tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông dân trên địa bàn huyện gia lâm – hà nội - Pdf 14

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, toàn bộ số liệu cũng như kết quả nghiên cứu của
luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài này đều
được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ ràng
nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 22 tháng 05 năm 2008
Tác giả
Trương Thị Bình
i
LỜI CẢM ƠN
Sau khi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp với đề tài “Tác động của
lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông dân trên địa bàn huyện Gia Lâm –
Hà Nội”, tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám hiệu, Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn trường Đại học
Nông Nghiêp I đã giúp đỡ về mọi mặt để tôi hoàn thành luận văn.
Phòng kế hoạch – kinh tế và PTNT huyện Gia Lâm đã tận tình giúp đỡ
tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Các thầy cô trong bộ môn kinh tế của khoa Kinh tế và PTNT cùng các
thầy cô trong khoa Kinh tế và PTNT trường Đại học Nông Nghiệp I đã giảng
dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Phúc Thọ đã tận
tình chỉ dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Và tôi xin cám ơn gia đình, bạn bè, người thân đã động viên giúp đỡ tôi.
Hà Nội, ngày 22 tháng 05 năm 2008
Tác giả
Trương Thị Bình
ii
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Chỉ số giá tiêu dùng của một số nước…………………………….17

Chưa có năm nào giới truyền thông và người tiêu dùng lại “bận tâm” nhiều về
giá cả hàng hóa như thời gian qua. Nguyên nhân là hầu hết các mặt hàng thiết
yếu đều tăng giá khá cao trong số đó có không ít mặt hàng đã tăng giá gấp
1
rưỡi, gấp đôi so với cùng kỳ năm 2006. Trong năm 2007, việc lạm phát với
hai con số đã ảnh hưởng lớn đến người dân đặc biệt là những hộ nông dân cả
về sản xuất và đời sống. Mục tiêu cuối cùng của tăng trưởng kinh tế là nâng
cao đời sống cho người dân, hiện chúng ta đang phát triển kinh tế với tốc độ
cao nhưng trên thực tế đời sống của một bộ phận người dân đang đi xuống vì
“cơn bão giá”. Đặc biệt với những người nông dân, những người có thu nhập
thấp, bình thường cuộc sống đã gặp nhiều khó khăn nay giá của các hàng hóa
và dịch vụ tăng cao đã làm đời sống cũng như sản xuất của họ càng khó khăn
hơn. Tuy giá cả các sản phẩm đầu ra của hộ nông dân tăng nhưng tốc độ tăng
của chúng liệu cao hơn tốc độ tăng giá của các yếu tố đầu vào và các mặt
hàng khác không?
Với lý do trên và được sự giúp đỡ của thầy cô bộ môn kinh tế chúng tôi
đã chọn đề tài “Tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông
dân trên địa bàn huyện Gia Lâm – Hà Nội”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Xem xét tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông dân trên
địa bàn huyện Gia Lâm – Hà Nội. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu
nhằm hạn chế ảnh hưởng của nó đến các hộ nông dân, qua đó góp phần kiềm chế
lạm phát.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về lạm phát.
- Tìm hiểu tình hình lạm phát của nước ta và giá cả một số mặt hàng trên địa bàn
huyện Gia Lâm trong thời gian vừa qua.
- Tìm hiểu những tác động của lạm phát đến sản xuất và thu nhập hộ nông
dân trên địa bàn huyện Gia Lâm.

L.V.Chandeler với trường phái lạm phát giá cả lại cho rằng lạm phát là
sự tăng giá hàng bất kể dài hạn hay ngắn hạn, chu kỳ hay đột xuất.
Theo R.Jackman, C.Muley và J.Trevithich thì lạm phát có thể được
định nghĩa đúng nhất là xu hướng duy trì mức giá chung cao nhất. Điều đó có
nghĩa là lạm phát chỉ xuất hiện khi mức giá cả tăng nhanh và kéo dài.
P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus tổng quát hơn khi định nghĩa lạm phát
xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng lên
Ở Việt Nam, nhiều nhà kinh tế của chúng ta cũng đã đưa ra cách hiểu
khác nhau, đó là:
Ông Bùi Huy Khoát theo quan điểm của học thuyết “lạm phát cầu kéo”
cho là lạm phát nảy sinh so mất cân đối giữa cung và cầu, khi cầu có khả
năng thanh toán tăng vượt quá khả năng cung của nền kinh tế làm giá cả hàng
hóa tăng lên; lạm phát chính là sự tăng lên tự động của giá cả để lấy lại thế
cân bằng đã bị phá vỡ giữa cung và cầu, biểu hiện ra ở hàng và tiền.
4
Còn ông Nguyễn Văn Kỷ theo lý thuyết “lạm phát lưu thông tiền tệ” lại cho
rằng lạm phát là hiện tượng tiền quá thừa trong lưu thông so với lượng hàng quá ít ỏi.
Có thể nhận thấy rằng tất cả các luận thuyết, các quan niệm về lạm phát đã
nêu ở trên, dù tiếp cận ở phương diện nào, dù theo trường phái nào đều thừa nhận
một đặc tính cơ bản của lạm phát là hiện tượng giá cả chung tăng lên. Như vậy có
thể định nghĩa một cách chính xác về lạm phát như sau: “Lạm phát được định
nghĩa là sự tăng giá trung bình của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian, tức là
mức giá chung tăng lên hoặc là quá trình đồng tiền liên tục giảm giá”.
Trong thực tế, dù có bất kỳ sự tăng giá nào của một vài hàng hóa riêng lẻ
nhưng giá cả của một vài hàng hóa khác lại giảm, lúc đó mức giá chung sẻ không
tăng và lạm phát sẻ không xảy ra. Như vậy có thể kết luận rằng chỉ có lạm phát
khi mức giá chung tăng lên, lạm phát được đặc trưng bởi chỉ số giá chung về giá
cả của toàn bộ hàng hóa cấu thành tổng sản phẩm quốc dân. Khi nói đến lạm phát
là phải nhắc đến sự tăng giá của toàn bộ hàng hóa trong nền kinh tế.
2.1.2 Thước đo lạm phát

nhà cửa…. Khi nghiên cứu người ta còn xem xét cơ cấu của từng loại hàng
hóa trong nhóm hàng.
- Chỉ số giá cả sản xuất ( ký hiệu là PPI)
Khác với chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá bán buôn ( chỉ số giá sản xuất)
phản ánh sự biến động giá cả của đầu vào, mà thực chất là biến động giá chi
phí sản xuất. Xu hướng biến động giá chi phí tất yếu sẻ tác động đến xu
hướng giá cả hàng hóa thị trường.
Công thức tính như sau:
100∗=
o
t
t
P
P
PPI
Trong đó: PPI
t
là chỉ số giá cả sản xuất thời kỳ nghiên cứu.
P
t
: Giá bán buôn lần đầu nhóm hàng thời kỳ nghiên cứu.
P
0
: Giá bán buôn lần đầu nhóm hàng thời kỳ so sánh.
Mức độ lạm phát của một nền kinh tế được thể hiện qua tỷ lệ lạm phát.
Nó chính là thước đo chủ yếu của lạm phát trong một thời kỳ. Quy mô và sự
biến động của nó phản ánh quy mô và xu hướng của lạm phát. Đó chính là tốc
độ tăng mức giá chung của thời kỳ nghiên cứu so với thời kỳ gốc.
Tỷ lệ lạm phát được tính như sau:
100*1

CPI
CPICPI
i
Trong đó: i là tỷ lệ lạm phát (%).
CPI: chỉ số giá hàng tiêu dùng năm sau.
CPI
-1
: chỉ số giá hàng tiêu dùng năm trước.
6
Khi nói đến lạm phát người ta còn tính hệ số điều chỉnh (hệ số giảm phát)
100*(%)
r
n
GNP
GNP
D =
Trong đó: D: hệ số giảm phát
GNP
n
: GNP danh nghĩa
GNP
r
: GNP thực tế.
Tuy nhiên trên thực tế việc dùng chỉ số giá để đo lường lạm phát
thường không được chính xác, bởi nó luôn có khuynh hướng phóng đại lạm
phát, vì vậy giữa lạm phát và chỉ số giá có sự chênh lệch. Nguyên nhân là:
+ Một là nó không phản ánh đầy đủ sự cải thiện chất lượng sản phẩm.
+ Hai là, nó không phản ánh sự cải tiến kỹ thuật sản xuất.
Sự chênh lệch này là có tác hại rất lớn đối với nền kinh tế. Bởi lẻ khi
công bố chỉ số giá cao ( tức là theo dự kiến), lúc đó sẻ khuyến khích dân

dài, vì thế hậu quả của nó là khá nghiêm trọng. Cũng vì thế, nhiều nhà kinh tế
dựa vào 3 loại lạm phát trên kết hợp với độ dài thời gian lạm phát để chia lạm
phát ở các nước đang phát triển thành 3 loại sau:
- Lạm phát kinh niên thường kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát đến
50%/năm.
- Lạm phát nghiêm trọng thường kéo dài trên 3 năm, với tỷ lệ lạm phát
trên 50%/năm.
- Siêu lạm phát kéo dài trên 1 năm với tỷ lệ lạm phát trên 200%/năm.
2.1.4 Tác động của lạm phát
2.1.4.1 Tác động tiêu cực của lạm phát
Tác haị của lạm phát luôn tỷ lệ thuận với tốc độ lạm phát, với mức độ
không thể dự báo trước và vượt ra khỏi sự điều tiết của chính phủ. Những lạm
phát không thể tiên đoán được thì hậu quả sẻ rất ghê gớm, điều này được biểu
hiện như sau:
8
- Lạm phát cao sẻ kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế. Khi lạm phát xảy ra
nó sẻ làm lệch lạc cơ cấu giá cả, kéo theo là nguồn tài nguyên, vốn và nguồn
nhân lực không được phân bổ một cách có hiệu quả, kết cục là làm tăng
trưởng kinh tế chậm lại.
- Vì nó làm rối loạn chức năng thước đo giá trị của đồng tiền nên lạm
phát thường xuyên tạc, bóp méo, làm biến dạng các yếu tố và tín hiệu thị
trường, làm cho tất cả các hoạt động kinh tế - xã hội, đặc biệt là các hoạt
động sản xuất kinh doanh không thể tiến hành bình thường được. Vai trò
điều tiết nền kinh tế của chính phủ thông qua tiền tệ và thuế cũng bị suy
giảm, thậm chí bị vô hiệu hóa do mức thuế trở nên vô nghĩa trước tốc độ
lạm phát quá cao.
- Tính không chắc chắn của lạm phát là kẻ thù của tăng trưởng và đầu
tư dài hạn. Nếu các nhà đầu tư không biết chắc chắn hoặc không thể dự đoán
trước được mức giá cả trong tương lai, kéo theo là không thể biết được lãi
suất thực thì không ai trong số họ dám liều lĩnh đầu tư vào các dự án dài hạn

loạn thị trường trong nước, ảnh hưởng không tốt đến môi trường kinh doanh.
Điều này dẫn đến dòng tiền từ nước ngoài đầu tư vào trong nước bị chững lại
có khi là suy giảm. Đồng thời khi lạm phát cao sẻ làm cho giá của các mặt
hàng nhập khẩu trở nên đắt đỏ vì vậy sẻ hạn chế việc nhập khẩu những hàng
hóa, vật tư cần thiết.
2.1.4.2 Tác động tích cực của lạm phát
Lạm phát với quy mô nhỏ (thường là dưới 10%) thì nó cũng mang lại một
số lợi ích, đó là:
- Khi có lạm phát với tốc độ nhỏ sẻ kích thích cho nền kinh tế phát triển
bởi nó kích thích tiêu dùng, vay nợ và đầu tư do đó tạo ra nhiều việc làm nên
sẻ giảm bớt được thất nghiệp. Theo nhà kinh tế học người Mỹ A.W.Phillips
đã cho rằng giữa lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ tỷ lệ nghịch và có
quan hệ tỷ lệ thuận với tăng lương.
10
- Bên cạnh đó khi có lạm phát sẻ giúp phân phối lại thu nhập và các
nguồn lực xã hội theo định hướng mục tiêu mà chính phủ đề ra.
2.1.5 Các lý thuyết về lạm phát
2.1.5.1 Lý thuyết “lạm phát lưu thông tiền tệ”
Những người theo lý thuyết này cho rằng lạm phát là đưa nhiều tiền
thừa vào lưu thông làm cho giá cả tăng lên. Như M.Friedman cho rằng:
“Lạm phát trong mọi lúc, mọi nơi đều là hiện tượng của lưu thông tiền tệ.
Lạm phát xuất hiện và chỉ xuất hiện khi số lượng tiền trong lưu thông tăng
lên với nhịp độ nhanh hơn so với sản xuất”.
Năm 1907, Irving Fisher đưa ra một công thức, và nó được xem là công
thức đặc trưng và phổ biến trong lý thuyết “lạm phát lưu thông tiền tệ”:
M x V = P x T
Trong đó: M: Khối lượng tiền tệ
V: Tốc độ lưu thông tiền tệ
P: Mặt bằng chung của giá cả
T: Khối lượng giao dịch phải đảm bảo

Hình 2.2 Chi phí tăng đẩy giá lên cao.
Qua hình ta thấy khi giá các yếu tố đầu vào đặc biệt là các vật tư cơ bản
như xăng dầu, điện, … tăng lên sẻ làm đường tổng cung dịch chuyển lên trên
từ AS
SR0
lên AS
SR1
. Khi đó tuy tổng cầu AD không đổi nhưng giá cả tăng lên
từ P
0
lên P
1
và sản lượng lại giảm xuống (Y
0
xuống Y
1
).
2.1.5.4 Lạm phát dự kiến
P
0
Y
*
Y
E
0
E
1
AS
LR
AS

AS
LR
12
Tỷ lệ lạm phát dự kiến là tỷ lệ lạm phát nằm trong suy đoán của các nhà
kinh tế. Với tỷ lệ lạm phát này thì giá cả tăng đều với một tỷ lệ tương đối ổn
định. Vì vậy nó còn được gọi là tỷ lệ lạm phát ỳ.Để đạt được tỷ lệ lạm phát
này, chính phủ sẻ điều chỉnh mọi hoạt động kinh tế sao cho phù hợp (VD:
điều chỉnh lãi suất danh nghĩa, tiền lương danh nghĩa, giá cả trong các hợp
đồng kinh tế, các khỏan chi tiêu ngân sách,…).
Hình 2.3 Lạm phát dự kiến
Qua hình ta thấy khi đường tổng cầu AD và đường tổng cung AS cùng
dich chuyển lên trên cùng một độ dốc. Do lạm phát được dự kiến nên chi phí
sản xuất được điều chỉnh theo sao cho phù hợp với tốc độ lạm phát. Khi đó
sản lượng vẫn giữ nguyên còn giá cả thì tăng lên theo dự kiến.
Nếu tỷ lệ lạm phát của một quốc gia mà đúng như dự kiến thì nền kinh
tế sẻ ổn định và tự nó sẻ duy trì trong một khoảng thời gian. Tuy nhiên tỷ lệ
lạm phát này không giữ được bao lâu vì luôn có những tác động có thể từ
trong hoặc ngoài nước ảnh hưởng sẻ làm cho lạm phát thay đổi.
2.1.5.5 Lạm phát và tiền tệ
P
P
1
P
0
0
Y
*
Y
AS
SR1

vĩ mô nào giảm được tốc độ tăng tiền cũng dẫn đến giảm tỷ lệ lạm phát và
điều này đặc biệt phù hợp với thời kỳ ngắn hạn.
2.1.5.6 Lạm phát và lãi suất
Vì lãi suất thực tế = lãi suất danh nghĩa – lạm phát nên khi lạm phát
tăng muốn duy trì lãi suất thực tế ở một mức ổn định thì lãi suất danh nghĩa
cũng phải tăng theo, khi đó sẻ làm tăng chi phí cơ hội của việc giữ tiền, giữ
tiền càng nhiều thì càng thiệt. Nên khi đồng tiền mất giá càng nhanh thì mức
độ gửi tiền vào ngân hàng càng tăng hoặc có thể đẩy tiền ra ngoài thị trường
để mua về mọi hàng hóa để dự trữ, gây thêm mất cân bằng cung cầu trên thị
trường và khi đó tiếp tục đẩy giá lên cao.
2.1.6 Nguyên nhân của lạm phát
Lạm phát là kết quả của sự tác động của nhiều yếu tố, bao gồm cả yếu
tố chủ quan và yếu tố khách quan. Cụ thể đó là:
- Sự bất cập và kém hiệu quả của chính sách điều tiết vĩ mô của chính
phủ. Ví dụ như: Chính phủ phát hành quá nhiều tiền để đáp ứng nhu cầu chi
tiêu của chính phủ sẻ làm tăng dư cầu; các chính sách đầu tư thì không hợp lý
dẫn đến cơ cấu kinh tế không thích hợp, kinh tế chậm phát triển; …. Chính vì
vậy sẻ gây ra lạm phát.
- Do chi phí quản lý, tiền lương lao động, giá nguyên nhiên vật liệu,…
tăng lên làm cho chi phí sản xuất cũng tăng theo. Khi đó các doanh nghiệp
14
phải tăng giá bán để có thể bù đắp được khoản chi phí tăng đó, để thu được
lợi nhuận như mong muốn. Vì vậy gây nên hiện tượng lạm phát.
- Gây ra lạm phát không chỉ có các nguyên nhân từ bên trong của bản
thân nền kinh tế mà còn do các nguyên nhân từ bên ngoài gây ra. Khi thị
trường bên ngoài có biến động, giá cả trên thị trường quốc tế tăng mạnh sẻ
dẫn đến tình hình giá cả trong nước có biến động theo và nguy cơ chi phí đẩy
có thể diễn ra. Từ đó sẻ tạo ra lạm phát cho nền kinh tế.
- Kỳ vọng về lạm phát của chính phủ, doanh nghiệp, người dân cũng là
nguyên nhân gây ra lạm phát trong tương lai. Chính những dự kiến về lạm

cần được tính toán tỉ mỉ hơn. Về lâu dài các nước này nên chăm lo mở rộng sản
lượng tiềm năng của mình bằng việc phát huy có hiệu quả nguồn vốn trong và
ngoài nước để đảm bảo vừa nâng cao sản lượng, mức sống cho người dân vừa ổn
định giá cả các loại hàng hóa.
Lạm phát bên cạnh những tác hại mà nó gây ra nó cũng có lợi ích rất lớn
đối với mỗi nền kinh tế, vì vậy không nên xóa bỏ hoàn toàn lạm phát. Các quốc
gia hiện nay thường chấp nhận với một tỷ lệ lạm phát thấp và áp dụng các biện
pháp để ổn định và duy trì chúng. Đó là cách tốt nhất để không tránh sự thiệt hại
mà lạm phát gây ra đồng thời vẫn đảm bảo được tăng trưởng kinh tế.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình lạm phát trên thế giới
Chẳng riêng gì các siêu cường quốc kinh tế trên thế giới mà với mọi
quốc gia, lạm phát là bóng ma ám ảnh kinh hoàng mọi người. Trong lịch sử
lạm phát thế giới có nhiều cuộc lạm phát làm cho người ta không thể quên
được. Như đầu thập niên 80 (1981 – 1984), mức lạm phát trung bình hàng
năm ở Anh là 7,5%; Canada là 8,4%; Pháp 10,6%; Đức 4,3%; Ý 15,1%;…
Bảng 2.1 Chỉ số giá tiêu dùng của một số nước (lấy năm 2000 là 100%)
Năm
QG
2001 2002 2003 2004 2005
Mỹ 102,8 104,5 106,8 109,7 113,4
16
Trung Quốc 100,7 99,9 101,1 105 106,9
Nhật Bản 99,3 98,4 98,1 98,1 97,8
Hàn Quốc 104.1 106,9 110,7 114,7 117,8
Thái Lan 101,7 102,3 104,1 107 111,8
Xingapo 101 100,6 101,1 102,8 103,3
Anh 101,8 103,5 106,5 109,7 112,8
Nga 121,5 140,6 159,9 177,2 199,7
Nguồn: Niêm giám thống kê

b. Lạm phát ở Lào
Trong những năm đầu của công cuộc đổi mới, nhất là từ năm 1991
đến năm 1996, tình hình kinh tế - xã hội của Lào phát triển tương đối
nhanh và ổn định. Tuy nhiên từ 1997 đến 1999, tình hình kinh tế Lào đã có
những chuyển biến không lành mạnh, tốc độ tăng trưởng GDP có xu hướng
chậm lại và giảm dần, năm 1998 chỉ tăng khoảng 5,6%. Lạm phát phi mã
có xu hướng tăng cao không kiềm chế được, năm 1997 lạm phát ở mức
26,6% thì năm 1998 lên tới 142%.
Trước tình hình đó, chính phủ Lào đã có nhiều biện pháp kiềm chế lạm
phát, đặc biệt trong hai năm 1997 – 1999 đã đầu tư tập trung phát triển sản
xuất nông nghiệp và đạt hiệu quả cao, giải quyết vấn đề lương thực. Tuy
nhiên nhìn chung kết quả kiềm chế lạm phát còn hạn chế, bằng chứng là lạm
phát trong 8 tháng đầu năm 1999 đã cao gấp 3 lần của năm 1998. Khi đó
chính phủ Lào đã áp dụng một số chính sách sau:
- Giảm nhập khẩu và kiểm soát buôn lậu qua biên giới.
- Đẩy mạnh buôn bán với Việt Nam và Trung Quốc, nhưng còn gặp
nhiều khó khăn về thanh toán.
- Chính phủ đã phát hành trái phiếu kho bạc nhưng do lãi suất có 30%
trong khi đó lạm phát là 150% nên kết quả rất hạn chế. Vì vậy sau đó ngân
hàng Nhà nước Lào đã phát hành trái phiếu với lãi suất cao hơn là 60%/năm
18
và đạt kết quả tốt. Chính phủ Lào cũng đã thực hiện biện pháp bán vàng
nhưng do số lượng quá ít nên chưa cói tác động gì đáng kể.
- Cố gắng đẩy mạnh tăng thu ngân sách nhưng do các doanh nghiệp còn
gặp nhiều khó khăn, làm ăn thua lỗ nên việc tăng thu ngân sách qua thuế là
không dễ dàng.
Trong những năm gần đây tình hình kinh tế của Lào không có nhiều
biến động lớn, nền kinh tế ổn định nhưng tốc độ tăng trưởng không cao, tỷ lệ
lạm phát chỉ ở mức một con số.
2.2.2 Tình hình lạm phát ở Việt Nam

1984 164,9
1985 191,6
1986 487,3
1987 301,3
1988 308,2
Nguồn: Niêm giám thống kê
- Giai đoạn ba, từ tháng 5/1988 đến năm 1991. Đây là giai đoạn mà lạm
phát được công nhận bằng nghị quyết số 11 của Ủy ban Trung ương ĐCSVN
về đấu tranh với lạm phát. Giai đoạn này rất nhiều các giải pháp chống lạm
phát đã được đưa ra nhưng chúng mới ở dạng thử nghiệm, còn chưa thu được
những kết quả như mong muốn. Thời kỳ này tỷ lệ lạm phát của Việt Nam
không còn ở mức 3 con số. Cụ thể là năm 1989 là 34,7%, năm 1990 là 67,5%,
năm 1991 là 67,6%.
20
- Giai đoạn thứ tư, từ năm 1991 đến năm 1999. Đây là thời kỳ mà
chống lạm phát được xem là mặt trận hàng đầu. Tỷ lệ lạm phát ở giai đoạn
này được ghi nhận là thấp nhất từ trước đó đến nay.
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status