LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2008
Tác giả luận văn:
D
1
Lời cảm ơn
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp tôi đã nhận được sự
quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của toàn thể, cá nhân trong và ngoài trường.
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Th.s Nguyễn Thị Tuyết Lan, người
đã hướng dẫn tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn các thầy, các cô khoa KT&PTNT trường Đại học Nông Nghiệp I.
Cảm ơn ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên UBND xã Vân Nội đã tạo điều kiện cho tôi về mọi mặt
cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè và những người thân yêu luôn bên cạnh
động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Trong suốt thời gian thực tập do thời gian ngắn. Kiến thức chưa sâu rộng nên luận văn
không tránh khỏi nhiều sai sót. Tôi mong nhận được sự góp ý kiến của thầy cô, bạn bè, những
người làm công tác nghiên cứu và công tác kiểm tra để luận văn ngày càng hoàn thiện hơn.
Hà Nội, Tháng 05 năm 2008
Sinh viên thực hiện
Đinh Thiết Minh
2
PHẦN I
MỞ ĐẦU
nhiều vụ trong một năm và trồng xen kẽ với các loại cây trồng khác nên nó
góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo công ăn việc làm và nâng cao
thu nhập cho người sản xuất. Ngoài ra các sản phẩm phụ của ngành sản xuất
rau còn là nguồn thức ăn phong phú tạo điều kiện phát triển chăn nuôi trở
thành một trong những ngành chính cân đối với ngành trồng trọt.
Trong thời kì hiện nay, khi nền kinh tế nước ta đang trên đà hội nhập
vào tổ chức thương mại thế giới WTO thì nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp,
công nghiệp, dịch vụ không chỉ đơn thuần là nhu cầu về số lượng mà còn đòi
hỏi cả về chất lượng có như vậy thì sản phẩm nông nghiệp nói chung và
ngành sản xuất rau xanh nói riêng mới có thể đứng vững được trên thị trường
thế giới và đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm nông nghiệp của các nước
bạn. Tuy nhiên nền nông nghiệp nước ta vẫn còn lạc hậu, chưa đưa được
những tiến bộ khoa học vào sản xuất và chế biến làm cho chất lượng hàng
nông sản vẫn còn kém chất lượng, chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế
giới. Đứng trước tình hình đó thì câu hỏi đặt ra cho ngành sản xuất rau là phải
làm gì để có những sản phẩm tươi, sạch đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội và
xuất khẩu ra nước ngoài.
Xã Vân Nội, huyện Đông Anh được đánh giá là địa phương sản xuất
rau an toàn đúng yêu cầu và đáng tin cậy. Từ đầu năm đến nay, 12 hợp tác xã,
3 công ty tiêu thụ rau an toàn của Vân Nội đã tiêu thụ gần 2.000 tấn rau cho
trên 200 cửa hàng, bếp ăn trường học tại thành phố Hà Nội, các tỉnh lân cận
với doanh số bán ra đạt 4 tỷ đồng.
Với diện tích đất sản xuất rau an toàn hơn 100 ha, nông dân xã Vân Nội
đã tạo ra thu nhập bình quân 40 đến 50 triệu đồng/ha. Để đạt được kết quả
này, 70% các hộ nông dân tham gia sản xuất rau sạch đã tích cực bám sát quy
trình sản xuất rau an toàn IPM đã được Tổ chức FAO, Viện Khoa học Công
nghệ và Môi trường công nhận đạt chuẩn vào năm 1995, chính thức được đưa
4
vào áp dụng đến nay gần 11 năm. Hiện Vân Nội có khoảng 50 đến 60 loại rau
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế.
+ Đánh giá hiệu quả sản xuất của cây rau tại xã Vân Nội.
+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản
xuất rau của xã Vân Nội.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu về cây rau sạch và tiến hành điều tra tại
một số hộ sản xuất rau sạch tại xã Vân Nội huyện Đông Anh thành phố Hà
Nội
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: đề tài thực hiện tại xã Vân Nội – huyện Đông Anh – Hà
Nội.
+ Về thời gian: thời gian nghiên cứu của đề tài từ ngày 15/01/2008 đến
ngày 30/04/2008.
6
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Rau an toàn
a) Khái niệm
Rau an toàn là khái niệm được sử dụng để chỉ các loại rau được canh
tác trên các diện tích đất có thành phần hoá thổ nhưỡng được kiểm soát (nhất
là kiểm soát hàm lượng kim loại nặng và các chất độc hại có nguồn gốc từ
phân bón, từ các chất bảo vệ thực vật và các chất thải sinh hoạt còn tồn tại
trong đất đai), được sản xuất theo những quy trình kỹ thuật nhất định (đặc biệt
là quy trình sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu và tưới nước), và nhờ vậy rau
đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm do các cơ quan quản lý nhà
gian dài. Do vậy, nó chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố và được chia thành
các nhóm sau đây:
- Nhóm yếu tố tự nhiên:
Do đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các sinh vật và hoạt động
trên một phạm vi không gian rộng lớn nên nó chịu ảnh hưởng rất lớn của điều
kiện khí hậu thời tiết như: nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm Hơn nữa rau là loại cây
trồng rất mẫn cảm với điều kiện khí hậu thời tiết. Nếu điều kiện khí hậu thuận
lợi cho cây trồng phát triển sẽ làm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm và
ngược lại. Trong trường hợp nhiệt độ lên tới 30
o
C thì hầu hết hiệu suất quang
hợp của các loại rau sẽ bị giảm hay ở nhiệt độ 0
o
C thì một số loại rau sẽ bị
chết. Ngoài ra đất đai trong sản xuất nông nghiệp cũng là một yếu tố hết sức
quan trọng, là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng chủ yếu phục vụ cho hoạt
động trao đổi chất, hoạt động sinh lý và sinh hoá. Chính vì vậy mà chất lượng đất
khác nhau sẽ cho năng suất và chất lượng sản phẩm khác nhau. Dựa vào đặc điểm
này, trong quá trình sản xuất người nông dân phải chú ý đến việc bố trí công thức
luân canh và xác định cơ cấu cây trồng hợp lý với vùng đất ở địa phương.
8
- Nhóm yếu tố xã hội:
Đây là nhóm yếu tố hết sức phức tạp vì nó liên quan đến nhân tố con
người, đươc thể hiện ở những điểm sau:
+ Lao động: dù trong điều kiện khoa học kỹ thuật tiến bộ, sản xuất
nông nghiệp được tiến hành các máy móc cơ giới và tự động thì quá trình sản
xuất cũng phải được tiến hành bằng sức lao động của con người. Nhưng vấn
đề đặt ra là phải xác định cơ cấu lao động, trình độ lao động phù hợp với từng
lĩnh vực sản xuất mới đem lại hiệu quả cao.
bởi những lý do sau:
► Thứ nhất: nó giúp cho quá trình sản xuất được diễn ra có hiệu quả.
►Thứ hai: nó hướng làm tăng năng suất sản phẩm trong điều kiện
nguồn lực ngày càng khan hiếm.
►Thứ ba: công nghệ làm cho đầu vào trong nông nghiệp ngày càng đa dạng
hơn.
►Thứ tư: công nghệ làm cho thu nhập của người sản xuất ngày càng cao
hơn.
Như vậy, sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau nói chung và
sản xuất rau nói riêng tác động của nhiều yếu tố. Nhưng chúng ta phải xem
xét yếu tố nào cần phải khắc phục ngay, để có biện pháp giải quyết cho hợp
lý, kịp thời và khoa học.
2.1.2 Khái niệm và các quan điểm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của
các hoạt động kinh tế. Nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế nghĩa là tăng
cường trình độ lợi dụng các nguồn lực sẵn có trong hoạt động kinh tế. Đây là
một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội do nhu cầu vật chất của
con người ngày một tăng. Nói một cách biện chứng thì do yêu cầu của công
tác quản lý kinh tế, cần phải đánh giá nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt
động kinh tế đã làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế.
Tổng quát về hiệu quả kinh tế là so sánh kết quả thu được và chi phí bỏ
ra. Tuy nhiên khái niệm hiệu quả kinh tế của các nhà kinh tế ở nhiều nước và
10
nhiều lĩnh vực có quan điểm nhìn nhận khác nhau. Có thể tóm tắt các hệ
thống quan điểm như sau:
- Hệ thống quan điểm thứ nhất cho rằng: hiệu quả kinh tế là kết quả đạt
được trong hoạt động kinh tế.
- Hệ thống quan điểm thứ hai: hiệu quả được xác định bằng nhịp độ
tăng tổng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân.
trong thực tế có nhiều trường hợp không thực hiện được phép trừ hoặc là phép
trừ không có ý nghĩa.
Thông qua các chỉ tiêu này ta thấy nó chỉ phản ánh được quy mô của
hiệu quả kinh tế, song giá phải trả cho quy mô này là bao nhiêu, cái mà người
sản xuất quan tâm thì không rõ.
- Hệ thống quan điểm thứ sáu cho rằng: hiệu quả kinh tế biểu hiện ở quan
hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả sản xuất và phần gia tăng thêm của chi
phí bỏ ra.
01
01
CC
QQ
H
−
−
=
=
C
Q
∆
∆
Trong đó: H là hiệu quả kinh tế
Q1, Q0 là lượng kết quả ở hai kì khác nhau
C1, C0 là lượng chi phí ở hai kì khác nhau
Hoặc ta có thể viết : H = ∆Q - ∆C
Hiệu quả kinh tế theo phương pháp này chủ yếu sử dụng trong nghiên
cứu đầu tư theo chiều sâu hay thâm canh.
Tuy nhiên, nếu chỉ đánh giá hiệu quả kinh tế ở khía cạnh lợi nhuận
thuần túy (kết quả sản xuất - chi phí) hay chỉ tập trung vào tỉ số giữa kết quả
sản xuất và chi phí hay kết quả bổ sung và chi phí bổ sung thì chưa đầy đủ,
Do vậy việc vận dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế là rất đa dạng.
Nhưng có thể nói việc đánh giá phần lớn phụ thuộc vào quy trình sản xuất, là
sự kết hợp giữa các yếu tố đầu vào để có được yếu tố đầu ra hợp lý. Có thể
nói đây là một nội dung quan trọng để đánh giá hiệu quả kinh tế.
Tùy từng ngành với mỗi tính chất khác nhau, nhưng nhìn chung để xác
định hiệu quả kinh tế thì chúng ta cần phải xác định các yếu tố sau:
13
- Xác định yếu tố đầu ra: các mục tiêu đạt được phải phù hợp với mục
tiêu chung của nền kinh tế quốc dân (được xã hội chấp nhận), hàng hóa sản
xuất ra phải trao đổi được trên thị trường.
- Xác định yếu tố đầu vào: đó là chi phí vật chất, công lao động…
* Bản chất của hiệu quả kinh tế:
Bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích sản xuất và phát
triển kinh tế xã hội, là đáp ứng ngày càng cao nhu cầu về vật chất và tinh thần
của mọi thành viên trong xã hội. Muốn vậy sản xuất phải phát triển cả về
chiều rộng lẫn chiều sâu.
Để làm rõ bản chất của hiệu quả kinh tế cần phải phân định sự khác
nhau về mối liên hệ giữa kết quả và hiệu quả.
Kết quả là một đại lượng vật chất phản ánh về quy mô số lượng của sản
xuất. Còn hiệu quả là đại lượng dùng để xem xét kết quả tạo ra như thế nào?
Nguồn chi phí bao nhiêu để đạt được kết quả đó.
Như vậy hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài mục đích, yêu cầu đặt ra
đều quan tâm đến hiệu quả kinh tế, nó có vai trò quan trọng trong việc đánh
giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra giải pháp có lợi cho sản xuất.
Nhưng để giải quyết được vấn đề trên là vấn đề hết sức khó khăn và chỉ mang
tính tương đối, đòi hỏi phải có thời gian.
2.1.4 Phân loại hiệu quả kinh tế
a) Căn cứ vào phạm vi, đối tượng nghiên cứu ta có thể xem xét ở giác độ sau
+ Hiệu quả kinh tế quốc dân: là hiệu quả kinh tế chung trong toàn bộ
Để định ra tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế đối với các hoạt động
kinh tế là một vấn đề phức tạp. Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã
hội cho nên tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế chỉ đánh giá một cách tương
đối, không đánh giá được ngay mà phải có thời gian và thời gian này được
gắn với một không gian cụ thể với một trình độ phát triển nền kinh tế xã hội.
Vấn đề này có rất nhiều ý kiến chưa được thống nhất, song đa số các nhà kinh
tế cho rằng tiêu chuẩn cơ bản tổng quát khi đánh giá hiệu quả kinh tế là mức
độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí tài nguyên…
15
Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là các quan điểm, còn nguyên tắc đánh giá
hiệu quả kinh tế thì phải được gắn trong những điều kiện cụ thể và ở một giai
đoạn nhất định. Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là mục tiêu chung, mục tiêu
chủ yếu xuyên suốt mọi quá trình sản xuất của xã hội. Do đó việc xác định
hiệu quả kinh tế ở mỗi thời kỳ phát triển kinh tế xã hội khác nhau là khác
nhau và tùy theo nội dung của việc đánh giá mà có tiêu chuẩn đánh giá
Ví dụ như: Đối với toàn xã hội thì tiêu chuẩn đánh giá là thỏa mãn nhu
cầu về vật chất của con người trong điều kiện nhất định.
Đối với doanh nghiệp, xí nghiệp thì tiêu chuẩn ở đây lại là tiết kiệm chi
phí nhưng đảm bảo về số lượng cũng như chất lượng của sản phẩm.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới và khu vực
Một số năm gần đây diện tích và sản lượng rau quả của các nước trên
thế giới không ngừng tăng lên. Theo tổ chức lương thực thế giới FAO, tốc độ
tăng diện tích bình quân hàng năm của thế giới là 2,5%. Điều này cho thấy
cây rau đang có vị trí quan trọng trong hàng hoá nông sản, xu hướng chuyển
đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp sang phát triển ngành nông nghiệp theo
hướng hàng hoá trên thế giới ngày càng rõ rệt. Cùng với tốc độ tăng diện tích,
sản lượng rau trên thế giới không ngừng tăng. Năm 1994 sản lượng rau trên
thế giới chỉ đạt 545,02 triệu tấn, nhưng cho đến năm 1997 sản lượng rau trên
kế và quy hoạch nông nghiệp). Tuy nhiên, so với nhu cầu rau bình quân đầu
người đạt 62 – 65 kg/người/năm. Nhưng theo tiêu chuẩn Châu Á, hiện nay
tiêu dùng khoảng 84kg/người/năm.
Là một quốc gia nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nên rau của
nước ta rất đa dạng về chủng loại (khoảng 70 loại chủ yếu) trong đó tập trung
chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng, vùng Đông
Nam Bộ, Đà lạt. Theo viện thiết kế và quy hoạch nông nghiệp, nước ta có
diện tích trồng rau năm 1999 là 4,4137 ha với sản lượng 5,7565 triệu tấn,
riêng Đồng bằng Sông hồng có 1,125 triệu ha chiếm 25,49% tổng diện tích
rau cả nước, diện tích rau ở Đồng bằng sông Cửu Long là 0,981 triệu ha
17
chiếm 22,2% tổng diện tích rau của cả nước. Lý do rau được trồng trên hai
khu vực này rất thuận lợi cho cây rau sinh trưởng và phát triển, kết hợp với
lợi thế đầu ra cho sản phẩm là thị trường Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
đây là hai khu vực tiêu thụ rau lớn nhất cả nước.
Các loại rau được trồng chủ yếu trên vùng Đồng bằng Sông Hồng là:
Bắp cải, Xu hào, Cà chua, Ớt cay, nấm, khoai tây, dưa chuột
Tại Việt Nam sản xuất rau được quy hoạch thành vùng chính là vùng
chuyên canh rau nằm ven các thành phố lớn, thị xã và các Khu công nghiệp
với diện tích chiếm khoảng 35% tổng diện tích trồng rau và sản lượng rau
chiếm 37% sản lượng rau cả nước. Ngoài ra vùng trồng rau thứ hai là vùng
rau luân canh với cây lương thực và cây công nghiệp dài ngày chiếm 65%
diện tích và 63% tổng sản lượng rau của cả nước. Mặt khác rau còn được
trồng trong các hộ gia đình.
Về tiêu thụ rau ở Việt Nam, phần lớn rau quả được sử dụng dưới dạng
tươi và chưa qua chế biến, trong khi đặc tính của sản phẩm rau quả là thu
hoạch theo mùa vụ, thời gian thu hoạch ngắn, khả năng vận chuyển và bảo
quản là rất khó khăn. Do trình độ kỹ thuật ở nước ta còn kém các đơn vị xuất
khẩu thường vượt mức cho phép, mặt khác do chưa có công nghệ và phương
hộ gia đình. Hiện nay, Hà Nội chỉ có khoảng 100 héc-ta sản xuất rau sạch.
Ngành kinh doanh này hiển nhiên còn nhiều tiềm năng, vì hiện tại mới chỉ
đáp ứng chưa tới 10% nhu cầu tiêu dùng rau của các hộ gia đình Hà Nội.
Còn ở lân cận Hà Nội thì sao? Bắc Ninh (tỉnh nằm sát Hà Nội, có thành
phố Bắc Ninh được xem là đô thị vệ tinh gần và phát triển nhất của Hà Nội)
cũng đã nhắc tới xây dựng thương hiệu cho rau an toàn từ tháng 3/2006. Đó là
ông Nguyễn Đức Ngọc ở thôn Niềm Xá, phường Kinh Bắc. Nhưng ông phải
sử dụng đất của mình và thuê thêm ruộng của hơn 30 hộ nông dân khác thì
19
mới có được 6.800 mét vuông đất màu đưa vào gieo trồng các loại rau an
toàn, rau sạch mang thương hiệu "Ánh Dương." Thực tế, đây cũng là diện tích
rất bé, chưa tới 1 héc-ta, gia đình ông phải sử dụng đất của mình và thuê thêm
ruộng của hơn 30 hộ nông dân khác
20
PHẦN III
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
* Vị trí địa lý:
Xã Vân Nội huyện Đông Anh thuộc ngoại thành Hà Nội, nằm ở phía
Tây Bắc của thành phố dọc đường cao tốc Bắc Thăng Long – Nội Bài, xã Vân
Nội là trung tâm phía Tây của huyện Đông Anh với chiều dài từ bắc tới nam
là 4 km từ đông sang tây là 2 km
- Phía Bắc giáp với xã Bắc Hồng và Nguyên Khê
- Phía Nam giáp xã Vĩnh Ngọc
- Phía Đông giáp xã Tiên Dương
- Phía Tây giáp xã Kim Mỗ và Lam Hồng
Gần trung tâm huyện Đông Anh có đường quốc lộ nối giữa huyện và
mùa này.
* Thuỷ Văn:
Xã Vân Nội có dòng sông Thiếp chảy qua với chiều dài 2 km. Cùng
với hệ thống ao hồ, sông ngòi có khả năng cung cấp nước cho các loại cây
trồng trong mùa khô và hạn chế úng lụt trong mùa mưa.
* Nông hoá thổ nhưỡng:
Là xã nằm trong khu vực đồng bằng sông Hồng, đất ở đây là loại đất
phù sa cổ, địa hình khá bằng phẳng. Trong tổng diện tích đất canh tác thì đất
pha cát là nhiều nhất khoảng 74,22%, đất thịt nhẹ 19,48%. Với loại đất này,
vào mùa mưa không thuận lợi cho cây rau phát triển vì khi mưa xuống độ ẩm
đất thường cao cho nên mùa sản xuất chính ở đây là vụ đông xuân.
3.1.2 Đặc điểm về đất đai
Tình hình sử dụng đất đai của xã Vân Nội thể hiện qua biểu (1). Nhìn
vào biểu (1) ta thấy tổng diện tích đất tự nhiên của xã ổn định qua các năm là
639,09 ha trong đó đất nông nghiệp chiếm 50,92% (325,48 ha) tổng quỹ đất
tự nhiên của xã (số liệu năm 2005) và diện tích đất nông nghiệp có xu hướng
giảm dần qua các năm nhưng không lớn, cụ thể: năm 2006 giảm 5,24 ha, năm
2007 giảm 4,38 ha, bình quân hàng năm diện tích này giảm 1,49%. Đất nông
nghiệp được chia thành các loại: đất sản xuất nông nghiệp và đất nuôi trồng
thuỷ sản trong đó đất sản xuất nông nghiệp có đất trồng cây hàng năm (gồm
đất lúa, đất màu) và đất trồng cây lâu năm khác.
22
23
Đất sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất xu hướng giảm dần qua
các năm. Năm 2005 chiếm 90.7% tương ứng với 295,2 ha. Cũng qua biểu ta
cũng thấy được là diện tích đất trồng lúa và diện tích đất trồng màu cũng có
xu hướng giảm qua các năm nguyên nhân là do diện tích đất này chuyển đã
chuyển đổi thành đất chuyên dùng và đất ở. Ngoài ra ta thấy diện tích đất nuôi
tác xã nông nghiệp thành 12 hợp tác xã dịch vụ nhỏ, từng bước cải thiện phù
hợp với cơ chế quản lý mới, các hộ nông dân không ngừng nâng cao sản
lượng, hiệu quả sản xuất trên mảnh ruộng của mình bằng cách đầu tư thâm
canh, thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng trên một đơn vị diện tích. Mặt
khác các hộ nông dân phải tự túc các khâu đầu vào, đầu ra. Cho nên đây cũng là
động lực cho sản xuất phát triển.
Trong một vài năm gần đây, được sự quan tâm của UBND thành phố
Hà Nội, sở khoa học công nghệ, một phần diện tích của xã Vân Nội đã được
thành phố công nhận là vùng sản xuất rau sạch. Đây là một điều kiện khá
thuận lợi cho việc phát triển sản xuất rau. Nhờ đó mà tổng giá trị sản xuất của
xã đã tăng lên qua các năm. Cụ thể năm 2005, tổng giá trị sản xuất của cả xã
là 26.790,20 triệu đồng thì đến năm 2007 đạt 29.926,56 triệu đồng. Trong đó
giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp là lớn nhất 19.200,00 triệu đồng chiếm
71,67% trong tổng giá trị sản xuất năm 2005. Sau ngành nông nghiệp là
5.930,20 triệu đồng chiếm 22,14% và ngành CN – TTCN đạt 1.660,00 triệu
đồng chiếm 6,20%.
Nhờ có sự công nhận là một vùng sản xuất rau an toàn cho nên việc
tiêu thụ sản phẩm ở đây khá thuận lợi và giá trị kinh tế của cây rau cũng được
tăng lên, cơ cấu cây trồng của xã có sự chuyển dịch lớn, phong phú, đa dạng,
mùa nào thứ ấy, đáp ứng được theo nhu cầu của thị trường.
Do thời tiết khí hậu khá thuận lợi, có hai mùa rõ rệt, và cũng là trung
tâm của huyện, có đường giao thông thuận tiện, thuận lợi cho sản xuất nông
nghiệp, đặc biệt là cây rau, cho nên trong ngành nông nghiệp ngành trồng trọt
có giá trị cao nhất đạt 19.200,00 triệu đồng năm 2005, đến năm 2007 con số
25