Đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất và chế biến thuốc lào của các hộ nông dân tại xã quảng chính, huyện quảng xương, tỉnh thanh hóa - Pdf 23

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các nội dung nghiên cứu và kết quả nghiên cứu nêu
trong báo cáo là trung thực và chưa từng được sử dụng cho bảo vệ trong một
khóa luận nào cả. Tôi xin cam đoan những mục trích dẫn trong khóa luận đều
đã được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 23 tháng 4 năm 2014
Sinh viên
Mai Thị Nga
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành nghiên cứu này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban
Giám hiệu Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, các thầy cô giáo, đặc biệt là
các thầy cô trong Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, những người đã trang
bị cho tôi những kiến thức cơ bản và những định hướng đúng đắn trong học
tập và tu dưỡng đạo đức, tạo tiền đề tốt để tôi học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo – TS. Nguyễn
Thị Dương Nga – Bộ môn phân tích định lượng, Khoa Kinh tế và Phát triển
nông thôn đã dành nhiều thời gian và tâm huyết, tận tình hướng dẫn chỉ bảo
tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ lãnh đạo và bà con nông dân
xã Quảng Chính đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập tại cơ sở.
Cuối cùng chúng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và những
người đã động viên và giúp đỡ tôi về đặc biệt về tinh thần, vật chất trong suốt
quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 23 tháng 4 năm 2014
Sinh viên
Mai Thị Nga
ii
TÓM TẮT
Cây thuốc lào đã và đang mang lại nguồn thu nhập chính và chủ yếu

Năm 2013, diện tích trồng thuốc lào của cả xã là 55 ha, sản lượng đạt
55,85 tấn thuốc lào khô, năng suất trung bình 10 tạ/ha. Giá bán thuốc từ 220 –
280 đ/kg, mỗi năm thuốc lào Quảng Chính cho thu nhập từ 220 – 280 triệu
đồng/ha.
Do công nghệ trong khi chế biến được cải tiến, từ thái thuốc bằng tay
lên thái bằng máy đã làm tăng hiệu suất hoạt động, góp phần làm tăng chất
lượng thuốc. Năm 2013, thuốc lào ngon chiếm 75%, thuốc trung bình chiếm
20% và thuốc không ngon chỉ chiếm 5%.
Theo kết quả điều tra, phần lớn các chủ hộ có độ tuổi cao (50,1 tuổi)
nên kinh nghiệm trồng thuốc cũng nhiều (bình quân 22,98 năm); trình độ học
vấn của chủ hộ cũng cao, 78,33% chủ hộ đã tốt nghiệp trung học cơ sở. Bình
quân mỗi hộ có 3,65 sào diện tích đất nông nghiệp, trong đó 93,65% là diện
tích trồng thuốc lào khi vào vụ đông xuân và vẫn còn một số hộ phải thuê
thêm đất để gieo trồng. Mỗi hộ có khoảng 5 nhân khẩu, trong đó có 3,43
người là nguồn lao động chính, số lao động tham gia vào sản xuất thuốc lào
chỉ là 2,25 người. Thu nhập từ thuốc lào chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập
của hộ trong 1 năm (46,0%). Vẫn còn 3/60 hộ phải vay vốn để phục vụ sản
xuất và chế biến thuốc lào, với số tiền vay là 20 triệu đồng, lãi suất 6 –
12%/năm. Các hộ đã tự trang bị cho mình những máy móc, dụng cụ để phục
vụ cho sản xuất và chế biến thuốc lào, như: máy cày, máy thái thuốc, máy
bơm, dụng cụ phơi thuốc,…
Năm 2013, diện tích trồng thuốc lào của 60 hộ là 242,5 sào, trong đó có
59,5 sào là đất màu và 183,0 sào là đất lúa, bình quân mỗi hộ có 4,0 sào thuốc
lào. Mỗi hộ có ít nhất 2 lần chế biến thuốc lào với mỗi lần từ 0,5 – 1 sào thuốc,
iv
46,7% hộ đánh giá quá trình chế biến là tốt, 53,3% còn lại đánh giá trung bình và
100% thuốc lào đều đảm bảo chất lượng. Sản lượng thuốc lào khô các hộ điều
tra đạt được là 16,2 tấn với năng suất 67,4 kg/sào. 100% hộ bán thuốc cho các tư
thương thu gom, 35% bán cho các hộ tiêu dùng. Các tư thương sẽ nhập thuốc
cho các địa phương khác, chủ yếu là các huyện lân cận với giá thành cao từ 350

cao HQKT trong thời gian tới, như: nâng cao trình độ học vấn của chủ hộ,
nâng cao vai trò của cán bộ khuyến nông, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở
rộng thị trường tiêu thụ,…
vi
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
Tôi xin cam đoan các nội dung nghiên cứu và kết quả nghiên cứu nêu trong báo cáo là
trung thực và chưa từng được sử dụng cho bảo vệ trong một khóa luận nào cả. Tôi xin cam
đoan những mục trích dẫn trong khóa luận đều đã được ghi rõ nguồn gốc i
Hà Nội, ngày 23 tháng 4 năm 2014 i
Sinh viên i
Mai Thị Nga i
LỜI CẢM ƠN ii
Hà Nội, ngày 23 tháng 4 năm 2014 ii
Sinh viên ii
Mai Thị Nga ii
TÓM TẮT iii
Sản xuất và chế biến thuốc lào đã đem lại nguồn thu nhập chính trong kinh tế hộ gia
đình và là cây trồng có hiệu quả kinh tế cao trong hệ thống các cây trồng của xã Quảng
Chính, tạo công ăn, việc làm, thu hút lao động đặc biệt là những người ngoài độ tuổi
lao động. Cây thuốc lào cho năng suất cao bình quân 67,4kg/sào, với giá ngày càng
tăng cao, chi phí cho sản xuất và chế biến thuốc lào cũng tương đối lớn, bình quân 5,3
triệu đồng/sào. Do vậy việc nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất và chế biến
thuốc lào tại xã Quảng Chính có ý nghĩa rất to lớn đối với nông hộ 95
Qua quá trình tìm hiểu, điều tra và phân tích tôi đã rút ra được một số kết luận sau: 95
Thứ nhất, hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế nói chung
và sản xuất, chế biến thuốc lào nói riêng. Khái quát hóa được vấn đề lý luận về hiệu
quả kinh tế, phương pháp phân tích các chỉ tiêu chủ yếu đánh giá hiệu quả kinh tế. Vận
dụng lý luận đó vào việc đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất và chế biến thuốc lào. Nêu
lên được tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ thuốc lào trên thế giới, ở Việt Nam và

hộ trồng thuốc lào, nâng cao chất lượng thuốc lào, ưu đãi cho các hộ dân vay vốn sản
xuất, ứng phó kịp thời khi gặp thời tiết xấu, dịch bệnh và mở rộng quy mô sản xuất
thuốc lào. Ngoài ra, cũng cần nâng cao khả năng tiếp cận thị trường của người dân
bằng việc mở rộng và xây dựng hệ thống cung cấp thông tin thị trường tiêu thụ 96
Xã Quảng Chính có điều kiện khí hậu thuận lợi và có đất đai phù hợp với cây thuốc lào,
đồng thời có lực lượng lao động dồi dào. Để thúc đẩy nâng cao hiệu quả kinh tế cây
thuốc lào của các hộ dân trong xã, tôi xin đề xuất một số khuyến nghị sau: 97
Đối với chính quyền địa phương: Là cầu nối giữa thị trường tiêu thụ với người nông
dân, cần phải có những biện pháp để kiểm tra đôn đốc tình hình sản xuất của các hộ và
bảo vệ quyền lợi của người nông dân. Bên cạnh đó chính quyền địa phương cũng cần
xây dựng những chính sách hỗ trợ về vốn để khuyến khích người nông dân đầu tư mở
rộng sản xuất và chế biến thuốc lào. Tăng cường, mở rộng hơn nữa công tác khuyến
nông, phổ biến cho người dân những kiến thức về kỹ thuật đặc biệt là kiến thức về bảo
quản sau chế biến. Thường xuyên theo dõi diễn biến phát triển của thuốc lào, phổ biến
trên các phương tiện thông tin đại chúng để các hộ chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh
kịp thời 97
Đối với người mua: đối tượng thu mua chủ yếu là thương lái, họ muốn tìm kiếm lợi
nhuận lớn từ việc mua đi bán lại. Tuy nhiên, họ cũng cần phải nghĩ cho người sản xuất,
không phải vì lợi nhuận mà đưa ra những thông tin sai về giá thuốc lào, hoặc giá mua
của người dân chênh lệch khá cao so với mức giá bán lại 97
Đối với người sản xuất: Các hộ sản xuất cần chủ động trong việc tìm hiểu, học hỏi kinh
nghiệm trồng và chế biến thuốc lào cũng như thông tin về thời tiết, giá cả thuốc lào trên
thị trường. Nên mạnh dạn đầu tư vào sản xuất thuốc lào vì các hộ sẽ không bị thua lỗ.
Tích cực tham gia vào các lớp tập huấn do chính quyền địa phương mở. Phát huy
viii
những kinh nghiệm vốn có về bón phân, phun thuốc BVTV để nâng cao HQKT. Mở
rộng thêm diện tích gieo trồng khi có thể 97
ix
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất của xã Quảng Chính năm 2012 Error:

Bảng 4.12 : Kết quả và HQKT trong sản xuất thuốc lào của hộ điều tra phân
theo quy mô sản xuất Error: Reference source not found
Bảng 4.13: Kết quả và HQKT trong sản xuất thuốc lào của các nhóm hộ điều
tra phân theo mức đầu tư phân Ure của hộ Error: Reference source not found
Bảng 4.14: Kết quả và HQKT trong sản xuất thuốc lào của các nhóm hộ điều
tra phân theo mức đầu tư phân NPK của hộ Error: Reference source not
found
Bảng 4.15: Kết quả và HQKT trong sản xuất thuốc lào của các nhóm hộ điều
tra phân theo mức đầu tư phân chuồng của hộ Error: Reference source
not found
Bảng 4.16: Kết quả và HQKT trong sản xuất thuốc lào của các nhóm hộ điều
tra phân theo mức đầu tư phân lân của hộ Error: Reference source not
found
Bảng 4.17: Kết quả và HQKT trong sản xuất thuốc lào của các nhóm hộ điều
tra phân theo mức đầu tư thuốc BVTV của hộ Error: Reference source
not found
Bảng 4.18: Kết quả và HQKT trong sản xuất thuốc lào của các hộ điều tra
phân theo chất lượng thuốc lào Error: Reference source not found
xi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
HQKT:
GTSX:
UBND:
GO:
VA:
IC:
MI:
ĐVT:
BQ:
SL:

góp vào sự phát triển chung của đất nước. Có rất nhiều cách thức để các hộ
nông dân đem lại thu nhập cho mình từ sản xuất nông nghiệp, các hộ có thể
trồng lúa, rau màu,… Tuy nhiên, đối với các hộ dân tại xã Quảng Chính,
huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa thì họ lại có phương thức canh tác
khác, họ cũng trồng lúa, trồng rau nhưng thu nhập từ nguồn này không cao;
mà ở đây cây trồng mang lại thu nhập chính cho các hộ lại là cây thuốc lào.
Bởi bao đời nay, nơi đây đã gắn liền với cây thuốc này, góp phần làm nên
thương hiệu nổi tiếng “Thuốc lào Quảng Xương” và phát triển kinh tế của các
hộ nông dân. Xã Quảng Chính có 6 thôn thì cả 6 thôn đều gắn bó với cây
thuốc lào. Với gần 1.000 hộ gắn bó với cây thuốc, diện tích gần 55 ha (chiếm
16,67% diện tích đất nông nghiệp), nhà ít thì trồng 1.100 cây, nhiều thì tới
hàng vạn cây, hiện xã được coi là nơi có diện tích trồng thuốc lào gần như lớn
1
nhất tỉnh. So với việc trồng lúa thì việc trồng thuốc lào mang lại thu nhập cao
hơn rất nhiều lần, khi thu hoạch thuốc lào và đang trong giai đoạn chế biến thì
đây được coi như là cái tết thứ 2 của cả xã. Vào mùa chế biến, nhất là công
đoạn thái thuốc, nhà nào nhà nấy vui như trẩy hội. Ngoại trừ con cháu đi học,
đi làm xa, còn không tất cả nội, ngoại, anh chị em kéo về phụ gia đình. Những
ngày đó, thôn xóm huyên náo cả lên, người này qua nhà người kia giúp, đông
đến vài chục. Tục lệ ở đây là: Sau khi thái lá thuốc xong, chủ nhà phải mổ gà,
mở bia để đãi những người đến phụ, chứ không lấy tiền công. Chính vì vậy,
đến Quảng Chính vào những mùa này như thấy Tết vậy. Loại cây trồng này
không chỉ cải thiện cuộc sống cho bà con nơi đây mà hơn tất cả nó đã trở
thành một nghề truyền thống, gắn bó sâu nặng với mảnh đất này.
Vì vậy, đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất và chế biến
thuốc lào của các hộ nông dân tại xã Quảng Chính, huyện Quảng Xương,
tỉnh Thanh Hóa” được thực hiện nhằm phân tích hiệu quả kinh tế sản xuất,
đồng thời phản ánh thực trạng, thuận lợi và khó khăn trong sản xuất và chế
biến thuốc lào của nông hộ ở xã Quảng Chính, huyện Quảng Xương. Từ đó,
đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, góp phần nâng cao

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động sản xuất và chế biến thuốc lào của
các hộ nông dân trên địa bàn xã Quảng Chính, huyện Quảng Xương, tỉnh
Thanh Hóa.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
a. Phạm vi về nội dung
Nghiên cứu này tập trung đánh giá thực trạng sản xuất, chế biến thuốc
lào và đánh giá hiệu quả kinh tế của các hộ sản xuất thuốc lào.
Bên cạnh đó, đề tài còn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả
kinh tế sản xuất thuốc lào của các hộ trên địa bàn nghiên cứu.
3
Từ đó, đề xuất các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả của việc sản xuất
và chế biến thuốc lào.
b.Phạm vi về không gian
Nghiên cứu này được thực hiện tại xã Quảng Chính, huyện Quảng
Xương, tỉnh Thanh Hóa.
c.Phạm vi về thời gian
- Đề tài sử dụng số liệu sơ cấp của năm 2013, số liệu thứ cấp được lấy
đến năm 2012.
- Thời gian thực hiện đề tài: tháng 01/2014 đến tháng 05/2014.
4
PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1. Các khái niệm liên quan
a. Hộ nông dân
* Hộ nông dân:
Hộ nông dân là người chung sống dưới một mái nhà, cùng ăn chung và
có chung ngân quỹ (Weberste 1990).
Hộ nông dân là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến
tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác (Martin 1988).
Hộ nông dân là tập hợp những người có chung huyết tộc, có quan hệ

- Khu vực ba của nền kinh tế, hay Khu vực dịch vụ.
c. Chế biến nông sản
Chế biến nông sản hàng hóa là toàn bộ các hoạt động có tính công
nghiệp có liên quan đến nhau nhằm thay đổi những hình dạng cơ bản của sản
phẩm như chuyển nông sản thành hàng hóa tươi sống, sản phẩm nấu chín, sản
phẩm đồ hộp hay đóng túi cho phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng.
Nông sản hàng hóa được chia thành hai nhóm: loại tiêu dùng trực tiếp
và loại phải qua chế biến. Trong đó, loại phải qua chế biến (bao gồm sơ chế
và chế biến tinh) chiếm tỷ trọng chủ yếu.
Mặt khác, tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp làm cho việc cung ứng
các nông sản hàng hóa ra thị trường cũng mang tính thời vụ. Lượng sản phẩm
của nông sản hàng hóa nào đó có thể rất dồi dào ở thị trường vào lúc này
nhưng lại rất khan hiếm vào lúc khác. Do đó, việc chế biến là rất cần thiết để
giải quyết tình trạng cung thừa lúc thu hoạch và cầu thừa lúc khan hiếm. Mặt
khác, việc chế biến còn có tác dụng làm tăng cao chất lượng sản phẩm trước
khi bán và duy trì được giá trị sản phẩm trong thời gian dài. Chỉ có chế biến
6
mới nâng cao được giá trị sản phẩm và thỏa mãn được yêu cầu của người tiêu
dùng. Việc chế biến có thể do doanh nghiệp tư nhân, nhà nước hay tập thể
đảm nhận. Tùy theo chủng loại sản phẩm, tính chất công nghệ đòi hỏi trong
chế biến (sơ chế hay chế biến tinh) và trang thiết bị cho chế biến mà thành
phần kinh tế này hay kinh tế khác thực chiếm vị trí then chốt. (GS, TS Đỗ
Kim Chung, Giáo trình kinh tế nông nghiệp, 2008, Nhà xuất bản nông nghiệp,
trang 10 – 27).
2.1.2. Khái niệm và phương pháp xác định hiệu quả kinh tế
a. Khái niệm hiệu quả kinh tế
Hiệu quả là một phạm trù kinh tế, xã hội, môi trường phản ánh chất
lượng của các hoạt động kinh tế. Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế -
xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất lẫn tinh thần của toàn xã
hội khi nguồn lực sản xuất của xã hội ngày càng trở nên khan hiếm, việc nâng

Hệ thống quan điểm thứ ba: Xem xét hiệu quả kinh tế trong nguồn biến
động giữa chi phí sản xuất và kết quả sản xuất. Theo quan điểm này, hiệu quả
kinh tế biểu hiện ở quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần
tăng thêm của chi phí, hay quan hệ tỷ lệ giữa kết quả bổ sung và chi phí bổ
sung. Một số ý kiến chú ý đến quan hệ tỷ lệ giữa mức độ tăng trưởng kết quả
sản xuất với mức độ tăng trưởng của nền sản xuất xã hội.
C
K


=HQKT
∆K: Phần tăng thêm của kết quả sản xuất
∆C: Phần tăng thêm của chi phí sản xuất
Kết quả sản xuất (Q)
Chi phí sản xuất (C)
HQKT =
8
Đây là cách đánh giá có ưu thế khi xem xét hiệu quả kinh tế của đầu tư
theo chiều sâu hay việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tức là nghiên
cứu phần hiệu quả của chi phí tăng thêm.
Từ các quan điểm trên nếu chỉ đánh giá hiệu quả kinh tế ở khía cạnh
thuần tuý (kết quả sản xuất trừ chi phí sản xuất) thì chưa xác định được năng
suất lao động xã hội và so sánh khả năng cung cấp vật chất (sản phẩm) cho xã
hội của các đơn vị sản xuất đạt hiệu số kết quả sản xuất trừ chi phí sản xuất
như nhau.
Tuy nhiên nếu tập trung vào các chỉ tiêu tỷ số giữa kết quả sản xuất với
chi phí vật tư và lao động thì lại chưa toàn diện bởi tỷ lệ chỉ tiêu này chưa
phân tích được sự tác động, ảnh hưởng của các yếu tố nguồn lực tự nhiên (đất
đai, khí hậu, thời tiết ). Hai cơ sở sản xuất đạt được tỷ số trên như nhau
nhưng ở những không gian và thời gian khác nhau thì tác động của nguồn lực

Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ sản xuất và sự phát triển là
đáp ứng ngày càng cao nhu cầu về vật chất và tinh thần của mọi thành viên
trong xã hội.
Làm rõ bản chất của hiệu quả cần phải phân định rõ sự khác nhau và
mối liên hệ giữa kết quả và hiệu quả.
Kết quả mà là kết quả hữu ích, là một đại lượng vật chất tạo ra do mục
đích con người, được biểu hiện bằng nhiều chỉ tiêu, nhiều nội dung tuỳ thuộc
vào từng trường hợp cụ thể xác định.
Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung đánh
giá của hiệu quả. Trên phạm vị xã hội, các chi phí bỏ ra để thu được kết quả là
chi phí lao động xã hội. Vì vậy bản chất của hiệu quả chính là hiệu quả của
lao động xã hội và được xác định bằng tương quan so sánh giữa lượng kết quả
10
hữu ích thu được với lượng hao phí lao động xã hội, còn tiêu chuẩn của hiệu
quả là sự tối đa hoá kết quả và tối thiểu hoá chi phí trong điều kiện nguồn tài
nguyên có hạn.
c. Phân loại hiệu quả kinh tế
Căn cứ vào phạm vi, đối tượng nghiên cứu ta có thể xem xét ở giác độ
sau
+ Hiệu quả kinh tế quốc dân: là hiệu quả kinh tế chung trong toàn bộ
nền sản xuất xã hội
+ Hiệu quả kinh tế ngành, lĩnh vực được xem xét đối với từng ngành
sản xuất và từng lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân.
+ Hiệu quả kinh tế vùng, lãnh thổ được xem xét đối với từng vùng
kinh tế tự nhiên và phạm vi lãnh thổ hành chính.
+ Hiệu quả kinh tế theo quy mô tổ chức
+ Hiệu quả kinh tế từng biện pháp kỹ thuật
Dựa vào nội dung bản chất gồm có
+ Hiệu quả kinh tế: phản ánh mối quan hệ giữa kết quả đạt được về
mặt kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được hiệu quả đó. Bao gồm các chỉ tiêu kết

Ngoài ra hiệu quả kinh tế còn được xét cả về mặt thời gian và không
gian. Về mặt thời gian hiệu quả kinh tế đạt được phải đảm bảo lợi ích trước
mắt và lâu dài, tức là hiệu quả đạt được phải đảm bảo lợi ích trước mắt và lâu
dài, tức là hiệu quả đạt được ở từng thời kỳ, giai đoạn không ảnh hưởng đến
hiệu quả ở các thời kỳ sau. Về mặt không gian hiệu quả chỉ có thể coi là đạt
được một cách toàn diện khi hoạt động của các ngành, đơn vị, bộ phận đều
mang lại hiệu quả và không làm ảnh hưởng đến chung của một nền kinh tế
quốc dân. Do vậy phải có sự kết hợp giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài,
lợi ích cục bộ phải phù hợp với lợi ích chung. Các loại hiệu quả kinh tế có
12
mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu xét một hiệu quả kinh tế trong tổng các
loại hiệu quả kinh tế khác nhau thì chưa hẳn chúng đã bổ trợ cho nhau đôi khi
còn đối lập nhau. Xét trong phạm vi nhỏ hơn, thì có thể có một hoạt động nào
đó có hiệu quả, còn xét trong phạm vi toàn xã hội thì lại không có hiệu quả.
Nếu đảm bảo được lợi ích trong phạm vi rộng lớn thì trong phạm vi nhỏ hơn
hoạt động sẽ có hiệu quả kinh tế. Do vậy, mục tiêu chung của các hoạt động
là phải đảm bảo hiệu quả cho toàn xã hội, cho từng vùng, từng địa phương
chứ không đặt lợi ích hay hiệu quả kinh tế của cá nhân lên trên hiệu quả của
toàn xã hội. Nhưng cũng không thể phủ nhận được rằng cần phải đạt được
hiệu quả của từng cá nhân thì mới đạt được hiệu quả của toàn xã hội.
d. Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế
Theo khái niệm ở trên, hiệu quả kinh tế luôn luôn liên quan đến các yếu tố
tham gia vào sản xuất kinh doanh. Vậy, nội dung xác định hiệu quả kinh tế là:
- Xác định yếu tố đầu ra: đây là công việc xác định mục tiêu đạt được,
các kết quả đạt được cụ thể là: giá trị sản xuất, khối lượng sản phẩm, giá trị
sản phẩm, giá trị tăng thêm, lợi nhuận.
- Xác định yếu tố đầu vào: đó là chi phí sản xuất, chi phí dịch vụ, chi
phí lao động,…
Bản chất của hiệu quả kinh tế là sự gắn kết mối quan hệ giữa kết quả và
chi phí, tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế là sự tối đa hóa kết quả và tối thiểu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status