Đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất mía nguyên liệu của các hộ nông dân tại xã châu hội huyện quỳ châu tỉnh nghệ an - Pdf 37

I - ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Phát triển NN nông thôn bền vững luôn là mục tiêu quan trọng nhất của
Đảng và Nhà Nước ta trong thời kỳ hội nhập vào nền kinh tế chung của thế giới. Để
đạt được mục tiêu đó, trong vùng chúng ta phải khai thác được tiềm năng và lợi thế
có sẵn của vùng, lựa chọn quyết định sản xuất sản phẩm nào có lợi thế nhất, phù
hợp với chương trình phát triển kinh tế NN nông thôn.
Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới rất thích hợp cho cây mía
sinh trưởng và phát triển. Được sự quan tâm của Đảng và Nhà Nước về phát triển
vùng mía nguyên liệu, diện tích trồng mía ngày càng được mở rộng đã đáp ứng
phần nào nhu cầu tiêu thụ đường trong nước. Tuy nhiên, hiện nay thiết bị công nghệ
sản xuất mía đường của Việt Nam còn lạc hậu, khả năng thu hồi đường thấp, tỷ lệ
phế phẩm cao. Ngoài ra việc quy hoạch vùng nguyên liệu cũng chưa tốt dẫn đến
tình trạng tranh mua, tranh bán mía nguyên liệu giữa các nhà máy làm giá nguyên
liệu đầu vào tăng cao khoảng 15-22 USD/tấn, cao so với Thái Lan khoảng 9-11
USD/tấn. Chưa kể các nhà máy đường và khu quy hoạch trồng mía đường được xây
dựng chủ yếu bằng nguồn vốn vay nước ngoài... Hàng năm, Nhà nước vẫn phải
nhập hàng chục tấn đường để phục vụ tiêu dùng nội địa do sản xuất không ổn định,
tăng trưởng chậm, chưa đáp đủ nhu cầu tiêu dùng.
Châu Hội là một xã miền núi thuộc huyện Quỳ Châu của miền Tây xứ Nghệ.
Đây là xã có nhiều dân tộc sinh sống, trình độ nhận thức còn hạn chế nên đời sống
của họ còn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, với lợi thế của xã là vùng đất đỏ, vùng
đồi nên trồng rừng luôn được xã chú trọng phát triển. Các loại cây đưa vào trồng
chủ yếu là quế, lát hoa; các loại cây nguyên liệu như keo lai, bạch đàn được cung
cấp cho Nhà máy Giấy Nghệ An và Nhà máy Gỗ MDS. Đặc biệt, vài năm trở lại
đây, bà con trồng măng tre phục vụ xuất khẩu. Ngoài các loại cây lâm nghiệp thì
không thể không kể đến cây mía. Đã từ lâu cây mía đã trở thành thế mạnh của xã và
là vùng mía nguyên liệu quan trọng của nhà máy đường Nghệ An Tate & Lyle.

1


các câu hỏi liên quan đến các vấn đề nghiên cứu như sau:

2


1. Hiệu quả kinh tế của các hộ sản xuất mía nguyên liệu như thế nào ?
2. Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất mía nguyên liệu
của hộ và mức ảnh hưởng của chúng ?
3. Những thuận lợi và khó khăn cơ bản của hộ sản xuất mía nguyên liệu tại
xã Châu Hội ?
4. Biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế và nâng cao thu nhập cho các hộ
nông dân sản xuất mía nguyên liệu tại xã Châu Hội ?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chủ yếu tập trung vào nghiên cứu một số hộ trồng mía nguyên liệu ở
xã Châu Hội.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của sản xuất mía nguyên
liệu.
- Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn xã Châu HộiHuyện Quỳ Châu- Tỉnh Nghệ An.
- Phạm vi về thời gian:
+ Thời gian thực hiện đề tài từ 12/1/2010 đến 26/5/2010
+ Thời gian thu thập số liệu nghiên cứu trong 3 năm 2007-2009. Tập
trung chủ yếu vào năm 2009.

3


PHẦN II– CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận

nhu cầu cụ thể của hộ gia đình như một tổng thể mà không dựa trên chế độ trả công
theo lao động với mỗi thành viên của nó”.
Có quan điểm cho rằng: “ Kinh tế hộ nông dân bao gồm toàn bộ các khâu
của quá trình tái sản xuất mở rộng: Sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng. Kinh tế
hộ thể hiện được các hoạt động kinh tế trong nông thôn như hộ NN, hộ nông-lâmngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương nghiệp”.
Có ý kiến lại cho rằng: “Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế phức
tạp xét từ góc độ quan hệ kinh tế tổ chức, là sự kết hợp những ngành, những công
việc khác nhau trong quy mô gia đình nông dân”.
Theo Frank Ellis (1988): “Kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia
đình có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu lao động của gia
đình. Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở
mức độ không hoàn hảo vào hoạt động của thị trường.
Theo TS. Đỗ Văn Viện (2006): “ Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức
kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, lao động,
tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất. Có chung
ngân quỹ, ngủ chung một nhà, mọi quyết định trong sản xuất – kinh doanh và đời
sống là tùy thuộc vào chủ hộ, được Nhà nước, hỗ trợ và tạo điều kiện để phát
triển”.
Từ các khái niệm trên nhận thấy: Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức
kinh tế cơ sở của xã hội, trong đó có các nguồn lực như đất đai, lao động, tiền vốn
và tư liệu sản xuất.
2.1.1.2 Khái niệm về hiệu quả kinh tế (HQKT)
a) Quan điểm truyền thống về HQKT
Quan điểm truyền thống cho rằng, nói đến HQKT tức là nói đến phần còn lại
của kết quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ chi phí. Nó được đo bằng các chi phí
và lời lãi. Nhiều tác giả cho rằng, HQKT được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu
được với chi phí bỏ ra, hay ngược lại là chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị
sản phẩm. Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là giá thành sản phẩm hay mức sinh

5

quả kỹ thuật của các đơn vị sản xuất kinh doanh đạt >=90% thì đơn vị nên thay đổi
công nghệ sản xuất mới để nâng cao sản lượng đầu vào. Ngược lại, nếu hiệu quả kỹ
thuật đạt được
một đơn vị sản phẩm thì không đạt hiệu quả kỹ thuật tối đa và hãng cần phair cắt
giảm đầu vào QP để vẫn sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Y và hiệu quả kỹ thuật
được đo:
OQ
QP
TE = ------ = 1 - ----OP
OP
Q’ là điểm hãng vừa đạt được hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ.
Do vậy hiệu quả phân bổ được xác định là : AE = OR/OQ
Hiệu quả kinh tế được xác định : EE = TE*AE = OR/OP
* Hiệu quả trong không gian đầu ra - đầu ra
Giả sử người sản xuất cần phân bổ nguồn lực khan hiếm cố định vào hai
sản phẩm Y1 và Y2 với giá
Y sản
(Đầuphẩn
ra) tương ứng là P1 và P2.
2

PPF
D
B
A

O

C

Y1 (Đầu ra)

0

người sản xuất có trình độ tốt nhất có thể đạt được mức sản lượng Y 2 – mức sản
lượng cao nhất có thể cùng với mức đầu tư.
Y (Đầu ra)

PX/P

Ym

C
Y1

Ya
B

Y2
Y3

A

O
X1

X (Đầu vào)
X2

Hình 2.3 : Sự lựa chọn phối hợp yếu tố đầu vào và đầu ra
(Nguồn: Phạm văn Hùng, 2006).

10



11


khác nhau về mối liên hệ giữa kết quả và hiệu quả.
- Kết quả là một đại lượng vật chất phản ánh về quy mô số lượng của sản xuất.
- Hiệu quả là đại lượng để xem xét kết quả đạt được tạo ra như thế nào,
nguồn chi phí vật chất bỏ ra bao nhiêu để đạt được kết quả đó.
2.1.1.4 Phân loại hiệu quả kinh tế
a) Phân loại HQKT theo nội dung
Theo nội dung của hiệu quả, người ta chia thành: hiệu quả kinh tế, hiệu quả
xã hội và hiệu quả môi trường.
- Hiệu quả kinh tế được biểu thị bởi quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt
được và lượng chi phí bỏ ra trong sản xuất. Một phương án, một giải pháp có
HQKT cao là phải đạt được tương quan tương đối tối ưu giữa kết quả đạt được và
chi phí đầu tư. Tiêu chuẩn của HQKT là tối đa hoá về kết quả sản xuất và tối thiểu
hoá chi phí trong điều kiện nguồn lực có hạn.
- Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội
và tổng chi phí bỏ ra. Hiệu quả xã hội có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và
thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người. Tuy nhiên, do việc lượng hoá
các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn nên hiệu quả xã hội
chủ yếu phản ánh qua các chỉ tiêu định tính như: Xoá đói giảm nghèo, tạo việc
làm...
- Hiệu quả môi trường đang là vấn đề bức bách được nhiều cấp, ngành, nhà
quản lý và nhà khoa học quan tâm. Nếu chỉ quan tâm đến HQKT mà không chú ý
đến hiệu quả môi trường có thể dẫn đến những tổn thất lớn hơn nhiều so với lợi ích
kinh tế mang lại đồng thời khắc phục hậu quả rất khó khăn. Hiệu quả môi trường
được phân tích bằng các chỉ tiêu định tính như bảo vệ sự đa dạng sinh học, tạo ra sự
cân bằng sinh thái...
Trong các loại hiệu quả trên thì HQKT đóng vai trò trọng tâm, mang tính


H: Hiệu quả kinh tế
Q: Kết quả thu được
C: Chi phí bỏ ra

Chỉ tiêu này thường được tính cho một đơn vị chi phí bỏ ra như tổng chi phí,
chi phí trung gian, chi phí lao động... Chỉ tiêu này càng lớn hiệu quả càng cao. Tuy
nhiên ở cách tính này quy mô sản xuất lớn hay nhỏ chưa được tính đến, không so
sánh được HQKT của các đơn vị sản xuất có quy mô khác nhau. Hơn nữa chỉ tiêu
này chỉ cho biết quy mô của hiệu quả chứ không chỉ rõ được mức độ hiệu quả kinh

13


tế, do đó chưa giúp cho nhà sản xuất có những tác động cụ thể vào các yếu tố đầu
vào để giảm chi phí nguồn lực, nâng cao hiệu quả kinh tế.
Công thức 2: H =

Q
C

hoặc ngược lại H =

C
Q

Khi so sánh hiệu quả thì việc sử dụng số tương đối là cần thiết bởi nó nói lên
mặt chất lượng của hiện tượng. Cách tính này có ưu điểm là phản ánh được mức độ
sử dụng các nguồn lực, xem xét được một đơn vị nguồn lực mang lại kết quả là bao
nhiêu. Vì vậy nó giúp cho việc đánh giá HQKT của các đơn vị sản xuất một cách rõ

14


2.1.2 Đăc điểm kinh tế - kỹ thuật cây mía nguyên liệu
2.1.2.1 Đặc điểm sinh học
Mía có tên khoa học là Saccharumof feiniruml, là ngành có hạt, lớp 1 lá
mầm, thuộc họ hoa thảo, chu kỳ sinh trưởng của cây mía là từ bông hom đến thu
hoạch kéo dài 1năm. Trường hợp đặc biệt là 2 năm như ở Hawoai (Mỹ). Thời gian
sinh trưởng của mía kéo dài 5 giai đoạn: nảy mầm, đẻ nhánh, vươn cao, chín công
nghiệp và giai đoạn treo cờ.
2.1.2.2 Yêu cầu sinh thái
a) Khí hậu
Mía là cây trồng yêu cầu nhiệt độ cao, lượng mưa nhiều và cường độ ánh
sáng lớn, trong điều kiện khí hậu của Miền Trung, cây mía là một trong những loại
cây trồng có khả năng mang lại hiệu quả kinh tế cao.
b) Nhiệt độ
Nhiệt độ bình quân thích hợp cho sự sinh trưởng của cây mía là 15-26 0C.
Giống mía nhiệt đới sinh trưởng chậm khi nhiệt độ dưới 21 0C và ngừng sinh trưởng
130C và dưới 50C cây chết. Những giống mía á nhiệt đới tuy chịu rét tốt hơn nhưng
nhiệt độ thích hợp cũng giống như mía nhiệt đới. Thời kỳ nảy mầm mía cần nhiệt
độ trên 150C tốt nhất là từ 26-330C. Mía nảy mầm kém ở nhiệt độ dưới 150C và trên
400C. Từ 28-350C là nhiệt độ thích hợp cho mía vươn cao. Sự giao động biên độ
nhiệt giữa ngày và đêm liên quan tới tỷ lệ đường trong mía. Giới hạn nhiệt độ thích
hợp cho thời kỳ mía chín từ 15-20 0C. Vì vậy tỷ lệ đường trong mía thường đạt ở
mức cao nhất cho các vùng có khí hậu lục địa và vùng cao.
c) Ánh sáng
Mía là cây nhạy cảm với ánh sáng và đòi hỏi cao về ánh sáng.Thiếu ánh sáng
mía phát triển không tốt, hàm lượng đường thấp. Mía cần thời gian tối thiểu là 1200
giờ tốt nhất là trên 2000 giờ. Quang hợp của cây mía tỷ lệ thuận với cường độ và độ
dài chiếu sáng. Thiếu ánh sáng cây hút phân kém do đó phân đạm, lân, kali chỉ hiệu

nhiều ánh sáng mặt trời hơn. Nếu đất đồi thì rạch hàng song song với đường đồng
mức để hạn chế sói mòn, khoảng cách hàng là: 1.2-12 cm, độ sâu từ 35-40 cm.
c) Chuẩn bị hom giống
Có thể trồng bằng ngọn tận dụng (ngọn 1) ở ruộng mía tơ, lưu gốc 1, loại bỏ
cây bị sâu bệnh, phần gốc già, chặt hom từ 25-30 cm (có 2-3 mắt) bằng dao sắc,
tránh hom bị dập vỡ.
d) Cách trồng

16


Rải đều lượng phân bón xuống đáy rãnh, cuốc lấp một lớp đất mỏng rồi đặt
hom sao cho mắt mầm nằm sang hai bên để mầm rễ phát triển.
e) Bón phân
Vôi bột từ 1000-1800 kg/ha (tuỳ theo độ PH của từng loại đất) rải đều trước
khi bừa, phân hữu cơ nếu có rải đủ từ 10-15 tấn/ha, thì rải đều lên mặt đất trước khi
kéo hàng, nếu ít thì bón xuống rãnh cùng với các loại phân khác, bón lót toàn bộ
phân hữu cơ với 1/2 kali và 1/2 đạm và lân xuống đáy rãnh. Còn 1/2 đạm và 1/2 kali
dùng để bón thúc, lần 1 lúc mía có 1- 6 lá (1.5-2 tháng) giai đoạn đẻ nhánh, lần 2
lúc mía có 10-15 lá ( giai đoạn phát bóng ) bằng cách cày xa gốc, sâu 5-10 cm.
Ngoài ra còn phải làm sạch cỏ, phát quang, đánh lá qua từng giai đoạn để đảm bảo
ánh sáng, tránh được mần bệnh hình thành.
f) Phòng trừ sâu bệnh
Luôn kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sớm sâu bệnh để có biện pháp phòng
trừ kịp thời, có hai loại sâu bệnh thường xuyên gây hại, ảnh hưởng đến năng suất
chất lượng của mía, đó là: sâu đục thân và rệp hại mía, khi phát hiện ra thì phải kịp
thời phun thuốc trừ sâu.
g) Chăm sóc mía gốc sau khi thu hoạch
+ Có thể đốt sạch lá còn lại, có điều kiện thì cào vào giữa hàng
+ Băm lại gốc sâu xuống mặt đất 2-3 cm ( chặt hết mầm )

che đất vào mùa nắng, tủ đất vào mùa mưa, chính vì vậy cây mía đã góp phần cải
tạo sinh thái môi trường.
2.1.3.5 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển NN nông thôn
Ngành mía đường phát triển đã giúp nông dân khai hoang phục hoá, chuyển
dịch cơ cấu cây trồng, mở rộng thêm diện tích trồng mía thêm được 200.000 ha, đưa
tổng diện tích trồng mía bán nguyên liệu cho các nhà máy và các cơ sở chế biến thủ
công được gần 18 triệu tấn mía cây, giải quyết việc làm cho hơn 1 triệu lao động
trong NN, hàng năm có từ 150-200 ngàn hộ nông dân trồng mía đã ký hợp đồng
kinh tế trồng và bán mía cho các nhà máy trong đó 70% số hộ hàng năm đã được ký
hợp đồng đầu tư và bao tiêu sản phẩm ổn định sản xuất. Nhiều nhà máy đã đầu tư
ứng trước giống mía, phân bón, cày bừa đất, thuốc sâu... và cử cán bộ nông vụ
hướng dẫn tập huấn chuyển giao kỹ thuật trồng mía, tăng năng suất, sản lượng mía
bán cho các nhà máy.

18


2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến HQKT trong sản xuất mía nguyên liệu
2.1.4.1 Nhóm yếu tố tự nhiên
a) Khí hậu
Mía là cây cần nóng ẩm và biên độ nhiệt độ lớn, lượng mua nhiều và cường
độ ánh sáng thích hợp sẽ cho năng xuất cao và nâng cao HQKT trong sản xuất mía.
b) Nhiệt độ
Nhiệt độ thích hợp cho cây mía sinh trưởng và phát triển tốt là từ 24 0C đến
300C. Nếu nhiệt độ dưới 200C thì mía sinh trưởng rất chậm và mang lại HQKT thấp.
c) Lượng mưa
Cây mía có thể phát triển được ở những nơi có lượng mưa hàng năm khoảng
1500-2000mm, lượng mưa này phân bổ ở thời kỳ vươn cao là tốt nhất.
d) Ánh sáng
Mía là cây cần ánh sáng, nếu được chiếu sáng đầy đủ sẽ đẻ sớm, đẻ nhiều, tỷ

cho từng vụ. Như vậy một chu kỳ sản xuất mía càng nhiều năm thì chi phí phân bổ
cho 1 năm càng ít. Đây là một yếu tố để giảm chi phí, hạ giá thành, nâng cao HQKT
sản xuất mía. Tuy nhiên, số vụ để mía lưu gốc không nên quá nhiều sẽ gây ảnh
hưởng đến năng suất mía vì sau thời gian này gốc mía sẽ trở nên cằn cỗi, khả năng
sinh trưởng và đẻ nhánh thấp.
b) Kỹ thuật canh tác
Kỹ thuật canh tác là yếu tố quan trọng quyết định trực tiếp đến năng suất
mía. Muốn đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao thì người trồng mía phải nắm
vững và đáp ứng đầy đủ quy trình kỹ thuật từ khâu chọn lọc giống mía, kỹ thuật làm
đất (làm đất cơ giới tạo được rãnh sâu hơn nên năng suất mía gốc đạt cao hơn), kỹ
thuật bón phân, chăm sóc..Nội dung này người trồng mía cần tiếp thu qua hệ thống
khuyến nông, đặc biệt khuyến nông chuyên ngành mía. Nếu áp dụng không đúng
hoặc sai khác ở một công đoạn nào đó trong quy trình kỹ thuật đều làm giảm năng
suất mía và mang lại hiệu quả kinh tế thấp.
c) Bảo vệ thực vật
Đây là yếu tố quan trọng không kém gì khâu chọn giống, yếu tố này quyết
định phần nào đến sản lượng cây trồng. Đặc biệt là đối với cây mía thì công tác bảo
vệ thực vật phải hết sức chú trọng vì đó là cây trồng rất dễ mẫn cảm với sâu bệnh.
Nếu công tác BVTV được thực hiện tốt thì sẽ giúp cây mía phát triển tốt, cho năng
suất cao và nâng cao được HQKT.

20


2.1.4.3 Nhóm yếu tố kinh tế - xã hội
a) Vốn đầu tư
Đối với cây trồng nói chung và cây mía nói riêng yêu cầu vốn đầu tư là khá
lớn. Vì vậy muốn sản xuất và sản xuất có hiệu quả cao thì yêu cầu có được nguồn
vốn đầy đủ, kịp thời và sử dụng vốn có hiệu quả vào sản xuất là rất quan trọng. Một
điều cần nói đến hiện nay là có nhiều nông dân, ngoài vốn vay của nhà máy, họ

móc, cải tiến kỹ thuật để nâng cao hiệu quả hoạt động. Có như vậy mới nâng cao
được giá cả thu mua mía của người dân, đồng thời là thị trường tiêu thụ nhanh và
ổn định cho người dân. Đó là điều kiện tốt giúp người
mía mở rộng quy mô diện tích và nâng cao HQKT trong sản xuất mía.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Thực trạng ngành mía đường trên thế giới
Theo dự báo mới nhất của FAO, tổng sản lượng đường thế giới năm 2008/09
sẽ đạt 160,9 triệu tấn, giảm 5,2% so với sản lượng năm 2007/08. Sản lượng đường
giảm chủ yếu do giảm diện tích bởi nhiều người sản xuất chuyển sang trồng các loại
cây thay thế khác như ngô và đậu tương do dự tính sẽ thu được lợi nhuân cao hơn vì
giá các mặt hàng này ở mức cao hồi đầu năm 2008. Đặc biệt là các nước phát triển
có sản lượng giảm mạnh, còn những nước phát triển thì có sản lượng tăng nhẹ. Trong
các nước đang phát triển thì khu vực Mỹ Latinh và Caribê chiếm tỷ lệ sản lượng lớn
nhất, là khu vực có tiềm năng trong việc sản xuất sản phẩm đường. Vì ở khu vực
này, triển vọng sản xuất tiếp tục khả quan ở Brazil, với sản lượng dự báo đạt 33,2
triệu tấn trong năm 2008/09, tăng 1,3 triệu tấn (4,1%) so với sản lượng năm
2007/08. Nhờ sự gia tăng liên tục trong nhiều năm qua, Brazil càng khặng định
vị trí số 1 của mình về sản xuất đường trên thế giới. Đối với các nước đang phát
triển thì Châu Âu có sản lượng lớn nhất nhưng trong những năm gần đây đã có
xu hướng giảm dần.
Tổng mức tiêu dùng đường trên thế giới năm 2008/09 dự báo đạt 163,0 triệu
tấn, tăng 2,2% so với năm 2007/08. Như vậy, mức tiêu dùng sẽ vượt sản lượng 2,1
triệu tấn góp phần làm giảm nguồn dự trữ dư thừa trên thị trường từ năm 2005/06.
Hiện tỉ số dự trữ/sử dụng đường dự báo sẽ ở mức 46,9%, giảm so với 48,9% của
năm 2007/08. Sự gia tăng tiêu dùng đường trên thế giới là do tăng thu nhập tính
theo đầu người ở các nước đang phát triển ở châu á, châu Phi, Mỹ Latinh và
Caribê. Các mối tương quan giá hiện nay sẽ gây ra sự chuyển dịch từ sử dụng
xirô ngô hàm lượng fructose cao (HFCS) sang sử dụng đường do giá ngô cao.

22

2007/08
2008/09
169,8
160,9
159,6
163,0
114,1
124,4
110,8
113,9
47,8
54,7
24,5
26,2
10,9
11,1
14,4
14,5
7,0
7,3
12,7
12,9
40,8
45,0
55,8
56,9
7,6
6,3
3,4
3,4

đường, các địa phương, các doanh nghiệp mía đường và người trồng mía quan tâm.
Trong những năm qua, trung tâm nghiên cứu và Phát triển Mía Đường Việt Nam đã
lai tạo được nhiều loại giống mía có năng suất cao và cho trữ lượng đường với tỷ lệ
cao như: Trong những năm 2002-2005 đã đưa các giống mía VN84-422, ROC10,
MI, F156, VN85-1427, DLM24, VN84-422, VN85-1427, MY55-14, K84-200,
VN84-4137...vào sản xuất có năng suất ổn định và có hiệu quả kinh tế cao. Cho đến
năm 2008 trên toàn quốc đã được đưa vào sử dụng nhiều giống mía phù hợp với
từng địa phương (Báo cáo kết quả nghiên cứu chuyển giao giống mía mới, 2008).
Tại vùng mía Thanh Hoá - Nghệ An có các loại giống: FR91-397, C89-148,
QĐ90-95 và C132-81 (đạt trên 85,10 tấn 10 CCS/ha/vụ qua vụ tơ và vụ gốc I).
Giống QĐ21, KK2 và ROC27 (96,2-135,5 tấn 10 CCS/ha/vụ tơ).
Tại vùng mía Quảng Ngãi - Khánh Hoà có các giống Phil80-13 đạt 70 tấn 10
CCS/ha/vụ qua tơ và vụ gốc I. Giống K88-92 và K95-156 nổi bật về năng suất và
chất lượng mía (trên 120,63 tấn 10 CSS/ha).
Tại vùng mía Long An - Bến Tre có các giống: C1324-74, C85-212 với năng
suất 87,4 tấn 10 CSS/ha/vụ qua vụ tơ và vụ gốc I. Giống K95-156, ROC27, KU601, KU00-1-61 và Suphanburi 7 131,6 tấn 10 CCS/ha nổi bật nhất là KK95-156 vừa
có năng suất cao vừa có chất lượng tốt.
Ngoài ra còn có nhiều giống mía khác có năng suất và chất lượng tốt và có
thể so sánh được với nhiều giống mía của các quốc gia sản xuất mía đường tiên tiến,
lâu đời trên thế giới như Úc, Brazil, Ấn Độ, Thái Lan, Nam Phi, Cuba...
2.2.2.2 Tình hình sản xuất
Về mặt tài nguyên tự nhiên, như khí hậu, đất đai, Việt Nam được đánh giá là
nước có tiềm năng trung bình khá để phát triển mía cây. Việt Nam có đủ đất đồng
bằng, lượng mưa nói chung là tốt, nhiệt độ và độ nắng thích hợp. Trên phạm vi cả
nước, các vùng Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ, đặc biệt là vùng duyên hải
Nam Trung Bộ có khả năng mía đường rất tốt.
a) Giai đoạn trước khi có chương trình mía đường (1980 – 1994)

24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status