luận văn thạc sĩ Tác động của chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) đến hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An - Pdf 26

PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong bài báo mang tiêu đề "Rice: Why It's So Essential for Global Security
and Stability" (Lúa gạo: Tại sao lại cần thiết cho sự an toàn và ổn định của thế gới),
Ronald Cantrell, Tổng giám đốc Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (International
Rice Research Institute - IRRI) cho rằng không một hoạt động kinh tế nào nuôi sống
nhiều người và hỗ trợ nhiều gia đình bằng việc sản xuất lúa gạo. Lúa gạo đóng vai trò
cốt lõi trong việc phát triển của rất nhiều quốc gia nhưng cũng gây nhiều tác động đến
môi trường của chúng ta. Việc sản xuất lúa gạo nuôi sống gần một nửa hành tinh mỗi
ngày, cung cấp hầu hết thu nhập chính cho hàng triệu hộ gia đình ở vùng quê nghèo
khổ. Bằng cách cung cấp cho nông dân trồng lúa những sự lựa chọn và những kỹ
thuật mới, người ta đã giúp nông dân tăng gia sản xuất.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã ứng dụng khá thành công những thành
tựu khoa học kỹ thuật để xây dựng và phát triển nền nông nghiệp. Việt Nam đã vươn
mình từ một nước thiếu lương thực trở thành một nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai
trên thế giới. Quá trình đổi mới và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất như
chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tăng vụ, sử dụng giống thâm canh chất lượng cao, nâng
cao trình độ thâm canh trong sản xuất của người nông dân đã làm thay đổi bộ mặt
nông nghiệp của cả nước. Tuy nhiên, khí hậu nóng ẩm ở nước ta đã tạo điều kiện cho
sâu hại và dịch bệnh phát triển rất nhiều. Để đảm bảo năng suất và sản lượng, người
nông dân đã sử dụng quá mức các chất hóa học vì nó mang lại hiệu quả nhanh chóng.
Đây chính là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe con người, tác
động xấu đến môi trường sinh thái và tốn kém trong sản xuất. Vì vậy, để phát triển
nông nghiệp bền vững thì việc áp dụng và phối hợp hài hòa các biện pháp phòng trừ
sâu bệnh khác nhau là rất cần thiết.
Trong thời gian qua, chương trình quản lý dịch hại tổng hợp trên lúa (IPM) đã
đưa lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất của người nông dân và giảm thiểu việc sử
dụng thuốc BVTV, phân bón hóa học, đảm bảo môi trường an toàn hơn. Chương trình
1
này đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Tại Việt Nam, chương trình IPM đã

Xem xét tác động của chương trình IPM đến hiệu quả sản xuất lúa của các hộ
nông dân trên địa bàn huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Từ đó đưa ra các giải pháp
nhằm mở rộng và thực hiện hiệu quả, bền vững chương trình IPM trên địa bàn huyện.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Để thực hiện được mục tiêu chung trên, mục tiêu cụ thể bao gồm:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chương trình IPM, tác động của chương trình
IPM đến hiệu quả sản xuất lúa của các hộ nông dân. Cơ sở thực tiễn về áp dụng
chương trình IPM trên thế giới và ở Việt Nam;
- Tìm hiểu tình hình triển khai chương trình IPM trên lúa trên địa bàn huyện Yên
Thành: mục đích, nội dung, phương pháp triển khai, kết quả triển khai chương trình;
- Thực tế sản xuất lúa của các hộ nông dân: chi phí, kết quả và hiệu quả sản
xuất lúa của hộ nông dân có tham gia và không tham gia thực hiện chương trình IPM
trên lúa trên địa bàn huyện. Từ đó so sánh sự khác nhau về các chỉ tiêu trên giữa hai
nhóm hộ, rút ra lợi ích khi áp dụng chương trình;
- Tìm hiểu một số thuận lợi và khó khăn khi áp dụng chương trình IPM trên địa
bàn huyện;
- Đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả, bền vững chương trình IPM
trên lúa trên địa bàn huyện.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào 2 nhóm chính
(1) Nhóm hộ nông dân sản xuất lúa có áp dụng chương trình IPM;
(2) Nhóm hộ nông dân sản xuất lúa nhưng không áp dụng IPM .
1.4. Phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Phạm vi về nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu tác động của chương trình IPM đến hiệu quả sản
xuất lúa của hộ nông dân qua việc so sánh hiệu quả sản xuất lúa của nhóm hộ nông
dân có tham gia chương trình IPM và nhóm hộ đang canh tác theo quy trình thông
thường, từ đó đưa ra những nhận xét nhằm thực hiện bền vững và mở rộng chương
trình trên diện tích rộng hơn.
3

2.1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
2.1.1. Chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)
2.1.1.1. Một số khái niệm
* Dịch hại (Pest): Dịch hại bao gồm bất cứ cơ thể sống nào gây hại hoặc gây ra
thiệt hại đối với lợi ích cây trồng của con người.(Hà Quang Hùng, 1988) Dịch hại bao
gồm sâu, bệnh, chim, chuột, cỏ dại, nhện,…và một số côn trùng gây hại khác.
* Chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM): IPM là viết tắt từ cụm từ
tiếng Anh “Integrated Pests Management”, có nghĩa là quản lý dịch hại một cách tổng
hợp, hay còn gọi là phòng trừ tổng hợp. Có nhiều tác giả đưa ra khái niệm về quản lý
dịch hại tổng hợp.
- “Quản lý dịch hại tổng hợp là một hệ thống quản lý dịch hại mà trong khung
cảnh cụ thể của môi trường và những biến động quần thể của các loài gây hại, sử dụng
tất cả các kỹ thuật và biện pháp thích hợp có thể được, nhằm duy trì mật độ của các
loài gây hại ở dưới mức gây ra những thiệt hại kinh tế.”(Tổ chức nông lương thế giới,
1972 ).
- “Sử dụng những nguyên tắc sinh thái hợp lý (mối quan hệ giữa các sinh vật
trong hệ sinh thái, cân bằng sinh học trong tự nhiên, quy luật tự điều chỉnh, qua luật
hình tháp số lượng) để giữ cho chủng quần dịch hại phát triển dưới mức gây hại kinh
tế.”(Hà Quang Hùng, 1988).
5
2.1.1.2. Sự cần thiết phải vận dụng biện pháp IPM
Sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển của con
người và của mỗi quốc gia. Xã hội càng phát triển thì vai trò của nông nghiệp càng
được coi trọng.
Ngành nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc biệt do đối tượng của nó là các
sinh vật sống được thực hiện chủ yếu trên đất - tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể
thay thế. Hoạt động nông nghiệp cơ bản thực hiện ngoài trời nên chịu nhiều tác động
của điều kiện tự nhiên. Do đó mà sản xuất nông nghiệp gặp nhiều rủi ro do môi
trường thiên nhiên đem lại, và rủi ro về dịch hại được coi là rủi ro lớn và thường
xuyên nhất.

chất trừ sâu vào Indonesia. Từ đó đã hình thành nên một biện pháp phòng trừ sâu
bệnh mới mà không cần sử dụng thuốc trừ sâu và chương trình quản lý dịch hại tổng
hợp IPM ra đời.
Trong tiến trình phát triển quan niệm IPM có ba điểm “sửa sai” đáng chú ý, đó là:
1) Vào lúc ban đầu, nguyên tắc IPM không bao gồm các giống lúa kháng sâu
bệnh vì một vài nghiên cứu lẻ tẻ cho thấy rằng các giống lúa kháng sâu rầy cũng sẽ
kháng các loại côn trùng thù nghịch thiên nhiên. Tuy nhiên, kết luận này đến hôm nay
chưa được xác định rõ ràng.
2) Phương pháp IPM không chủ yếu làm cây lúa tăng thêm năng suất mà chỉ
giúp một phần cho vụ lúa đạt được năng suất tiềm thế của nó. Nghĩa là IPM chỉ là một
trong những yếu tố làm tăng năng suất lúa. Nhiều nhà côn trùng học lúc bấy giờ cho
rằng IPM làm tăng năng suất lúa ở Indonesia trong những năm 80 của thế kỷ XX.
3) IPM ban đầu chỉ chú ý vào diện côn trùng và phương pháp phổ biến được
gọi là “trường học ruộng nông dân” (farmers field school) mà thôi, nhưng sau đó bao
gồm thêm các diện khác như tình trạng cây lúa và các phương pháp canh tác nông học
tiến bộ.
Từ Indonesia, chương trình quản lý dịch hại đã lan dần ra nhiều nước trồng lúa
trên thế giới. Năm 1992, Việt Nam đã chính thức tham gia mạng lưới IPM network và
từ đó đến nay, chương trình quản lý dịch hại tổng hợp đã phát triển mạnh mẽ ở Việt
Nam, mang lại cho nông dân nhiều lợi ích thiết thực.
7
2.1.1.4. Những nguyên tắc quản lý dịch hại tổng hợp
Mục đích của IPM là không hoặc ít dung thuốc trừ dịch hại nhưng vẫn đảm bảo
năng suất cây trồng, tránh sự ô nhiễm môi trường và đạt hiệu quả kinh tế cao. Do đó,
IPM có các nguyên tắc cơ bản sau:
- Trồng cây khỏe: Sử dụng các giống không có mầm mống dịch hại, khỏe
mạnh và có khả năng chống chịu được sâu bệnh. Việc lựa chọn các giống cây trồng
phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu của từng vùng để chúng phát triển khỏe mạnh
cũng là một biện pháp quản lý dịch hại.
- Bảo vệ thiên địch: Bảo tồn được sự hiện diện của các loài sinh vật có ích

của phương pháp này là có hiệu quả lâu.
* Biện pháp sử dụng giống chống chịu dịch hại:
Là biện pháp sử dụng những giống cây trồng mang gen chống dịch hại hoặc
chịu đựng dịch hại dựa trên mối quan hệ dinh dưỡng giữa các loài sinh vật với nhau.
Mỗi cây trong mối quan hệ dinh dưỡng là thức ăn cho nhiều loài sinh vật nhưng
không phải lúc nào sinh vật cũng tồn tại và gây hại bởi cây có đặc tính chống chịu
dịch hại. Hạn chế của phương pháp này là giống cây trồng có đặc tính chống chịu sâu
bệnh cao là những giống cây cho năng suất không cao và chất lượng nông sản thấp.
Chính vì vậy, công tác chọn giống hiện nay đang tập trung giải quyết vấn đề này. Để
tăng cường giữ gìn và phát huy được tính chống chịu sâu bệnh của cây trồng trong
quản lý dịch hại tổng hợp người ta thực hiện các công việc sau:
- Lựa chọn và áp dụng những bộ giống cây trồng thích hợp cho từng vùng sản xuất.
- Luân phiên thay đổi các giống cây trồng sau nhưng chu kỳ trồng nhất định.
- Bảo đảm các biện pháp kỹ thuật canh tác đáp ứng đúng yêu cầu của mỗi loại
giống cây trồng.
- Đẩy mạnh việc chọn tạo và sử dụng các giống cây mới vừa có năng suất cao,
vừa có phẩm chất tốt, vừa chống chịu được sâu bệnh.
- Tiến hành một cách thường xuyên việc kiểm tra bệnh lý và các giống cây trồng.
* Biện pháp hóa học:
Quản lý dịch hại tổng hợp cây trồng không loại trừ biện pháp hóa học. Tuy
nhiên, chương trình IPM không coi biện pháp hóa học là chủ đạo mà phát huy những
ưu điểm và khắc phục những nhược điểm của biện pháp này. Phương pháp hóa học
trong IPM là việc sử dụng thuốc BVTV theo nguyên tắc bốn đúng:
- Dùng đúng thuốc
- Dùng thuốc đúng liều lượng và nồng độ
- Dùng thuốc đúng lúc
- Dùng thuốc đúng chỗ và đúng nơi
* Biện pháp vật lý cơ giới:
Là việc đào bắt chuột, sử dụng bẫy để tiêu diệt dịch hại như chuột, bướm và thủ
công bắt sâu bọ, rệp… Đây là biện pháp bảo vệ thực vật an toàn nhưng tốn nhiều thời

Chi phí sản xuất là chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất. Đối với sản xuất lúa,
chi phí sản xuất bao gồm các chi phí: chi phí về giống, chi phí làm đất, thuốc bảo vệ
thực vật, thuê lao động, thủy lợi phí, Chương trình IPM với mục đích nâng cao năng
lực phân tích hệ sinh thái đồng ruộng, nhận biết thiên địch, quản lý dịch hại, rủi ro và
10
khả năng tự giải quyết vấn đề. Do vậy, những nông dân tập huấn có khả năng sản xuất
tốt hơn, sử dụng đầu vào tiết kiệm và hiệu quả hơn.
IPM là sử dụng tổng hợp các biện pháp canh tác để quản lý dịch hại. Vì thế, các
hộ áp dụng chương trình chú trọng tất cả các khâu từ làm đất, gieo trồng, chăm sóc.
Làm đất cũng chính là một biện pháp quản lý dịch hại, những nông dân áp dụng
chương trình làm đất sớm và kỹ hơn. Để ải đất và làm đất nhiều lần vừa có tác dụng
diệt cỏ dại, mầm mống sâu bệnh vừa làm cho đất thoáng khí, nhiều oxy rất tốt cho cây
trồng phát triển. Do đó mà chi phí làm đất của các hộ tập huấn tăng lên.
Các hộ tập huấn sử dụng giống cũng hiệu quả hơn. Cấy lúa với mật độ vừa phải
không chỉ hạn chế được sâu bệnh mà còn giúp cây có đủ điều kiện để phát triển tốt.
Nhận thức được điều này, các hộ tham gia tập huấn đã thay đổi được thói quen, sử
dụng giống ít hơn so với hộ không áp dụng. Như vậy, chương trình IPM đã giúp hộ áp
dụng tiết kiệm được chi phí về giống.
Trước đây, bà con thường quan niệm rằng bón nhiều đạm cho lúa là rất tốt, và
thường không hoặc rất ít bón kali. Tuy nhiên, chương trình IPM đã làm thay đổi nhận
thức của họ. Những hộ tham gia tập huấn đã biết rằng bón phân cân đối mới làm cho
năng suất cây trồng đạt tối ưu. Bón phân cân đối chính là bón đa dạng các loại: phân
chuồng, phân đạm, lân, kali với tỷ lệ hợp lý. Đặc biệt là chú trọng vai trò của phân
chuồng. Bởi lẽ phân chuồng không chỉ cung cấp chất dinh dưỡng mà còn làm cho đất
tơi xốp, có tác dụng cải tạo đất, chống suy thoái đất.
Dịch hại trong sản xuất lúa làm giảm năng suất, thông thường nông dân sử
dụng hóa chất để quản lý bởi nó có tác dụng rõ rệt. Đây chính là lý do làm tăng chi
phí sản xuất, làm cho nền nông nghiệp bị phụ thuộc vào thuốc hóa học, làm cho sâu
bệnh lờn thuốc, đồng thời làm ô nhiễm đến môi trường sống của cộng đồng. Chương
trình IPM đã mang đến cho nông dân những kỹ thuật canh tác phù hợp, hiệu quả và

trình IPM làm tăng năng suất trên một đơn vị diện tích, do đó làm tăng sản lượng lúa
của nhóm hộ áp dụng.
2.1.3.4. Tác động tới thu nhập
Chương trình IPM tác động làm tăng năng suất cũng như sản lượng của hộ áp
dụng, trong khi giá bán cũng không ít hơn so với hộ không áp dụng. Vì thế, làm tăng
thu nhập cho nhóm hộ áp dụng IPM. Thu nhập tăng không những giúp họ có điều
kiện để đầu tư tái sản xuất như mua các máy móc thiết bị phục vụ cho việc sản xuất
mà còn góp phần cải thiện đời sống của gia đình.
2.1.3.5. Tác động tới nhận thức của nông dân
12
Chương trình IPM không những tác động về mặt kinh tế mà còn tác động về
mặt kiến thức ở các hộ tham gia. Nhờ tham gia tập huấn chương trình mà nông dân
tăng thêm sự hiểu biết về khoa học kỹ thuật, về hướng phát triển nền nông nghiệp bền
vững. Tham gia tập huấn IPM, nông dân có thếm kiến thức về hệ sinh thái đồng
ruộng, về các biện pháp giúp họ quản lý đồng ruộng tốt hơn.
2.1.3.6. Tác động tới môi trường
Môi trường sống ở nông thôn đang ngày càng bị ô nhiễm. Một trong những
nguyên nhân gây nên tình trạng này là do chúng ta sử dụng quá nhiều thuốc hóa học
và phân bón hóa học trong quá trình sản xuất nông nghiệp. Các hộ tham gia áp dụng
chương trình IPM vào sản xuất đã sử dụng hợp lý hơn, giảm lượng thuốc BVTV và
phân bón hóa học, giúp cho hệ sinh thái đồng ruộng không bị mất cân bằng. Bên cạnh
đó, còn làm cho môi trường đất, nước và không khí đỡ bị ô nhiễm hơn và ít ảnh
hưởng đến sức khỏe của cộng đồng nói chung và người trực tiếp tham gia vào quá
trình sản xuất nói riêng.
13
2.2. Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
2.2.1. Chương trình IPM trên lúa ở thế giới
Khái niệm IPM đã được áp dụng từ khoảng những năm 1950. Nông dân của
các nước tiên tiến đã dùng IPM cho một số cây ôn đới hàng niên như bông vải, alfalfa
và cây đa niên như cao su, dừa dầu và cây trà từ 1957. Vào năm 1984, khóa họp thứ

dụng triệt để phương pháp IPM. Phương pháp này đang được phổ biến mạnh mẽ cho
canh tác lúa và các màu khác ở châu Phi và Mỹ La Tinh.
2.2.2. Chương trình IPM trên lúa ở Việt Nam
Chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) đã được áp dụng ở nước ta từ
những năm 90 của thế kỷ XX. Năm 1992, nước ta đã chính thức tham gia mạng lưới
IPM network. Từ đó đến nay, đã có rất nhiều tỉnh áp dụng đại trà chương trình này
vào sản xuất, không chỉ trong sản xuất lúa mà cả cho một số loại cây trồng khác như
rau, bông, cây hoa màu mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân. Tôi xin đề
cập đến một số tỉnh như Thái Bình, Hải Dương, ĐakLak.
Ở Thái Bình, chương trình IPM được Chính phủ Vương quốc Đan Mạch tài trợ
về kinh phí dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Cục bảo vệ thực vật, với chức năng giúp
nông dân tự chủ trong sản xuất, nâng cao kiến thức cải tiến tập quán canh tác và kỹ
năng quản lý đồng rộng cho nông dân, từ đó giúp nông dân sử dụng có hiệu quả các
loại vật tư nông nghiệp trên cơ sở hiểu biết về sinh thái đồng ruộng, tạo điều kiện cho
nông dân được chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm sản xuất, giúp họ tự điều chỉnh
phương thức sản xuất, đồng thời giải quyết tốt các vấn đề mang tính đặc thù của từng
địa phương. Trong 7 năm chương trình đã đào tạo 54 giảng viên chính (cấp tỉnh) và
1.025 giảng viên nông dân. Đây là lực lượng quan trọng để triển khai dự án ở các địa
phương. Từ vụ mùa 2000 đến vụ đông 2007, chương trình đã huấn luyện được 3.374
lớp huấn luyện nông dân, với trên 101 ngàn hộ nông dân tham gia học tập, thời gian
huấn luyện từ 14 đến 16 tuần/lớp, với nội dung: Điều tra phân tích hệ sinh thái đồng
ruộng, sinh lý cây trồng qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển, các thí nghiệm
trên đồng ruộng, thí nghiệm nuôi côn trùng có ích, các chủ đề: chuột và cỏ dại, thuốc
sâu với sức khỏe con người. Ngoài lý thuyết, nông dân còn trực tiếp điều tra, thu thập
các số liệu trên đồng ruộng làm các thí nghiệm để hiểu biết được các yếu tố cần thiết
như: ánh sáng, nhiệt độ, phân bón tác động đến cây trồng. Với phương pháp này, bắt
15
buộc nông dân phải suy nghĩ để nhớ lâu, hiểu sâu kỹ thuật canh tác mới áp dụng có
hiệu quả trong sản xuất, đạt hiệu quả kinh thế cao hơn. Do sự phát triển không ngừng
của sản xuất nông nghiệp, nên hoạt động IPM cộng đồng có những thay đổi cho phù

đồng thời qua thực tế kiểm nghiệm nhiều vụ lúa trong nhiều năm khác nhau đã có
không ít nông dân trong huyện thực hiện đúng nguyên tắc IPM trên lúa. Họ đã cùng
nhau và hướng dẫn những nông dân khác không có điều kiện tham gia lớp học, gia
sức bảo vệ nguồn thiên địch có sẵn trong ruộng lúa bằng cách không sử dụng thuốc
trừ sâu ngay từ đầu vụ. Họ lựa chọn những loại thuốc có tính chọn lọc khi cần, biết
được thế nào là dùng thuốc đúng thời điểm, liều lượng và nồng độ, biết thực hiện các
biện pháp canh tác kĩ thuật khích lệ cây lúa phát triển tốt, tăng tính chống chịu. Có sự
hiểu biết nhiều về IPM, trong công tác BVTV, nhiều nông dân Nam Sách đã luôn thực
hiện công việc điều tra đồng ruộng (thăm đồng) một cách thường xuyên để tính
ngưỡng gây hại kinh tế của từng loài sâu hại rồi quyết định biện pháp phòng trừ cho
thích hợp. Nhiều năm qua, trên địa bàn huyện Nam Sách, trải qua các vụ lúa được
gieo trồng, năng suất lúa trong nhiều vụ, nhiều năm gần đây luôn đứng đầu tỉnh Hải
Dương. Điển hình là vụ xuân các năm 2007, 2009, 2010… năng suất lúa trung bình
đều đạt từ 67- 69 tạ/ha. Vụ mùa năm 2006, 2007, 2009 năng suất lúa cũng đều đạt từ
60- 65 tạ/ha. Trong khi đó kinh phí đầu tư cho thuốc BVTV là rất ít: Vụ xuân năm
2010 nông dân bình quân chỉ phun từ 1- 2 lần thuốc BVTV/vụ. Qua thực tế trên cho
thấy các lớp học IPM và các chương trình chuyển giao TBKT cho nông dân trên địa
bàn huyện Nam Sách đã đạt được hiệu quả đáng kể, góp phần không nhỏ cho việc
nâng cao TBKHKT của người nông dân, tăng hiệu quả kinh tế cho nông dân sản xuất lúa.
Ở ĐakLak, trong suốt gần 20 năm qua, chương trình quản lý dịch hại tổng hợp
(IPM) đã đạt được những thành tựu to lớn cả về kinh tế, môi trường và xã hội, hiệu
quả của việc thực hiện chương trình đã đem lại những hiểu biết về khoa học kỹ thuật
cây trồng, về sâu bệnh hại, về thiên địch, về tác động của thuốc BVTV từ đó nâng cao
sự nhận thức của cộng đồng các dân tộc trong tỉnh. Từ năm 1994 đến nay, hầu hết các
địa bàn của tỉnh đã được triển khai tập huấn các lớp IPM. Tổng số giảng viên đã được
đào tạo l 84 (trong đó có 19 giảng viên IPM chính là cán bộ kỹ thuật và 65 giảng viên
là nông dân). Số lớp IPM đã mở được l.324 lớp huấn luyện nông dân trên cây lúa
nước, rau xanh, điều, số lượng nông dân đã được huấn luyện IPM trên các loại cây
17
trồng lên tới 8.405 lượt người. Để duy trì và mở rộng chương trình IPM có hiệu quả,

Năm 2000, Nguyễn Phùng Hoan và Molares đánh giá tác động của IPM cộng
đồng ở Ý Yên, Nam Định.
Năm 2002, TS. Đỗ Kim Chung và TS. Kim Thị Dung có đánh giá kinh tế xã
hội trong quản lý dịch hại trong sản xuất lúa ở Việt Nam. Và nghiên cứu tiếp tục được
đánh giá sâu sắc trên cây bông vải.
Năm 2007, Lê Thị Thanh Loan và Đỗ Thị Nhài đánh giá tác động của chương
trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) đến nông dân trồng rau tại xã Đặng Xá, huyện
Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
Năm 2008, Nguyễn Văn Nhiễm đánh giá sự tiếp thu và ứng dụng kỹ thuật IPM
của nông dân sản xuất lúa tại huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình.
Năm 2010, Lương Quang Tuyên đánh giá tác động của chương trình “Ba giảm
ba tăng” đến hiệu quả sản xuất lúa của hộ nông dân tại tỉnh Bắc Giang.
PHẦN III
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1. Vị trí địa lý
Yên Thành là vùng đất nửa trung du miền núi, nửa đồng bằng, nằm về phía
đông của tỉnh Nghệ An. Có vị trí địa lý nằm vào khoảng: từ 105
0
10’00 vĩ độ Bắc.
Phía bắc giáp các huyện Quỳnh Lưu, Tân Kỳ, Diễn Châu.
19
Phía đông giáp huyện Diễn Châu, phía đông nam giáp huyện Nghi Lộc.
Phía nam giáp huyện Đô Lương.
Phía tây giáp huyện Tân Kỳ.
Huyện Yên Thành nằm phía tây đường quốc lộ 1A, cách quốc lộ 13km, trên
trục đường tỉnh lộ 538 nối quốc lộ 1A (đoạn Cầu Bùng) với đường quốc lộ 7 chạy qua
địa bàn Yên Thành dài khoảng 21km về phía nam của huyện và cách trung tâm thành
phố Vinh 55km về phía tây. Các trục đường giao thông liên huyện như đường 33, 205,

C, lượng mưa
trung bình 1600 – 1800 ly. Lượng mưa phân bố không đồng đều trong năm mà tập
trung chủ yếu từ nửa cuối tháng 6 đến tháng 10. Có 2 hướng gió chính là gió mùa
20
Đông Bắc và gió Đông Nam. Khí hậu tương đối phù hợp với cây trồng, vật nuôi
nhưng đồng thời cũng tương thích cho sâu bệnh gây hại phát triển; hạn, úng, bão
thường xảy ra. Vì vậy, trong sản xuất nông nghiệp gặp không ít khó khăn, phải luôn
chú ý chủ động phòng chống lụt bão và bố trí thời vụ trong năm.
3.1.1.4. Thủy văn
Yên Thành có một con sông chính chảy từ BaRa (Đô Lương). Đây là hệ thống
sông tưới chính cho các xã đồng bằng và một số xã miền núi. Tuy không có sông lớn
chảy qua địa bàn huyện nhưng Yên Thành lại là huyện có nhiều khe suối từ vùng núi
huyện Tân Kỳ, Quỳnh Lưu đổ về các xã bán sơn địa phía tây và tây bắc. Các công
trình trung và tiểu thủy nông vùng này đã được đầu tư xây dựng khá hoàn chỉnh và
tương đối đều khắp với tổng số hơn 200 đập nhỏ và vừa. Có nhiều hồ lưu trữ nước lớn
như hồ Vệ Rừng, Đốn Húng…Với hệ thống kênh tưới của công trình Thủy nông Bắc
Nghệ An, mạng lưới các hồ đập bán sơn địa với 270 hồ đập. Có sông Dinh, sông Dền,
kể cả nước ngầm trong đất cùng với lượng mưa hàng năm là nguồn nước đảm bảo cơ
bản cho sản xuất, sinh hoạt.3.1.1.5. Đặc điểm về đất đai
21
Yên Thành có địa hình lòng chảo hướng nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông
Nam, chia thành 2 vùng: Vùng đồng bằng là vùng trọng điểm lúa, vùng bán sơn địa là
vùng có thế mạnh phát triển cây công nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi. Tổng diện
tích đất tự nhiên 54.740,71 ha (năm 2008), có 8 loại đất, trong đó có các loại chính là:
đất phù sa không được bồi hàng năm và đất feralit biến đổi do trồng lúa nước chiếm
52,6% là loại trồng lúa nước chủ yếu. Đất feralit phát triển trên phiến sét, sa phiến sét
và đất nâu vàng chiếm 40,6% chủ yếu dung cho cây công nghiệp, cây lâm nghiệp. Với
sự đa dạng và tiềm năng của các loại đất đó, Yên Thành có thể phát triển kinh tế nhờ
phát triển nông nghiệp.
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

quân
1.Tổng số hộ Hộ 65.515 100,00 65.714 100,00 65.947 100,00 100,30 100,36 100,33
-Hộ nông nghiệp Hộ 53.781 82,09 53.919 82,05 54.002 81,89 100,26 100,15 100,21
-Hộ phi nông nghiệp Hộ 11.734 17,91 11.795 17,95 11.945 18,11 100,52 101,27 100,89
2.Tổng số nhân khẩu Khẩu 275.165 100,00 277.262 100.00 279.455 100,00 100,76 100,79 100,78
3.Tổng số lao động Lao động 118.350 100,00 125.602 100,00 130.805 100,00 106,13 104,14 105,13
-Lao động nông nghiệp Lao động 87.350 73,81 91.129 72,55 92.249 70,52 104,33 101,23 102,77
-Lao động phi NN Lao động 31.000 26,19 34.473 27,45 38.556 29,48 111,20 111,84 111,52
4.Một số chỉ tiêu
-Mật độ dân số Người/km
2
502,67 - 506,50 - 510,51 - - - -
-Nhân khẩu/hộ Khẩu/hộ 4,20 - 4,22 - 4,24 - - - -
Lao động/hộ LĐ/hộ 1,81 - 1,91 - 1,98 - - - -
Lao động NN/hộ NN LĐNN/hộNN 1,62 - 1,69 - 1,71 - - - -
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Yên Thành)
23
3.1.2.2. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật
Tình hình trang bị hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật của huyện được thể hiện
trong bảng 3.2. Qua bảng 3.2, ta thấy trong mấy năm gần đây, tình hình trang bị cơ sở
vật chất kỹ thuật của huyện tương đối tốt. Về điện thì mặc dù có những xã miền núi
cách trung tâm huyện khá xa song 100% hộ trên địa bàn huyện đã có điện thắp sáng.
Giao thông trong địa bàn huyện tuy đã được chú trọng xây dựng song vẫn còn
một tỷ lệ lớn đường đất. Đường nhựa và đường bê tông vẫn còn chiếm tỷ lệ thấp. Điều
này làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sản xuất kinh doanh cũng như trao đổi,
giao lưu về văn hóa. Tuy nhiên, trong địa bàn các xã thì đường liên thôn hầu hết đã
được bê tông hóa.
Trường mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đều được xây
dựng kiên cố, thuận lợi để phục vụ tốt cho công tác giáo dục. Trung bình, mỗi xã trên
địa bàn huyện có một đến hai trường mẫu giáo, tiểu học; một trường trung học cơ sở

366,6
421,32
241,72
902,9
III. Trường
- Trường mẫu giáo
- Trường cấp 1
- Trường cấp 2
- Trường cấp 3
- Trường Trung cấp nghề
- Trung tâm giáo dục thường xuyên
- Trung tâm chính trị
Trường
Trường
Trường
Trường
Trường
T.Tâm
T.Tâm
42
42
35
8
1
1
1
IV. Y tế
- Bệnh viện huyện
- Trạm y tế xã, thị trấn
- Phòng khám đa khoa khu vực

1
1
1
39
39
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Yên Thành)
3.1.2.3. Điều kiện đất đai và sử dụng đất đai của huyện trong sản xuất nông nghiệp
Qua bảng 3.3, ta thấy trong 3 năm gần đây, đất đai huyện Yên Thành có sự biến
động trong mục đích sử dụng. Diện tích đất nông nghiệp tăng lên 0,11% vì huyện đã
làm tốt công tác chuyển một phần diện tích chưa sử dụng vào khai thác. Tỷ lệ tăng
thấp bởi một phần diện tích vốn là đất nông nghiệp đã được sử dụng để làm đất ở và
xây dựng một số công trình khác. Diện tích mới được sử dụng này phần lớn được sử
25

Trích đoạn Những khó khăn khi áp dụng chương trình IPM Xây dựng chương trình IPM là của toàn dân Giải pháp cho chương trình tập huấn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status