LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận
này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Ngô Văn Tuấn
i
LỜI CẢM ƠN!
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài thực tập cuối khóa, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, các đồng chí cán bộ cơ sở,
nhân dân địa phương, gia đình và bạn bè. Trước hết tôi xin bày tỏ lòng cảm
ơn sâu sắc tới thầy giáo – Tiến sỹ Nguyễn Viết Đăng đã trực tiếp hướng dẫn
tôi trong quá trình thực tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn nhân dân địa phương, ban lãnh đạo và cán
bộ UBND xã Vĩnh Sơn – Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc đã tạo kiện thuận lợi cho
tôi hoàn thành kế hoạch thực tập.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới cán bộ quản lý thư viện khoa KT&PTNT,
cán bộ quản lý thư viện trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã tạo điều kiện
cho tôi sử dụng tài liệu tham khảo.
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới ban lãnh đạo khoa KT&PTNT,
các thầy cô trong bộ môn kinh tế nông nghiệp và chính sách, các thầy cô đã
trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu,
cùng toàn thể gia đình và bạn bè đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn
thành đề tài và báo cáo thực tập cuối khóa.
Trong quá trình nghiên cứu có nhiều lí do chủ quan, khách quan. Luận
văn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Tôi rất mong nhận được sự
thông cảm và đóng góp ý kiến của các Thầy, cô giáo và các bạn sinh viên.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
toàn bộ nền kinh tế. Mặc dù chăn nuôi rắn chưa phải là phổ biến ở khắp mọi
nơi nhưng xã Vĩnh Sơn đã lấy đây là điểm mạnh của riêng mình, với lịch sử
nghề nuôi rắn có tuổi đời lên đến vài trăm năm thì người dân nơi đây đã tích
lũy được rất nhiều kinh nghiệm đối với việc chăn nuôi loài động vật hoang dã
nguy hiểm này. Do vậy, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi rắn nói riêng có
một ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông dân
và nông thôn cũng như đối với nền kinh tế.
Xã Vĩnh Sơn hiện nay trong cơ cấu ngành kinh tế nông thôn thì nông
nghiệp vẫn chiếm một tỷ lệ khá cao. Trong đó chăn nuôi chiếm một vị trí rất
quan trọng trên địa bàn xã đặc biệt là nghề nuôi rắn truyền thống. Trong chăn
nuôi rắn hiện nay thì người dân nơi đây tập trung vào nuôi rắn thương phẩm
chiếm tỷ trọng cao hơn nhằm đáp ứng nhu cầu rất lớn của thị trường về sản
phẩm này. Tuy nhiên, trong thực tế một vài năm trở lại đây thì nghề nuôi rắn
cũng gặp phải không ít khó khăn, vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá hiệu quả kinh tế chăn nuôi rắn của các hộ nông dân ở xã Vĩnh
Sơn, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.”
Việc nghiên cứu đề tài nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể là: Góp phần
hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về hiệu quả kinh tế nói chung và
hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi rắn nói riêng. Đánh giá hiệu quả kinh tế
trong chăn nuôi rắn thương phẩm của các hộ nông dân tại xã Vĩnh Sơn – Vĩnh
Tường – Vĩnh Phúc trong thời gian vừa qua. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi rắn thương phẩm của các hộ nông dân tại
xã Vĩnh Sơn – Vĩnh Tường – Vĩnh Tường trong thời gian tới.
Thông qua tìm hiểu các khái niệm về hộ nông dân, kinh tế nông hộ,
khái niệm về hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ, hiệu quả kinh tế, tìm hiểu
iv
các quan điểm về hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế trong chăn
nuôi rắn thương phẩm nói riêng; tìm hiểu về tình hình phát triển chăn rắn
thương phẩm trên thế giới và ở trong nước…để làm cơ sở lý luận và cơ sở
thực tiễn cho việc nghiên cứu đề tài.
phương thức truyền thống.
Bên cạnh những kết quả đạt được thì các hộ chăn nuôi rắn thương
phẩm trên địa bàn xã còn gặp một số khó khăn về các mặt như: vốn đầu tư
cho chăn nuôi, con giống, giá thức ăn tăng cao, mức độ cập nhật thông tin liên
quan đến chăn nuôi còn ít và chậm…bên cạnh đó các hộ chưa được hỗ trợ về
mặt kỹ thuật, về cách phòng và đối mặt với rủi ro trong chăn nuôi, chăn nuôi
còn nhỏ lẻ, tập trung với quy mô gia trại, trang trại chưa nhiều dẫn đến hiệu
quả kinh tế trong chăn nuôi rắn thương phẩm chưa cao.
Nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi rắn thương phẩm cho
các hộ nông dân trên địa bàn xã cần thực hiện một số biện pháp: Tạo điều
kiện cho các hộ chăn nuôi được vay vốn để mở rộng quy mô chăn nuôi; Các
trung tâm, huyện, xã cần cung cấp cho người chăn nuôi giống tốt có nguồn
gốc rõ ràng; Giảm chi phí thức ăn cho người chăn nuôi; Nâng cao ý thức về
phòng tránh dịch bệnh cho người chăn nuôi…
Như vậy qua tìm hiểu thực tế tại xã Vĩnh Sơn và cùng với việc phân tích,
tổng hợp số liệu điều tra, chúng tôi rút ra kết luận như sau: Chăn nuôi là ngành
quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, trong đó chăn nuôi rắn thương phẩm
chiếm một tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi của xã; Trong
chăn nuôi rắn thương phẩm, hiệu quả kinh tế theo quy mô lớn và theo phương
thức công nghiệp là vượt trội hơn cả. Do đó cần có sự đầu tư mở rộng quy mô
chăn nuôi trong nông hộ, loại bỏ dần phương thức nuôi nhỏ lẻ, tận dụng.
vi
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN! ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN iv
MỤC LỤC vii
DANH MỤC BẢNG x
DANH MỤC BIỂU ĐỒ xi
3.2 Phương pháp nghiên cứu 36
3.2.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu 36
3.2.2 Phương pháp thu thập và xử lí số liệu 37
3.2.3 Phương pháp phân tích thông tin số liệu 40
3.2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả 40
3.2.3.2 Phương pháp thống kê so sánh 40
3.2.3.3 Phương pháp phân tích chi phí hiệu quả 40
3.2.4 Phương pháp hạch toán chi phí, tính giá thành 40
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 42
3.3.1 Chỉ tiêu phản ánh các yếu tố sản xuất của hộ 42
3.3.2 Chỉ tiêu phản ánh quy mô chăn nuôi 42
3.3.3 Chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả 42
PHẦN IV 44
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 44
4.1 Thực trạng chăn nuôi rắn thương phẩm trên địa bàn xã Vĩnh Sơn 44
4.1.1 Khái quát về thực trạng nuôi và tiêu thụ rắn thương phẩm ở xã Vĩnh Sơn 44
4.1.2 Thực trạng nghề nuôi rắn thương phẩm của các hộ điều tra 45
4.2. Phân tích hiệu quả kinh tế của các hộ chăn nuôi rắn thương phẩm trong các hộ điều
tra 54
viii
4.2.1 Tình hình đầu tư chi phí của các hộ chăn nuôi rắn thương phẩm của các hộ
điều tra 54
4.2.1.1 Xét theo quy mô chăn nuôi 54
4.2.2 Kết quả và hiệu quả của các hộ chăn nuôi rắn thương phẩm xét theo quy mô và
theo phương thức chăn nuôi 58
4.2.3 Thị trường tiêu thụ rắn thương phẩm của các hộ điều tra 62
4.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả và hiệu quả kinh tế nghề nuôi rắn ở xã Vĩnh
Sơn 65
4.2.5 Thuận lợi và khó khăn đối với nghề nuôi rắn tại xã Vĩnh Sơn 68
4.3 Một số định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi rắn ở xã Vĩnh
mô chăn nuôi 59
Bảng 4.8 Kết quả và hiệu quả chăn nuôi rắn thương phẩm của các hộ điều tra theo
phương thức chăn nuôi 62
x
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: Tình hình nguồn vốn của các hộ điều tra 50
Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ số lượng chi phí chăn nuôi rắn thương phẩm xét theo quy mô chăn
nuôi 56
xi
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là một việc làm rất quan trọng đối với
bất kỳ quốc gia nào trong tất cả các ngành nghề. Nó khẳng định hướng đi đúng
đắn về chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước và các cấp chính
quyền.Nghề chăn nuôi xuất hiện từ lâu đời nay, từ những loài vật hoang dã đã
được con người thuần hóa để thuận tiện cho quá trình chăm sóc, và ông cha ta
đã đúc kết được rất nhiều kinh nghiệm qua hang nghìn năm. Có những vật nuôi
được thuần hóa lâu thì bản tính hoang dã của chúng gần như đã không còn,
nhưng bên cạnh đó thì cũng có những vật nuôi vẫn còn bản tính hoang dã.
Con “Rắn” là nỗi khiếp sợ của nhiều người và có khi còn được coi là
loài vật linh thiêng. Với bản chất là loài động vật máu lạnh, thân nhiệt nên
chúng có thể tấn công bất cứ thú gì mà chúng coi rằng sẽ mang lại nguy hiểm
cho chúng. Vậy mà người dân Vĩnh Sơn không biết từ bao giờ đã có duyên
với loài rắn, họ săn bắt rắn hoang dã ngoài tự nhiên mà không mấy sợ hãi
trước sự nguy hiểm mà loài rắn có thể mang lại, nhưng săn bắt mãi cũng phải
hết, dần dần họ đã nghĩ ra cách thuần hóa và gây nuôi chúng như bao vật nuôi
khác. Người dân Vĩnh Sơn đã quen với việc ăn cùng rắn, ở cùng rắn và ngủ
cũng cùng rắn. Miền Bắc có nhiều địa phương nuôi rắn nổi tiếng như làng
nghề rắn Lệ Mật (Long Biên, Hà Nội), làng nghề rắn Phụng Thượng (Phúc
gian vừa qua;
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
rắn ở xã Vĩnh Sơn trong thời gian qua;
2
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho các hộ nuôi
rắn trong làng nghề truyền thống Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh
Phúc trong thời gian tới.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề nghiên cứu trên, câu hỏi đặt ra là:
- Tình hình chăn nuôi rắn của các hộ hiện nay diễn ra như thế nào?
- Các hộ gây nuôi rắn đã đạt được hiệu quả kinh tế như thế nào? Để
đánh giá được hiệu quả kinh tế đó cần phải làm gì?
- Cần phải làm gì để nâng cao hiệu quả kinh tế gây nuôi rắn cho các hộ
ở xã Vĩnh Sơn, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập chung vào các hộ gây nuôi rắn và
các đối tượng liên quan tới việc gây nuôi rắn ở làng nghề, các đầu mối thu
mua, tiêu thụ rắn của làng nghề truyền thống nuôi rắn Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh
Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Đề tài tiến hành nghiên cứu thực trạng chăn nuôi
và đánh giá hiệu quả kinh tế trong nghề nuôi rắn và nguyên nhân của thực
trạng đó ở xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đưa ra các
giải pháp nhắm nâng cao hiệu quả kinh tế của nghề nuôi rắn ở làng nghề trong
thời gian tới.
- Phạm vi không gian: Làng nghề truyền thống nuôi rắn Vĩnh Sơn,
huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phạm vi thời gian: + Số liệu thứ cấp trong 3 năm 2011 – 2013
+ Số liệu sơ cấp điều tra chăn nuôi rắn năm
4
Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu
hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và
hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”.
Hộ nông dân có những đặc điểm sau:
Thứ nhất hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất
vừa là đơn vị tiêu dùng.
Thứ hai là các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia
hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau.
Ba là quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển
của hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa hoàn toàn. Trình độ này
quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường.
Từ các khía niệm, đặc điểm trên cho thấy hộ nông dân là những hộ
sống ở nông thôn, có hoạt động sản xuất nông nghiệp, hộ nông dân còn tha
gia hoạt động phi nông nghiệp ở các mức độ khác nhau, hộ nông dân là một
đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng
b) Khái niệm kinh tế hộ nông dân
Tchayanov nhà nông học người Nga vào những năm 20 cho rằng:
“Kinh tế hộ nông dân được hiểu là một hình thức tổ chức kinh tế nông nghiệp
chủ yếu dựa vào sức lao động gia đình, nhằm thỏa mãn những nhu cầu cụ thể
của hộ gia đình như một tổng thể mà không dựa trên chế độ trả công theo lao
động với mỗi thành viên của nó”.
Cũng có quan điểm cho rằng: Kinh tế hộ nông dân là một hình thức
kinh tế phức tạp xét từ góc độ có quan hệ kinh tế tổ chức, là sự kết hợp những
ngành, những công việc khác nhau trong quy mô gia đình nông dân.
Có ý kiến khác lại cho rằng kinh tế hộ nông dân bao gồm toàn bộ các
khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu
dùng. Kinh tế hộ thể hiện được các hoạt động kinh tế trong nông thôn như hộ
5
nông nghiệp, hộ nông – lâm – ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ,
chịu sự tác động của các nhân tố kinh tế, xã hội, thể chế và môi trường mà các
hãng, trang trại, nông hộ tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngoài
ra, tuổi, học vấn của chủ hộ, kinh nghiệm sản xuất cũng là những yếu tố quan
trọng ảnh hưởng tới hiệu quả kỹ thuật của nông hộ.
b) Hiệu quả phân bổ
Hiệu quả phân bổ là chỉ tiêu hiệu quả, trong đó các yếu tố giá sản phẩm
và giá đầu vào được tính để xác định giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn
vị chi phí tăng thêm về đầu vào. Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả
kỹ thuật có tính đến yếu tố giá của đầu vào và giá của đầu ra, vì thế nó còn
được gọi là hiệu quả giá.
c) Hiệu quả kinh tế (HQKT)
Farell (1957) đã khẳng định rằng: Hiệu quả kinh tế của một hãng bao
gồm hai bộ phận cấu thành, đó là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ.
Hiệu quả kỹ thuật được xác định như là khả năng của người nông dân có
thể đạt được một mức sản lượng nào đó so với mức sản lượng tối đa với điều
kiện các đầu vào và kỹ thuật hiện đại.
Hiệu quả phân bổ là việc sử dụng các yếu tố đầu vào theo những tỉ lệ
nhằm đạt được lợi nhuận tối đa khi biết cụ thể các giá trị đầu vào.
Hiệu quả kinh tế = Hiệu quả kỹ thuật * Hiệu quả phân bổ
Việc xác định mức hiệu quả kỹ thuật của một hãng hay một hộ nông dân
sẽ giúp chúng ta ra quyết định nên thay đổi công nghệ sản xuất hiện đại hay
tiếp tục nâng cao hiệu quả kỹ thuật để nâng cao năng suất sản phẩm sản xuất
ra. Nếu hiệu quả kỹ thuật của các đơn vị sản xuất kinh doanh đạt >= 90% thì
các đơn vị nên thay đổi công nghệ sản xuất mới để nâng cao sản lượng đầu
vào. Ngược lại, nếu hiệu quả kỹ thuật đạt được <90% thì nên nâng cao trình
7
độ kỹ thuật để tăng mức sản lượng đầu ra mà không cần tăng thêm lượng đầu
vào cũng như áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới.
2.1.3 Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường
Hiệu quả kinh tế là sự phản ánh mối tương quan giữa kết quả hữu ích
không giống nhau khi có cùng hiệu số giữa kết quả và chi phí.
c) Quan điểm thứ 3
Hiệu quả kinh tế thể hiện ở tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả sản
xuất và phần tăng thêm của chi phí.
Công thức: H =∆ Q/∆C
Trong đó: H là tỷ suất kết quả bổ sung
∆Q là kết quả bổ sung
∆C là chi phí bổ sung
Quan điểm này thể hiện tỷ lệ mức độ tăng trưởng của kết quả sản xuất
với mức độ tăng trưởng chi phí của nền sản xuất xã hội. Quan điểm này phức
tạp một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh và chưa thật đầy đủ bởi trong thực tế,
kết quả sản xuất luôn là hệ quả của chí phí sẵn có và chi phí bổ sung.
d) Quan điểm thứ 4
Theo Samuelson – Nordthuas cho rằng hiệu quả kinh tế là không lãng
phí. Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội. Hiệu quả sản
xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng thêm sản lượng hàng hoá này mà
không làm giảm một lượng hàng hoá khác, nền kinh tế đạt hiệu quả khi nằm
trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó.
9
2.1.5 Vai trò, bản chất của hiệu quả kinh tế
Từ những quan điểm về hiệu quả kinh tế nêu trên cho chúng ta thấy
hiệu quả là một phạm trù trọng tâm và rất cơ bản của khoa học kinh tế và
quản lý.
Vai trò, bản chất của hiệu quả kinh tế được thể hiện như sau:
* HQKT là một phạm trù kinh tế khách quan, nhưng nó không phải là
mục đích cuối cùng mà là mục tiêu của sản xuất. Mục đích của sản xuất là thoả
mãn tốt nhất các nhu cầu vật chất, tinh thần tạo ra những kết quả hữu ích ngày
càng cao cho xã hội. Nhưng đạt được mục tiêu về hiệu quả kinh tế là với khối
lượng nguồn lực nhất định tạo ra một khối lượng sản phẩm hữu ích lớn nhất.
* Kết quả và hiệu quả kinh tế có quan hệ khăng khít với nhau. Kết quả
quá trình sản xuất nông nghiệp và hiệu quả của nó. Tuy nhiên, mức độ tác
động của các yếu tố này đến nay vẫn chưa có phương pháp chuẩn xác.
- Những khó khăn trong xác định các yếu tố đầu ra:
Các kết quả sản xuất về mặt vật chất có thể lượng hoá để tính và so sánh
trong thời gian và không gian cụ thể nào đó. Nhưng, những kết quả về mặt xã
hội, môi trường sinh thái, độ phì của đất, khả năng nông nghiệp cạnh tranh
trên thị trường của một doanh nghiệp hay của vùng sản xuất thì không thể
lượng hoá và chỉ được bộc lộ trong thời gian dài. Đó là việc khó khăn trong
việc xác định đúng và đủ các yếu tố đầu ra.
Mong muốn của người sản xuất là tăng nhanh kết quả hữu ích hay mục đích
cuối cùng của sản xuất là đáp ứng tốt nhất những nhu cầu về vật chất tinh thần
và văn hoá xã hội. Đồng thời, mục tiêu của người sản xuất là tiết kiệm các yếu tố
đầu vào để tăng nhanh kết quả hữu ích đó hay tăng hiệu quả kinh tế. Bản chất
của hiệu quả kinh tế là thực hiện tối ưu giữa yếu tố đầu vào với đầu ra.
11
2.1.6 Lí luận về rắn và nghề nuôi rắn
2.1.6.1 Khái niệm về rắn
“Rắn” là tên gọi chung để chỉ một nhóm các loài động vật bò sát ăn thịt
không chân và thân hình thuôn dài, thuộc phân bộ Serpentes, có thể phân biệt
với các loài thằn lằn không chân bằng các đặc trưng như: không có mí mắt và
tai ngoài. Giống như các loài bò sát có vảy khác, rắn là động vật có xương
sống, có màng ối, ngoại nhiệt với các lớp vảy xếp trồng lên nhau che phủ cơ
thể. Nhiều loài rắn có sọ với nhiều khớp nối hơn các tổ tiên là động vật dạng
thằn lằn của chúng, cho phép chúng nuốt các con mồi to lớn hơn nhiều so với
đầu chúng với các quai hàm linh động cao. Để phù hợp với cơ thể thuôn và
hẹp của mình, các cơ quan có cặp đôi của rắn như : thận được bố trí theo kiểu
cái này nằm phía trước cái kia thay vì ngang hàng ở 2 bên, và phần lớn các
loài rắn chỉ có 1 phổi hoạt động, một vài loài vẫn duy trì 1 đai chậu với 1 cặp
vuốt dạng vết tích ở một trong 2 bên của lỗ huyệt.
Các loài rắn còn sinh tồn được tìm thấy trên gần như mọi châu lục
Trứng nở vào tháng 8. Con mới nở dài từ 200-350mm và có khả năng
bạnh cổ.
Chúng phân bố chủ yếu ở phía nam Trung Quốc, Ấn Độ, Mianma, Thái
Lan, Malaysia, và Đông Dương.
Rắn hổ mang chúa được cho là món ăn có nhiều giá trị bổ dưỡng nên
hay bị săn bắt. Rắn hổ mang là loài rất quý hiếm nên cần được bảo vệ.
Được dùng nhiều trong dược liệu, thực phẩm và thương mại.
ở Việt Nam hiện nay, số lượng loài này ngày càng ít. Trong Sách đỏ
Việt Nam thì nó xếp vào mức đe dọa cấm khai thác và sử dụng.
Rắn hổ trâu
Thuộc họ Ptyas mucosa là một loài rắn thuộc họ rắn nước. Loài này có
thể dài tới 2m, màu của nó biến thiên từ màu nâu nhạt ở những vùng
khô cho đến gần như đen ở những khu rừng ẩm ướt. Nói chung nó hay
được tìm thấy ở những khu vực ven đô thị, nơi số lượng các loài gặm
nhấm khá phong phú.
Loài này phân bố ở Afghanistan, Bangladesh, Campuchia, Trung Quốc
(Chiết Giang, Hồ Bắc, Giang Tây, Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam,
13
Quảng Tây, Vân Nam, Tây Tạng, Hồng Kông), Ấn Độ, Sri Lanka,
Indonesia (Sumatra, Java), Iran, Lào, Tây Malaysia, Nepal, Myanma,
Pakistan (khu vực Sindh), Đài Loan, Thái Lan, Turkmenistan, Việt Nam.
2.1.6.2 Khái niệm về nghề nuôi rắn
Nuôi rắn là hoạt động thuần hóa và nuôi dưỡng rắn hay mang các loại
rắn có nguồn gốc từ tự nhiên về nuôi dưỡng trong gia đình với mục đích phục
vụ nhu cầu sinh hoạt trong gia đình hay bán ra ngoài thị trường nhằm đáp ứng
nhu cầu của xã hội và đem lại thu nhập cho gia đình.
2.1.6.3 Vai trò của nghề nuôi rắn đối với phát triển kinh tế
Ngành chăn nuôi là một trong 2 ngành sản xuất chính của sản xuất
nông nghiệp. Nuôi rắn là một nghề mới được chú trọng phát triển trong những
năm gần đây, việc phát triển nghề nuôi rắn có ý nghĩa vô cùng quan trọng.