.Trong đó xã Lăng Thành là một trong những xã hàon thành tốt
công tác dồn điền đổi thữa. Để có thể rút ra những bài học kinh nghiệm và làm sao
1
nâng cao được hiệu quả sử dung đất một cách tố nhất để nhân rông raở các địa
phương khác thì cần phải có những đánh giá nghiêm túc. Cho đến nay, mặ dù công

đã làm cho sản lượng lương thực, thực phẩm và giá trị thu nhập trên một đơn vị
diện tích không ngừng gia tăng. Vì vậy mà đời sốngnhân dân ngày càng được cải
thiện, bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới, đồng thời đất đai ngày càng được quản
lý chặt chẻ hơn. Bên cạnh những chuyển biến tích cực nêu trên, nghị định 64/CP
của chính phủ ngày càng bộc lộ những tồn tại và yếu điểm của nó, cản trở đáng kể
việc tổ chức thực hiện CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn đó là: ruộng đất giao
cho nông dân quá manh mún, bình quân mỗi hộ có từ 7-15 thửa, thậm chí có hộ
trên 20 thửa, nhiều thửa có diện tích 30-50m
2
và chiều rộng chỉ 2m. Đây thực sự
là yếu tố hạn chế cản trở tới quá trình cơ giới hoá nông nghiệp. mặt khác trình độ
năng lực trong thời kỳ tổ chức thực hiện giao đất ổn định lâu dài cho hộ nông dân
theo nghị định 65/CP còn rất thấp. Đặc biệt là trình độ năng lực sản xuất thâm
canh và chuyên canh theo hướng hàng hoá lớn. bên cạnh đó hệ thống giao thông
nội đồng chưa hoàn thiện ruộng đất chia cho nông dân “có tốt, có xấu, có xa có
gần” nên dẫn tới tình trạng mạnh mún và phức tạp. điều đó đã bộc lộ những khó
khăn trở ngại cho công tác quy hoạch giao thông, thuỷ lợi quy hoạch bố trí vùng
3
sản xuất chuyên canh và thâm canh theo hướng hàng hoá. Thêm vào đó đất đai bị
xói mòn diễn ra nhiều nơi nhất là những vùng có địa hình dốc và phức tạp.
Vì vậy trong giai đoạn hiện nay việc chuyển đổi ruộng đất, xoá bỏ tình trạng
đất đai phân tán và manh mún là một trong những yêu cầu cấp bách của nông dân
nhằm thực hiện từng bước sự nghiệp CNH- HĐH nông nghiệp nông thôn
2.2 Cơ sở thực tiễn của công tác dồn điền đổi thửa:
2.2.1. Công tác dồn điền đổi thửa ở Việt Nam:
Thực hiện nghị định 64/CP của chính phủ về giao đất ổn định lâu dài cho hộ
gia đình, cá nhân thì nhìn chung các tỉnh đều giử nguyên hiện trạng từ khoán 10
chuyển sang (phần lớn không tiến hành đo lại diện tích cho nông dân) đồng thời
quỹ đất công ích chưa quy hoạch cho hộ gia đình, tình trạng manh mún và phân
tán ruộng đất hầu như phổ biến ở các tỉnh thành trong cả nước nhất là các tỉnh

được cải thiện. Song bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác quản lý sử dụng
đất địa phương ngày càng bộc lộ nhiều tồn tại, gây trở ngại cho quá trình CHN,
HĐH nông nghiệp nông thôn, tình trạng ruộng đất phân tán và manh mún rất phổ
biến. Trước tình trạng trên ban thường vụ tỉnh uỷ, các cấp uỷ, tổ chức đảng, các
cấp lãnh đạo, tổ chức chỉ đạo thực hiện dồn điền đổi thửa nhằm khắc phục tình
trạng phân tán và manh mún ruộng đất, đồng thời đảm bảo cho các hộ gia, đình cá
nhân có vùng ruộng tập trung, để tạo điều kiện cho người sản xuất thâm canh và
chuyên canh. mặt khác tỉnh phấn đấu bình quân số thửa của mổi hộ đồng bằng từ
1-3 thửa. Riêng các xã thuộc huyện miền núi có địa hình phức tạp thì số thửa của
mổi hộ từ 4-6 thửa, trường hợp ruộng bậc thang không quá 5 vùng. Để triển khai
công tác trên ngày 05/04/2001 Ban thường vụ tỉnh uỷ, ra chỉ thị số 02/CT-TU về
việc vận động nông dân chuyển đổi ruộng đất để thực hiện CNH-HĐH nông
nghiệp nông thôn và kế hoạch 150/KH-UB của uỷ ban nhân dân tỉnh về việc triển
khai dồn điền đổi thửa. Các chỉ thị về kế hoạch này được thông báo sâu rộng trong
nhân dân nên đã được nhân dân trong tỉnh đồng tỉnh và ủng hộ vì thế các huyện đã
tổ chức triển khai và thu được những kết quả đáng khích lệ.
Trong năm 2001 toàn tỉnh có150 xã, phường, thị trấn triển khai công tác
dồn điền đổi thửa trong đó có 50 xã đã hoàn thành việc giao đất thực địa cho hộ
nông dân thực hiện vụ đông sản xuất vụ đông xuân 2001-2002 cụ thể: Huyện Đô
5
Lương có 12 xã, huyện Yên Thành có 10 xã, huyện Nghi Lộc có 8 xã, huyện
Thanh Chương có 9 xã và huyện Nam Đàn có 11 xã. Đồng thời Bình quân số thửa
trên hộ trước và sau dồn điền đổi thửa như bảng số liệu sau:(bảng 2 phần phụ lục)
Nhìn chung sau dồn điền đổi thửa bình quân diện tích trên mổi thửa đã tăng lên
một cách rõ rệt, nhiều thửa đã tăng lên 1 ha, sự tăng lên đó thể hiện rỏ qua bảng sau:
Trong những năm qua thực hiện nghị điịnh 64/CP của chính phủ, các cấp uỷ
Đảng đã chỉ đạo tích cực cho 37 xã, thị trấn, đến nay cơ bản các hộ trên địa bàn
huyện đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc giao đất ổn định lâu
dài cho hộ nông dân đã tạo động lực mạnh mẽ, nông dân yên tâm phát triển sản
xuất tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội góp phần xóa đói giảm nghèo, đời sống

ra .Mặc dù ban lãnh đạo xã đã co nhiều cố gắng,song mọi cố găng của họ vẫn
không thay đổi tình trạng trên .Tình trạng quản lí buông lỏng trong giai đoạn này
không chỉ xảy ra ở xã Lăng Thành mà còn phổ biến trong toàn Huyện và trong
toàn Tỉnh.
Tuy đang còn nhiều mặt tồn tại trong công tác quản lí đất đai,song xã Lăng
Thành cũng đã hoàn thành một số nội dung theo nghị quyết số 210/QĐ-CP của
chính phủ ngay 10/7/1980 và lập bản đồ giải thửa theo chỉ thị số 299/TTG ngày
10/11/1980 của thủ tướng chính phủ và thực hiện kịp thời công tác lập hồ sơ địa
chính cho các hộ gia đình. Đây thực sự là cơ sở pháp lí vững chắc góp phần nâng
cao hiêu quả công tác quản lí đất đai.
2.3.2 Thời kì có luật đất đai năm 1993 đến nay:
Sau khi luật đất đai năm1993 đến nay được ban hành thì công tác quản lí đất
đã từng bước đi vào ổn định và có nề nếp. Xã đã tiến hành giao đất cho từng hộ gia
đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, từ đó người dân đã mạnh dạn đầu tư thâm
canh để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, từng bước cải thiện đời sống của mình.
Bên cạnh những thuận lợi do luật đất đai mang lại thì công tác quản lí đất đai vẫn
còn một số tồn tại chưa khắc phục được đó là:
- Việc giao đất cấp giấy chứng nhận quyền sử dung đất được tiến hành khẩn
trương kịp thời song quá trình đó vẫn còn nhiều sai lầm nên đã gây ra những tranh
chấp trong nhân dân. Mặt khác, nhiều hộ gia đình đã tiến hành chuyển nhượng tự
7
do không thông qua xã nên đã gây khó khăn cho công tác quản lí và theo dõi biến
động đất đai.
-Tình trạng sử dụng đất vi phạm quy hoạch, kế hoạch vẫn thường xuyên
xảy ra đặc biệt là đối với đất ở. Nguyên nhân này là do khi cấp đất xã không căn
cứ vào quy hoạch mà chỉ căn cứ vào đơn do đó dẫn đến tình trạng các cấp có thẩm
quyền thu hồi đất của người dân khi họ đang sử dụng , điều này đã gây khó khăn
cho người dân .
- Việc kê khai đăng kí quyền sử dụng đất của xã không được thực hiện
thường xuyên qua các năm nên ban lãnh đạo xã không thể kiểm soát hết quỹ đất

Tuy vậy việc giao đất theo nguyên tắc khoán 10 (có gần, có xa, có tốt có
xấu) đã bộc lộ nhiều hạn chế như ruộng đất qua manh mún, phân tán gây khó khăn
cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và mùa vụ, đưa cơ giới hoá vào sản xuất và
ứng dụng tiến bộ kỹ thuật; trở ngại cho việc quy hoạch đồng ruộng , xây dựng cơ
sở hạ tầng; không tạo được vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá, kìm hảm sự phát
triển kinh tế hộ và tốc độ tăng trưởng nông nghiệp của từng vùng xã và toàn
Huyện . khó khăn cho việc thu hồi chuyển mục đích sử dụng đất theo yêu cầu phát
triển kinh tế- xã hội.
Trong vài năm gần đây, có một số hộ nông dân đã tự chuyển đổi ruộng đất
cho nhau, hoặc cho mượn ruộng đất các hộ liền kề nhau để tằng vụ( lúa + cá)
nhưng đang tự phát , chưa có sự chỉ đạo định hướng nên hiệu quả còn thấp.
Thực hiện chỉ thị 03 ngày 05/04/2001 c ủa ban thường vụ tỉnh uỷ , ban
thường vụ huyện uỷ Yên Thành yêu cầu các cấp uỷ Đảng lãnh đạo tốt công việc
vận động nông dân chuyển đổi ruộng đất. Kế hoạch 150/KH-UB ngày 09/11/2001
của UBND Huyện uỷ Yên Thành và hướng dẫn số 225/HD-ĐC ngày 05/06/2001
của sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Nghệ An phấn đấu đến năm 2003 hoàn
thành việcchuyển đổi ruộng đất trên toàn Huyện. để tiến hành nhân rộng ngày
27/07/2001 ban thường vụ huyện uỷ đã chọn xã Nam Thành làm xã điểm chỉ đạo
chuyển đổi ruộng đất để có thể rút ra những đánh giá bước đầu và những bài học
kinh nghiệm.
2.4 Mối liên hệ giữa công tác dồn điền đổi thửa với quy hoạch sử dụng quản
lý đất đai .
2. 4.1 Với quy hoạch sử dụng đất:
Quy hoạch sử dụng đất là một nội dung quan trọng của quá trình thực hiện
dồn điền đổi thửa. cụ thể là rà soát lại quy hoạch giúp chúng ta xác định lại các
tuyến giao thông, thuỷ lợi nội đồng tạo điều kiện thuận lợi cho công tác dồn điền
9
đổi thửa. Đồng thời quá trình tính toán diện tích giành cho các nhu cầu trong
phương án quy hoạch sẽ là cơ sở để điều chỉnh lại diện tích đất trong khi thực hiện
dồn điền đổi thửa. cũng chính nhờ quy hoạch mà trong quá trình thực hiện đồng

Là tài nguyên đất và sinh kế của nông hộ
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
-Về phạm vi thời gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành từ ngày
02/01/2007-07/05/2007
-Về phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành điều tra khảo sát và đánh giá
toàn bộ đất đai và nông hộ về kinh tế- xã hội trên địa bàn xã Lăng Thành.
3.3 Nội dung nghiên cứu:
-Điều tra, khảo sát và đánh giá điều kiện tự nhiên- kinh tế- xã hội của xã
Lăng Thành
-Đánh giá tình hình sử dụng , quản lý đất đai trên địa bàn xã
- Tìm hiểu nộng dung, quy trình và các bước thực hiện phương án dồn điền
đổi thửa ở xã Lăng Thành
- Đánh giá thực trạng công tác dồn điền đổi thửa đất nồng nghiệp
- Đánh giá hiểu quả công tác dồn điều đổi thửa mang lại đối với việc sử dụng
đất của nông hộ
3.4. Phương pháp nghiên cứu và chỉ tiêu nghiên cứu:
* Phương pháp chọn điểm:
Điểm nghiên cứu được chọn là xã Lăng Thành huyện Yên Thành , tỉnh
Nghệ An. Đây là xã bán sơn địa mang tính đặc thù của Huyện, là xã thực hiện dồn
điền đổi thửa thành công. Từ một xã còn gặp nhiều khó khăn đã vươn lên trở
thành một trong những xã đi đầu trong mọi hoạt động của toàn huyện.
* Phương pháp chọn hộ:
Để tiến hành điều tra đánh giá hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa tôi đã
chọn hộ gia đình là những hộ tham gia quá trình dồn điền đổi thửa, có những hộ đã
11
vươn lên thoát cảnh nghèo nàn trở nên giàu có và những hộ còn gặp nhiều khó
khăn .
* Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp.
Các số liệu này được thu thập từ các số liệu liên quan đến các văn bản về
đất đai và các tài liệu hướng dẩn sử dụng đất tại phòng nông nghiệp của huyện,

- Giá trị sản xuất bình quân/sào (GO/sào
Trong đó: GO là giá trị sản xuất/sào
KI: là năng suất bình quân/sào
P: là đơn giá bình quân/kg
- Giá trị gia tăng bình quân sào (VA/IC)
Trong đó: VA: là giá trị gia tăng/sào
IC: là chi phí trung gian/sào
- Hiệu suất GO/IC: thể hiện cứ một đồng chi phí trung gian được đầu tư tạo
ra bao nhiêu đồng doanh thu. Hiệu suất càng lớn thì sản xuất càng có hiệu quả.
- Hiệu suất VA/IC: thể hiện cứ một đồng chi phí trung gian được đầu tư tạo
ra bao nhiêu đồng giá trị gia tăng thu nhập.
ua13
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Tình hình kinh tế -xã hội
4.1.1 Dân số lao động:
Dân số và lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế nói
chung và nông nghiệp nói riêng. Nếu dân số và lao động phát triển không hơp lý,
không đi đôi với các giải pháp kinh tế thì không những làm cho cuọc sống của
người dân nghèo đi mà còn kéo lùi sự phát triển kinh tế của nước nhà. Xã lăng
thành là một xã đông dân số 7254 người, mật độ dân số 151 người/km
2
, tỷ lệ tăng
dân số ngày một giảm đi chỉ còn 0,91%. Đây là kết quả của sự tích cực trong việc
thực hiện công tác kế hoạch hoá gia đình của xã trong những năm qua. Trong
những năm tới xã có phương hướng hạ tỷ lệ tăng dân số xuống còn 0,8%. Nhìn
chung dân cư phân bố không đều do địa hình đồi núi, hộ và khẩu cũng như thành

* Nghành nông lâm nuôi trồng thuỷ sản: giá trị sản xuất đạt 20457940 tăng so
với năm 2005 = 12,4%.
-Về trồng trọt: toàn xã gieo trồng được 741,3 ha trong đó: vụ Đông Xuân
376,3 ha, vụ Hè Thu 306,01 ha, vụ mùa 50,29 ha , cây ngô 70 ha giảm so với kế
hoạch, cây lạc 45 ha, cây đậu xanh 27,5 ha, cây sắn 85 ha, rau màu 20 ha.
Xã cũng đã xây dựng đồ án cánh đồng 50 triệu đồng ở các xóm 3+4+6, cơ
cấu các loại cây trồng lạc+ đậu xanh, dưa hấu, rau màu hiệu quả cao.
Nghành trồng trọt năng suất lúa đạt 5,7 tấn/ha với sản lượng lương thực lúa
409519 giảm so với năm 2005 = 230,81 tấn
Năng suất ngô 40 tạ/ ha với sản lượng 300 tấn, cây lạc 16 tạ / ha với sản lượng
43,3 tấn, cây dứa 20 tấn/ ha, cây mía 30 tấn/ ha.
Để đạt được những kết quả trên Đảng uỷ- HĐND-UBND xã-HTXNN đã chỉ
đạo tốt công tác sản xuất trong năm, chú trong khâu chuẩn bị sản xuất, đôn đốc
làm thuy lợi , đưa tiến bộ khoa học kỷ thuật vào sản xuất như giống lúa khải
15
phong, sắn cao sản, xây dựng cánh đồng 50 triệu, làm tốt công tác phong trừ sâu
bệnh.
- Về chăn nuôi: Trong năm 2006 có bước phát triển mạnh, tổng đàn trâu
bò 1.471 con, tổng đàn gia cầm 20.551 con, đội ngũ thú y thường xuyên kiểm tra
tình hình dịch bệnh , tiêm phòng kịp thời
-Về thuỷ sản: hàng năm xã có chu trương nạo vét hồ đập và các gia đình
đã đào ao nuôi cá nhưng diện tích không đáng kể. năm 2006 tổng gia tri sản lượng
là 25 tấn.
-Về lâm nghiệp: là xã miền núi nên diện tích đât lâm nghiệp của xã là rất
lớn nhưng nguôn thu nhập từ lâm nghiệp mang lại chưa cao. Tuy nhiên xã luôn
chú trong công tác chăm sóc diện tích rừng hiện có, làm tốt công tác phòng cháy
chữa cháy, 13 tố phòng cháy chữa cháy ở 13 xóm, sẵn sàng huy động khi có sự cố.
- Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp-xây dựng cơ bản:
Nghành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp có chiều hướng mở rộng và phát
triển. Một số ngành như may, xay xát, buôn bán nhỏ, hang điện tử dân dụng thu

Hoạt động y tế luôn được quan tâm , trung tâm y tế xã phối hợp với trạm y
tế ở các thôn xóm thưòng xuyên tiêm chung mở rộng, khám định kỳ cho trẻ em,
người tàn tật
- Dân số- gia đình và trẻ em: Được sự quan tâm chỉ đạo , triển khai lịp thời
các chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước. Xã đã đẩy mạnh công tác tuyên
truyền và vận động KHHGĐ, số trẻ em sinh trong năm là 88 cháu.
- Công tác chính sách- quóc phòng an ninh:
Các chính sách xã hội thực hiện đầy dủ, kịp thời chi trả lương phụ cấp chho
người có công, tổ chức thăm hỏi kịp thời các đối tượng chính sách vào các ngày lể,
tết, xoá nhà tranh dột nát, cấp thẻ bảo hiểm cho người nghèo.
Tình hình an ninh trật tự được giữ vững, xây dựng phương án đấu tranh
phòng ngừa các loại tội phạm hình sự và ma tuý, tuyên truyền đến học sinh không
vi phạm phát luật, hoàn thành chỉ tiêu khám tuyển nghĩa vụ quân sự và giao quân
100%.
17
* Đánh giá chung về tình hình kinh tế- xã hội của Xã:
Nhìn chung tinh hình kinh tế của Xã đang ở mức trung bình, tốc độ phát
triển khá nhanh chỉ trong vài năm trở lại đây nhưng không đều. Lực lượng lao
động dồi dào song cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất ở mức quá khiêm tốn. Sản
xuất nông nghiệp chủ yếu dựa vào cây lúa, các loại cây trông khác hiệu quả inh tế
còn chưa cao. Mặt khác sản xuất nông nghiệp thường bị ảnh hưởng bởi thiên tai,
thời tiết vì thế hiệu quả kinh tế chưa cao.
Cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn gây khó khăn trong việc vận chuyển và đặc
biệt là ảnh hưởng đến vấn đề giải quyết đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp của
người dân.
4.2 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
4.2.1 Tài nguyên đất của xã Lăng Thành
Với chiều dài 15 km, chiều rộng nhất 8,5 km, chiều hẹp nhất 250m, điểm
cao nhất Động Trám 449m, điểm thấp nhất Lục Đạt bằng 0 so với mực nước biển.
Lăng thành là một xã chủ yếu đồi núi và đất lâm nghiệp, phía Nam là trung

5 Đất phù sa cổ có hiện tượng bạc màu 249,00 5,0
6 Đất phù sa không được bồi đắp, không
có glay hoặc glay yếu
148,00 3,0
7 Đất phù sa không được bồi đắp có glay
trung bình
59,00 1,2
8 Đất sông suối 20,00 0,4
(Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An năm 2003)
Căn cứ vào bảng trên chi thấy: Điều kiện đất đai của xã cho phép phát triển
mô hình nông lâm ngư nghiệp nhưng thế mạn là nông lâm đặc biệt là lâm nghiệp
vì đất có khả năng lâm nghiệp chiếm 85%. như vậy trong chuyển dịch cơ cấu cây
trồng phải chú trọng khai thác hợp lý tiềm năng của đất.
* Hiện trạng sử dụng đất:
Trong tổng số 4935,82 ha đất tự nhiên được sử dụng vào các mục đích:(bảng 6)
Qua bảng số liệu cho thấy : qua 4 năm diện tích đất tự nhiên của xã Lăng
Thành không thay đổi, đất nông nghiệp tăng lên sau 4 năm là 136,92 ha tức tăng
lên( 2,77%). Diện tích đất lâm nghiệp năm 2003 là 1237,40 ha chiếm 25,07% năm
2006 là 2098,80 ha chiếm 42,52%.
Qua 4 năm diện tích đất lâm nghiệp của xã tăng lên 861,4 ha tăng 17,45%
nguyên nhân là do xã thực hiên dự án phủ xanh đất trống đồi núi trọc và dự án
trông thông, cây bạch đàn để phục vụ cho công nghiệp
Đất chuyên dùng và đất thổ cư, đất hồ đầm không tăng hoặc có tăng nhưng không
đáng kể.
19
Bảng 6: Diện tích và phân bố sử dụng các loạ đất đai của xã Lăng Thành qua
một số nămtừ 2003- 2006
T
T
Năm

3 Đất thổ

43,95 0,98 44,72 0,9 44,47 0,9 45,59 0,92
4 Đất chưa
sử dụng
2907,62 58,92 2851,87 57,78 2823,27 57,21 1096,1 22,21
5 Đất hồ
đầm
20,00 0,40 20,00 0,40 20,00 0,40 20,00 0,40
6 Đất lâm
nghiệp
1237,40 25,07 1257,40 25,47 1268,20 25,7 2098,80 42,52
( Nguồn: Thống kê, kiểm kê diện tích đất đai phòng địa chính xã Lăng Thành)
Đất chưa sử dụng của xã năm 2003 là 2907,62 ha chiếm 58,91% năm 2006
là 1096,1 ha chiếm 22,21% giảm 36,7%. Nguyên nhân là do sự mở rộng của đất
thổ cư, sự mở rộng của đất sản xuất nông nghiệp , là do tổng đội thanh niên xung
phong 6 đóng ở quỳnh tam đã khai phá vùng đât chưa sử dung tại Động Cầu của
xã để đưa vào sản xuất dứa và rau màu, thưc hiện dự an phủ xanh đất trống đồi núi
trọc,trồng các loại cây lâm sản để phục vụ cho công nghiệp chế biến nên diện tích
đất lâm nghiệp tăng lên.
Như vậy đất chưa sử dụng của xã chiếm gần 22,21% diện tich đất tự nhiên,
tuy qua 4 năm đã có sự cải tạo để phục vụ cho sản xuất nhưng diện tích còn bỏ
hoang hoá quá nhiều . Tuy tổng diện tích đất chưa sử dụng đến năm 2006 giảm so
với năm 2005 là 1825,56 ha. Xã đã quy hoạch vùng đất sản xuất tích cực vận động
bà con ở dưới trung tâm xã lên vùng kinh tế mới, mở rộng quy mô sản xuất các
trang trại hộ gia đình, chú trọng phát triển cây lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc gia
20
cầm. Nhưng xã cần có một định hướng trong tương lai đẻ phát huy thế mạnh của
mình đồng thời khai phá cải tạo vùng đất ở vùng bằng phẳng phục vụ cho sản xuất
nông nghiệp, vùng đồi núi chuyển sang chăn nuôi và trồng cây lâm nghiệp.

cây trồng nói riêng.
Với những thuận lợi và khó khăn do thời tiết như vậy người dân đã đa dạng
hoá cây trồng, vật nuôi để phát huy những thuận lợi của điều kiện tự nhiên.
4.2.3 Nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
Tuy là xã miền núi nhưng nguồn nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp lại
có thế mạnh riêng. Con sông đào chảy qua, con sông này được xây dựng từ thời
pháp thuộc, lấy nguồn nước của sông Lam đẻ tưới tiêu cho 4 Huyện (Đô Lương,
Yên Thành, Diễn Châu, Quỳnh lưu). Lượng nước sông Đào tưới tiêu đảm bảo ổn
định cho 60% diện tích đất nông nghiệp chuyên lúa của xã. Ngoài ra xã có một hệ
thống hồ đập địa phương, hai trạm bơm với công suất 2000m
3
/giờ, với Bàu Sừng
uốn khúc quanh co các làng vừa làm nhiệm vụ cung cấp nước sinh hoạt ,vừa là
nguồn nước phục vụ cho trạm bơm điện . Cùng với đập Đồng Húng ,Học Bà Nha,
Trổ Chảy, Bồng Sơn,Cánh Cạn đảm bảo nhu cầu nước cho diện tích còn lại. Bên
cạnh những thuận lợi trên, số diện tích thuộc lòng Hồ Vách Bắc do yêu cầu của
công trình mùa mưa lũ bị ngập lụt vì thế việc tổ chức sản xuất để né tránh thiên tai
là một vấn đề còn gặp nhiều khó khăn.
4.3 Nội dung, quy trình dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp tại xã Lăng Thành
4.3.1 Tình hình giao đất cho hộ nông dân theo nghị định 64/CP của chính phủ:
Sau khi chính phủ ban hành nghị định 64/CP của chính phủ ngày 27/9/1993,
thực hiện chỉ thị số 02/CT-TU ngày 5/4/2001 của ban thường vụ huyện uỷ và
quyết định của UBND huyện . Đảng uỷ xã Lăng Thành đã họp và quán triệt nội
dung nghị đinh trong cán bộ toàn xã và toàn bộ nhân dân để triển khai tổ chức giao
đất cho các hộ gia đình, cá nhân sử dung đất ổn định, lâu dài vào mục đích sản
xuất nông nghiệp. Đến năm1994 toàn xã đã giao ruộng đất đến từng hộ gia đình,
cá nhân với kết quả như sau:Tổng số hộ được giao theo nghị định 64/CP là 1357
hộ với số khẩu là 6160 và tổng số thửa là 24210. Trong quá trình thực hiện giao
đất xã đã trích ra 18,65 ha dùng vào mục đích công ích. Số diện tích nay phân bố
đều trên cả 13 xóm và ở các xứ đồng ở trong xã với hình thức quản lí là cho thuê

hoạch nhằm quy hoạch lại đồng ruộng , đảm bảo vùng chuyên canh lớn và chuyển
đổi đươc từ ô thửa nhỏ sang ô thửa lớn. Đây là nhiệm vụ toàn Đảng toàn dân nhằm
thực hiên tốt nghị quyết trung ương V khoá IX của Đảng.
23
4.3.2 Tình hình biến động đất đai từ khi thực hiện dồn điền đổi thửa:
Sau khi thực hiện giao đất lâu dài cho nông dân theo nghị định 64/CP của
chính phủ thì đất đai xã Lăng Thành đã đượ sử dụng hợp lý , có hiệu quả, năng
suất cây trồng ngày càng cao, tình hình biến động đất đai qua các năm đã giảm
hẳn. Mặt khác, việc quản lý đất đai cũng thuận lợi hơn nhiều, tình trạng “đất vô
chủ” không còn nữa. Quá trình điều tra thu thập số liệu năm 2005 và năm 2006
thể hiện qua bảng số liệu sau:

24
Bảng 7: tình hình biến động đất đai từ năm 2005 so với năm 2006
Loại sử dụng
Diện tích
năm 2006
Diện tích
năm 2005
Tăng(+)
Giảm(-)
Tổng diện tích đất tự nhiên 4935,82 4935,82 0
1. Đất nông nghiệp 3661,13 3516,88 +144,25
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 607,85 632,1 +24,25
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 437,47 641,72 +24,25
1.1.1.1 Đất trồng lúa 382,79 383,84 -1,05
1.1.1.2 Đất trồng cây hàng năm khác. 78,93 53,63 +25,30
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 170,38 2908.80 0
1.2 Đất lâm nghiệp 3028,8 2908,80 +120,00
1.2.1 Đất rừng sản xuất 1402,1 1282,10 +120,00


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status