Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ xa xưa trồng lúa và nuôi lợn được nông dân coi như một nghề gắn bó với nhau
như hình với bóng. Con lợn ngày nay không chỉ cung cấp 70 – 80% [13] sản lượng thịt
nói chung cho hơn 81 triệu dân trong nước mà còn tham gia xuất khẩu hàng ngàn tấn
mỗi năm. Chúng ta có thể tận dụng phân lợn còn làm thức ăn cho cá. Nhiều hộ gia đình
khá lên nhờ chăn nuôi lợn.
Những năm gần đây đàn lợn ở nước ta ngày một phát triển, cả về số lượng và chất
lượng nhờ áp dụng các tiến bộ kỹ thuật ở trong nước cũng như trên thế giới, năng suất
nuôi lợn năm sau cao hơn năm trước. Khối lượng lợn xuất chuồng bình quân đạt 50,9
kg/con năm 1981 tăng lên 70 kg/con năm 1993. Đàn lợn cả nước cũng tăng rất nhanh:
từ 10 triệu con năm 1980 đã vượt lên 22 triệu con năm 2000. Sản lượng thịt tăng từ 287
ngàn tấn (1980) lên 1,42 triệu tấn năm 2000. [13]
Xã Triệu Hòa, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, là một vùng đất rất có tiềm năng
cho chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi trâu, bò, lợn và gia cầm. Tuy nhiên, chăn nuôi trâu
bò rất khó bề nhân rộng vì đòi hỏi vốn nhiều đồng thời khả năng quay vòng vốn lại
chậm. Chăn nuôi gia cầm tuy tận dụng được diện tích vườn nhà nhưng hiện nay thường
xảy ra dịch cúm gà, gây ra rủi ro lớn cho người chăn nuôi, cho nên lợn là vật nuôi có
tiềm năng phát triển nhất ở xã.
Trong những năm gần đây, để đáp ứng và góp phần tích cực đưa chăn nuôi trở thành
ngành sản xuất hàng hoá, trong đó chăn nuôi lợn vẫn giữ vai trò chủ đạo có nhiều hộ
trong xã đã phát triển chăn nuôi lợn theo hướng đầu tư cao và đã có kết quả khả quan.
Tuy nhiên, Triệu Hoà lại là một xã chăn nuôi nhỏ lẻ, chăn nuôi theo quy mô trang trại,
gia trại chưa phát triển mặc dù trong thời gian gần đây xã đã có nhiều chính sách phát
triển. Nhưng chăn nuôi lợn có thực sự mang lại hiệu quả và mang lại hiệu quả như thế
nào cho hộ chăn nuôi thì xã chưa hề có một báo cáo cụ thể nào về vấn đề này. Vì vậy,
để có một cái nhìn cụ thể và chính xác hơn về hiệu quả kinh tế của các hộ chăn nuôi
lợn, đồng thời tìm các giải pháp phù hợp với xu hướng phát triển cho địa phương, chúng
1
tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Đánh giá hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn của nông hộ
Vì vậy, theo hướng mục tiêu của chủ thể, kết quả trong hoạt động càng lớn hơn chi
phí bỏ ra càng có lợi.
Đối với các phương án hành động khác nhau hiệu quả chính là chỉ tiêu để phân
tích đánh giá lựa chọn chúng.
Hiệu quả được biểu hiện theo nhiều góc độ khác nhau. Vì vậy, hình thành nhiều
khái niệm khác nhau: Hiệu quả tổng hợp, hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường, hiệu
quả xã hội, hiệu quả tuyệt đối, hiệu quả tương đối
2.1.2. Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế,
là thước đo trình độ quản lý và trình độ tổ chức của các doanh nghiệp. Để tồn tại và
phát triển yêu cầu bắt buộc các nhà sản xuất và doanh nghiệp là phải kinh doanh có hiệu
quả, có như vậy các nhà sản xuất và kinh doanh mới có điều kiện tái sản xuất mở rộng
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất. GSTS Ngô Đình
Giao cho rằng: “Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất của mọi sự lựa chọn kinh tế của
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước”. Tiến sĩ Nguyễn
Tiến Mạnh lại cho rằng: “Hiệu quả kinh tế là một phạm trù khách quan phản ánh trình
độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã xác định”.
Theo quan điểm kinh tế học thì hiệu quả kinh tế chỉ đạt được khi:
- Mọi giai đoạn sản xuất ở trên đường giới hạn của năng lực sản xuất là có hiệu
quả vì nó tận dụng hết các nguồn lực.
- Số lượng hàng hoá đạt được trên đường giới hạn của năng lực sản xuất càng lớn
thì hoạt đông kinh doanh càng có hiệu quả.
3
- Sự thỏa mãn tối đa về số lượng, chất lượng của các chủng loại hàng hoá theo nhu
cầu thị trường trong giới hạn của nguồn lực sản xuất cho hiệu quả kinh tế cao nhất.
Hiệu quả kinh tế là mối quan hệ tổng hoà giữa hai yếu tố hiện vật và giá trị trong
việc sử dụng các nguồn lực vào sản xuất. Nói cách khác hiệu quả kinh tế là hiệu quả đạt
được trong việc sử dụng hai yếu tố trong sản xuất kinh doanh. Hai yếu tố đó là:
+Yếu tố đầu vào: Chi phí trung gian, lao động sống, khấu hao tài sản, thuế
+Yếu tố ra: Sản lượng và giá trị sản phẩm, giá trị sản xuất, thu nhập, giá trị gia tăng,
- Nguyên tắc về sự thống nhất lợi ích: Theo nguyên tắc này một phương án được xem
là có hiệu quả khi nó kết hợp trong đó các loại lợi ích.
- Nguyên tắc về tính chính xác, tính khoa học: Để đánh giá hiệu quả của các phương
án cần phải dựa trên một hệ thống các chỉ tiêu có thể lượng hóa được và không lượng
hóa được, tức là phải kết hợp phân tích định tính và phân tích định lượng. Không thể
thay thế phân tích định lượng bằng định tính khi phân tích định lượng chưa đủ đảm bảo
tính chính xác, chưa cho phép phản ánh được mọi lợi ích cũng như mọi chi phí mà chủ
thể quan tâm.
Nguyên tắc này đòi hỏi những căn cứ tính toán hiệu quả phải được xác định chính
xác, tránh chủ quan, tùy tiện.
- Nguyên tắc về tính đơn giản và thực tế: Theo nguyên tắc này những phương pháp
tính toán hiệu quả kinh tế phải được dựa trên cơ sở các số liệu thông tin thực tế, đơn
giản dể hiểu.
Với quan điểm tổng quát thì các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế lựa chọn để nghiên
cứu chủ yếu được trình bày dưới dạng sau:
- Dạng thuận (toàn bộ): Hiệu quả chi phí đựoc xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt
được và chi phí bỏ ra. Điều đó có nghĩa là hiệu quả kinh tế là sự so sánh về mặt lượng
giữa kết quả và chi phí sản xuất.
H=Q-C
Trong đó:
H: Hiệu quả.
Q: Kết quả đạt được.
5
C: Chi phí hoặc yếu tố đầu vào.
- Hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa phần trăm tăng thêm của kết quả
thu được và phần trăm tăng lên của chi phí bỏ ra. Nghĩa là nếu tăng thêm 1% chi phí sẽ
tăng thêm bao nhiêu kết quả đầu ra.
H=%Q+%C
Như vậy, các chỉ tiêu hiệu quả tính toán trên cơ sở xác định được các yếu tố đầu
vào và các yếu tố đầu ra.
lưới thú y được quan tâm phát triển nhưng số lượng nhân viên thú y vẫn còn rất thiếu,
đặc biệt ở các cấp huyện và xã. Tại các xã cũng có các nhân viên thú y. Tuy nhiên trình
độ vẫn còn rất hạn chế chưa đáp ứng đủ nhu cầu kiểm tra, chữa bệnh, thời gian qua dịch
bệnh lan rộng ảnh hưởng mạnh tới hiệu quả chăn nuôi. Hơn thế nữa loại hình chăn nuôi
quy mô nhỏ vẫn tồn tại ở Việt Nam, hiện chiếm đến 90% số gia súc, gia cầm trên cả
nước, tính chuyên môn chưa cao hầu hết các hộ chăn nuôi quy mô nhỏ nên việc phòng
dịch sẽ rất khó khăn. Hiện nay, trên thị trường thuốc thú y rất đa dạng, được cung cấp
bởi nhiều nhà sản xuất khác nhau. Việc quản lý và kiểm soát thuốc thú y hiện nay rất
khó. Chính vì vậy, trên thị trường hiện nay vẫn xuất hiện nhiều loại thuốc giả, thuốc
kém chất lượng, thuốc nhập lậu. [12]
2.3. Đặc tính kinh tế kỷ thuật của chăn nuôi lợn
- Lợn là động vật phàm ăn, có khả năng chịu đựng kham khổ cao. Lợn có bộ máy
tiêu hóa tốt, có khả năng tiêu hóa thức ăn cao, do đó lợn có thể sử dụng nhiều loại thức
ăn khác nhau (tinh bột, thô, rau bèo, xanh, của quả ). Nguồn thức ăn chăn nuôi lợn rất
phong phú, có thể tận dụng các phụ phế phẩm của nghành trồng trọt, của công nghiệp
chế biến thực phẩm. Khả năng tiêu hóa thức ăn của lợn cao nên tiêu tốn ít thức ăn cho
1kg tăng trọng. Do vậy, lợn rất phù hợp cho chăn nuôi trong các hộ gia đình.
- Lợn cái có khả năng sinh sản cao, tái sản xuất đàn nhanh nên lợn hơn hẳn các gia
súc khác về mặt sản xuất. Lợn là động vật đa thai bình quân lợn đẻ một năm từ 1,6 – 2,6
lứa, một lứa từ 8 – 12 con.
- Lợn lại dễ bị bệnh, độ rủi ro cao do khí hậu, thời tiết bất thường, thiên tai, bảo lụt,
hạn hán ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của lợn. Mặt khác, giá cả đầu vào, đầu ra
luôn biến động do cạnh tranh và cung cầu thị trường.
7
- Sản xuất hàng hóa lượng thức ăn công nghiệp giá cả cao đòi hỏi nguồn vốn lớn,
đặc biệt là vốn cố định để xây dựng chuồng trại chăn nuôi. Vốn ở đầu mỗi chu kỳ sản
xuất là rất cần thiết. Khi sản xuất thâm canh chu kỳ sản xuất ngắn nên thu hồi vốn
nhanh, hiệu quả vốn cao hơn so với các gia súc khác.
- Nhiều loại giống cần nhập ngoại giá thành cao, thiếu chủ động trong việc đáp ứng
nhu cầu sản xuất.
chăn nuôi giai đoạn 1991 – 1995, chương trình KHCN 08.06 về nghiên cứu phtá triển
chăn nuôi lợn có tỷ lệ nạc trên 52%. [14]
Hoạt đông khoa học công nghệ theo chương trình đã huy động và tập hợp được
đông đảo cán bộ khoa học và kỷ thuật ở các cơ quan nghiên cứu khoa học để có những
kết luận khoa học mới, đón trước những yêu cầu của sản xuất, mặt khác triển khai
những kỷ thuật tiến bộ vào sản xuất, nhằm tăng khối lượng và chất lượng sản phẩm
chăn nuôi đáp ứng nhu cầu thịt, trứng, sữa ngày một tăng của đời sống xã hội.
Từ những kết quả nghiên cứu và triển khai kỷ thuật tiến bộ vào sản xuất, ta đã tổng
kết 10 năm (1981) công nhận giống lợn trắng DBI ở miền bắc (1981), giống lợn trắng
Phú Khánh ở Duyên Hải Miền Trung (1988), giống lợn trắng Thuộc Nhiêu ở Miền
Nam (1990), công nhận lợn Yocsia (1990) cùng với giải pháp dùng lợn Móng Cái thay
thế lợn cỏ từ Nghệ An đến Quảng Nam – Đà Nẵng đã hình thành hệ thống lợn phù hợp
với điều kiện sinh thái sản xuất của mỗi vùng từ đồng bằng Sông Hồng, dọc tuyến quốc
lộ 1 đến đồng bằng Sông Cửu Long. Lợn lai kinh tế được nuôi rộng rãi trong cả nước.
Tỷ lệ lợn lai trong tổng đàn lợn từ 20% năm 1981 lên 40% năm 1985, rồi 54,1% năm
1990 và 78,8% năm 1998 đưa khối lượng lợn xuất chuồng từ 47kg lên 62kg, rồi 67kg
và 70kg công nhận một loạt vacxin đưa vào sản xuất phòng chống dịch tả lợn. [14]
Những năm đầu của thập niên 90, điểm nổi bật của khoa học và phát triển chăn
nuôi là khẳng định một số giống gia súc ngoại đã được thích nghi: Lợn Yocsia, lợn
Landrat, đặc biệt đã xác định một số công thức lai kinh tế lợn nội với lợn ngoại có 3
giống tham gia phù hợp với miền Bắc, miền Trung và kinh tế lợn ngoại có 3 – 4 giống
tham gia phù hợp cho các tỉnh miền Nam, đưa tỷ lệ thịt nạc/thân xẻ đạt tương ứng 47–
49% và 56 – 58%, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ lợn siêu nạc và xuất khẩu.
9
Từ những nghiên cứu trên, ta thấy rằng để chăn nuôi lợn có hiệu quả điều nhất
thiết cần phải có đó là con giống tốt cho năng suất và sản lượng cao, thứ hai là phải có
nguồn thức ăn đảm bảo dinh dưỡng và đúng khẩu phần, người chăn nuôi phải có kỷ
thuật chăn nuôi phù hợp. Tuy nhiên, với những nghiên cứu này ta cũng thấy nhà nước
thiếu hẳn một phần rất đáng quan tâm và không thể thiếu nếu muốn chăn nuôi có hiệu
quả, đó là nghiên cứu thị trường và nhu cầu của người chăn nuôi cũng như những khó
trọng đến nền chăn nuôi cả nước nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng. Không riêng gì
đàn lợn, số lượng trâu cũng giảm, duy chỉ có số lượng bò là tăng. Điều này đã làm cho
số lượng gia súc được cân bằng và tăng ổn định.
Nhìn chung, nghành chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn của tỉnh Quảng Trị
trong những năm qua đã có những bước phát triển ổn định, sự phát triển này không
những về số lượng mà còn cả chất lượng, không những theo chiều rộng mà còn cả về
chiều sâu. Ngày càng đáp ứng nhu cầu của thị trường trong tỉnh mà còn có thể xuất
khẩu ra các thị trường khác. Đồng thời còn thể hiện chính sách phát triển chăn nuôi
theo hướng đầu tư cao: Thâm canh, bán thâm canh, trang trại, gia trại của tỉnh có
những thành công rõ rệt.
2.5.2. Diễn biến đàn lợn trong những năm gần đây của huyện Triệu Phong
Bảng 2: Mức độ biến động của đàn lợn trên toàn huyện Triệu phong qua các năm
NĂM
TRÂU BÒ LỢN GIA CẦM
Số
lượng
(con)
Sản
lượng
(tấn)
Số lượng
(con)
Sản
lượng
(tấn)
Số lượng
(con)
Sản
lượng
(tấn)
con xuống còn 217.059 con trong năm 2006.
Cũng giống như chăn nuôi lợn, chăn nuôi trâu, bò, nói chung cũng tăng đáng kể,
riêng chỉ có trâu là từ năm 2005 – 2006 giảm từ 3.576 con xuống còn 3.438 con. Tuy số
lượng giảm nhưng sản lượng thịt vẫn tăng từ 117 tấn lên 212 tấn trong năm 2006. Điều
này cho thấy chúng ta đã chú trọng đầu tư vào chất lượng hơn là số lượng. Đây là là tín
hiệu đáng mừng cho huyện Triệu Phong nói riêng và tỉnh Quảng Trị nói chung, góp một
phần quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo ở các địa phương. Tuy nhiên,
nguồn vốn đầu tư ban đầu đòi hỏi phải lớn như vậy sẽ không phù hợp với nhiều hộ gia
đình ở nhiều địa phương, cho nên chăn nuôi lợn vẫn địa xem là thế mạnh trong huyện
và là hướng phát triển phù hợp nhất cho địa phương.
2.6. Một số chương trình khuyến nông về phát triển chăn nuôi lợn được thực hiện
trong năm 2007
2.6.1. Chăn nuôi lợn thâm canh bền vững, an toàn sinh học
+ Quy mô: 2 mô hình, mỗi mô hình có 22 con lợn thịt và 1 bể Bioga
+ Thời gian triển khai: 5 tháng (Từ tháng 7/2007 đến tháng 11/2007)
12
+ Địa điểm triển khai:
- Triệu long: 1 mô hình.
- Triệu Trung: 1 mô hình.
+ Kết quả:
Các mô hình đạt được kết quả tốt, lợn tăng trọng bình quân 650g/con/ngày, tiêu
tốn thức ăn 2,85 kg thức ăn/kg tăng trọng. Do đó, giá lợn hơi cuối tháng tăng đột biến
(25.000 đ/kg) nên mỗi con lợn sau 4 tháng nuôi người nông dân lãi trên 500.000đ, bể
Bioga hoạt động tốt, hộ nông dân vừa có khí để dun nấu vừa đảm bảo môi trường không
bị ô nhiễm. Đây là một mô hình chăn nuôi thực sự mang lại nhiều lợi ít cho nông dân.
Thông qua mô hình nông dân đã nắm bắt được phương pháp nuôi lợn thâm canh, lợn
tăng trọng nhanh, thu lãi cao. Trong quá trình nuôi nông dân còn biết cách phòng bệnh
bằng cách tiêm phòng các loại vacxin, định kỳ phun thuốc khử trùng tiêu độc, xử lý
chuồng trại, cách ly…nên lợn ít bị bệnh. Mặt khác, việc xử lý nguồn phân lợn thải ra
bằng bể khí Bioga đã hạn chế đến mức thấp nhất vấn đề ô nhiễm môi trường, lại có khí
Nhóm 3 Hộ chăn nuôi nghèo 11 36,66%
Tổng 30 100%
-Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu khảo sát
3.2.2. Thu thập thông tin dữ liệu
- Dữ liệu thứ cấp:
Báo cáo về tình hình phát triển chăn nuôi hàng năm của cả nước, tỉnh Quảng Trị,
huyện Triệu Phong, xã Triệu Hoà.
Các tài liệu thống kê, niêm giám thống kê từ các cơ quan liên quan.
14
Các báo cáo khoa học.
- Dữ liệu sơ cấp
Quan sát tổng thể và cá thể: Nhằm giúp thu thập số liệu một cách chính xác hơn
trong nghiên cứu định lượng, nhất là đối với nghiên cứu về điều tra về hiệu quả kinh tế
của chăn nuôi lợn trên địa bàn xã. Đồng thời giúp người nghiên cứu có cái nhìn tổng
quát về tình hình chăn nuôi lợn hiện nay cũng như ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, xã
hội chính sách khác
+Phỏng vấn cấu trúc bằng bảng hỏi: Chúng tôi đã tiến hành chọn 30 hộ điều tra
bằng bảng câu hỏi đã được chuẩn bị sẳn cho mục đích nghiên cứu.
+Phỏng vấn sâu: Cán bộ địa phương, người am hiểu cộng đồng về tình hình phát
triển cũng như các rủi ro mà hộ chăn nuôi gặp phải trong quá trình chăn nuôi.
3.2.3. Phương pháp tổng hợp và phân tích dữ liệu
1) Cách thức tính toán các chỉ tiêu
- Giá trị sản xuất (GO)/hộ/lứa: Giá trị tính bằng tiền của toàn bộ sản phẩm thu
được trong một chu kì sản xuất.
Công thức tính (lý thuyết): GO (1000đ) = Tổng sản lượng X Đơn giá.
Đối với hộ chăn nuôi hàng năm, hộ có thể bán được một số con nhất định vì vậy giá trị
sản xuất của hộ đối với những con bán:
GO1= Trọng lượng những con bán X Giá của chúng tại thời điểm bán.
Ngoài ra đối với chăn nuôi nông hộ còn thu được một lượng sản phẩm phụ đáng kể:
Phân bón (GO2)
Triệu Hòa nằm ở phía Đông Bắc của lãnh thổ huyện Triệu phong. Cách huyện lỵ
theo đường chim bay là 6 km. Phía tây có đường tỉnh lộ 64 đi ngang qua, phía đông có
nhánh sông Vĩnh Định làm ranh giới giữa Triệu Hòa với Triệu Trạch và Triệu Tài.
Tổng diện tích đất tự nhiên là 1.701,58 ha, dân số trung bình năm 2007 là 7.069
người. Mật độ dân số là 415,44 người/km
2
, là một trong những nơi có mật độ đông nhất
trong toàn huyện.
Phía Bắc: Giáp Triệu Trạch và Triệu Đại.
Phía Nam: Giáp xã Triệu Đông.
Phía Tây: Giáp các xã Triệu Long và Triệu Đại.
Phía Đông: Giáp 2 xã Triệu Tài và Triệu Trạch.
4.1.2. Khí hậu và thời tiết
Triệu Hòa nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, đặc trưng của nó là bức xạ
nhiệt cao và có sự phân hóa theo mùa rỏ rệt. Dưới tác dụng của hoàn lưu khí quyển và
địa hình ở đây nên khí hậu và thời tiết ở triệu Hòa mang những nét đặc trưng sau:
Mùa mưa bắt đầu từ giữa mùa hè (khoảng tháng 9) Kéo dài đến giữa mùa đông
(khoảng tháng 12 hoặc đầu tháng 1 năm sau), lượng mưa trung bình khoảng 1.921,9 –
2.623,9 mm, số ngày mưa trung bình năm từ 140 – 150 ngày. Hai tháng mưa lớn nhất là
tháng 10 và tháng 11 trung bình lượng mưa mỗi tháng từ 400 – 800 mm, lượng mưa
trong 2 tháng này chiếm phần lớn lượng mưa trung bình cả năm. Đây là thời kỳ tập
trung nhiều mưa lớn, mỗi tháng có đến 4-5 ngày mưa trên 50 mm, trong đó 1-2 ngày
mưa trên 100 mm.
Vì vậy, trong thời gian này lũ thường xuyên xảy ra trên diện rộng, gây nhiều khó
khăn cho sản xuất nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng, vào những ngày mưa lũ. Theo
số liệu thống kê cho thấy trong vòng một năm xảy ra 3 đến 4 trận lũ. Mùa mưa ít bắt
đầu từ tháng 6 đến tháng 7, thời kỳ này lượng mưa trung bình mỗi tháng đạt từ 50 -
17
60mm. Vào mùa đông ở khu vực này chịu tác động của gió mùa đông bắc gây ra thời
tiết lạnh, nhiệt độ trung bình thấp nhất vào khoảng tháng 1 (trung bình 15,20
độ nhiệt, gió, ẩm, và mưa diễn ra thường xuyên liên tục. Các hiện tượng khí hậu bất lợi
như: bão, lũ lụt, gió tây nam…tạo nên khó khăn lớn cho sản xuất, đời sống, những thiệt
hại về con người, của cải vật chất, cũng như hạn chế những phát sinh, phát triển của cây
trồng và công tác bảo vệ đất.
4.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
4.2.1. Tình hình sử dụng đất đai xã Triệu Hoà năm 2007
18
Bảng 3: Cơ cấu sử dụng đất của xã Triệu Hoà năm 2007
MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG ĐẤT. TỔNG SỐ (ha). CƠ CẤU (%).
Tổng diện tích đất tự nhiên 1.701,58 100,00
I. Đất nông nghiệp 1.233,04 72,46
1.1. Đất trồng cây hàng năm. 614,93 36,14
- Đất trồng lúa. 532,38 31,29
- Đất trồng cây hàng năm khác. 82,55 4,85
1.2. Đất lâm nghiệp. 0,43 0,03
1.3. Đất nông nghiệp khác. 2,75 0,16
II. Đất phi nông nghiệp 468,54 27,54
2.1. Đất ở 151,39 8,90
2.2. Đất chuyên dùng. 123,46 7,26
2.3. Đất trụ sở cơ quan công trình sự nghiệp. 2,57 0,15
2.4. Đất có mục đích công cộng. 22,99 1,35
2.5. Đất tôn giáo tín ngưỡng. 8,46 0,50
2.6. Đất nghĩa trang, nghĩa địa. 61,89 3,64
2.7. Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng. 78,00 4,58
2.8. Đất chưa sử dụng. 19,78 1,16
Nguồn [2]
Từ bảng cơ cấu đất này cho thấy, xã Triệu Hoà là một xã có tiềm năng phát
triển nhiều loại nghành nghề: Trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản Diện tích đất nông
nghiệp chiếm diện tích khá lớn (74,46%), chủ yếu trồng các cây hàng năm: Cây lương
thực như lúa và cây trồng hàng năm khác như: Lạc, ngô, khoai sắn, đậu các loại, ớt
Hà My 250 1.449 793 656 602 276 326 10
Mỹ Lộc 186 915 452 463 393 183 210 8
Bố Liêu 92 567 309 258 218 100 118 6
Hữu Niên 106 604 225 379 246 133 113 8
Duy Hòa 74 404 199 205 173 80 93 5
Tổng 1.306 7.069 3.468 3.601 2.982 1.380 1.602 60
Nguồn [4]
Nhìn chung, dân cư của xã phân bố không đều, dân cư tập trung nhiều ở thôn
Vân Hoà chiếm 29% dân cư toàn xã. Đây được xem là thôn lớn nhất trong toàn xã, là
một thôn khá phát triển với trình độ dân trí cao hầu hết là đã qua cấp hai, và có tỷ lệ đỗ
đại học cao nhất trong toàn xã.
20
4.2.3. Cơ cấu doanh thu của xã Triệu Hoà năm 2007
Do đặc điểm về vị trí địa lý, trong cơ cấu doanh thu của xã có sự đóng góp của
rất nhiều các hoạt động sản xuất khác nhau.
Bảng 5: Cơ cấu doanh thu của xã Triệu Hòa năm 2007.
ĐVT: Tỷ đồng.
NGUỒN THU. NĂM 2005 NĂM 2006 NĂM 2007 NĂM 2008
1. Nông nghiệp. 18,35 18,89 18,14 22,46
- Trồng trọt. 11,22 12,49 11,34 15,16
- Chăn nuôi. 6,58 6,41 6,67 7,14
- Ngư nghiệp. 0,00 0,00 0,13 0,15
2. CN-TTCN-TMDV. 4,89 5,01 10,55 11,93
- Công nghiệp-TTCN. 2,76 2,85 2,93 3,20
-Thương mại dịch vụ. 1,99 2,02 2,22 2,60
-Giao thông vận tải. 0,13 0,14 0,16 1,94
-Lao động việc làm. 0,00 0,00 5,23 5,23
Tổng. 23,24 23,91 28,69 36,33
Nguồn [15, 16, 17]
Trồng trọt : Địa bàn xã trồng rất nhiều các loại cây lương thực và rau màu khác
dùng sản xuất ra chỉ tiêu thụ trong nội bộ là chính.
Công tác xuất khẩu lao động được các ban nghành quan tâm tuyên truyền vận
động, đến nay đã có 16 lao động xuất khẩu làm ăn ở nước ngoài chủ yếu là Malaixia,
lao động ngoài tỉnh có 600 người, lao động trong tỉnh có 295 người tổng thu nhập của 3
nguồn là 5,23 tỷ đồng đã tăng thu nhập cho gia đình và địa phương góp phần thực hiện
tốt chủ trương xóa đói giảm nghèo.
Thực hiện chu trương di dân phát triển vùng kinh tế mới tại xã A Dơi huyện
Hướng Hóa, có 9 hộ, 37 khẩu thôn Hà My đi lập nghiệp, bước đầu còn gặp nhiều khó
khăn, đất cấp không đủ, phong tục tập quán không đồng nhất, nên đã ảnh hưởng đến đời
sống của người dân, làm cho họ không yên tâm để sản xuất ở nơi ở mới.
Chăn nuôi: Mặc dù tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp ở nhiều nơi nhưng đàn
gia cầm được bà con đầu tư chăn nuôi có 25 hộ trong toàn xã nuôi vịt đàn từ 300-
1.500con/hộ. Đàn gia súc được duy trì và phát triển tốt, chương trình cải tạo đàn bò theo
22
hướng Zê bu hoá được triển khai rộng khắp trên địa bàn xã, phương pháp phối tinh nhân
tạo được hộ chăn nuôi hưởng ứng ngày càng nhiều nâng tổng số bê lai lên 131 con
chiếm 23,30%.
Về công tác thú y trong nhiều năm qua có nhiều tiến bộ so với trước, thôn và hợp
tác xã phối hợp tích cực, nhân thức đã nhận thức đúng đắn, thường xuyên kiểm tra phát
hiện xử lý kịp thời các bệnh lở mồm lông móng, cúm gia cầm không để lây lan, đã triển
khai công tác tiêm phòng đạt kế hoạch. Tiêm phòng dịch tả, tụ huyết trùng cho đàn lợn
đạt 2.296 liều. Tiêm phòng dại chó 396 liều. chích phòng lở mồm long móng 4 đợt cho
trâu bò 2.832 liều, lợn 2.099 liều. Chích phòng dịch cúm gà 4 đợt cho vịt 14.032 liều, gà
6.365 liều.
Do gặp nhiều khó khăn trong chăn nuôi nên làm cho tổng đàn lợn trong toàn xã
giảm từ 4.988 con xuống con 4.854 con.
Tuy nhiên, doanh thu vẫn tăng từ 6,40 tỷ đồng lên 6,67 tỷ đồng, phấn đấu trong
năm 2008 tổng đàn lợn trong toàn xã là 6.650 con và doanh thu trong chăn nuôi đạt 7,14
tỷ đồng.
- Ngư nghiệp: Nhìn chung tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn đạt kết quả
Đa số nhân dân còn trong chờ, ỷ lại nguồn vốn của cấp trên, việc vay vốn xóa đói,
giảm nghèo còn một số nhân dân sử dụng chưa đúng mục đích nên hiệu quả đem lại
chưa cao.
Chưa động viên nguồn lực trong nhân dân để mạnh dạn đưa ra cái mới, làm ăn lớn,
sản xuất hàng hóa còn mang tính nhỏ lẻ, tự cung, tự cấp.
4.2.4. Tình hình phát triển vật nuôi trên địa bàn xã Triệu Hoà
Chăn nuôi là một trong những ngành có tiềm năng phát triển nhất ở xã. Lợi dụng
diện tích đất đai rộng lớn, nguồn thức ăn tận dụng sẳn có, các hộ trong xã đã chú trọng
phát triển chăn nuôi và bước đầu cho kết quả khả quan, đặc biệt là chăn nuôi lợn.
Công tác phòng ngừa dịch bệnh ngày càng được chú trọng và thường xuyên.
Mạng lưới thú y được cũng cố và nhân rộng trong toàn xã. Chính vì vậy, mà trên địa
bàn xã đã không có dịch xảy ra.
24
Bảng 6: Tình hình phát triển vật nuôi của xã Triệu Hoà qua các năm
ĐVT: Con
VẬT NUÔI NĂM 2005 NĂM 2006 NĂM 2007
Trâu 270 276 261
Bò 540 616 563
Lợn thịt 2.710 3.375 2.825
Lợn nái 1.250 1.613 1.329
Gia cầm 85.000 62.400 65.000
Nguồn [15, 16, 17]
Chăn nuôi lợn: Tình hình chăn nuôi lợn trên địa bàn xã đều giảm một phần là do
ảnh hưởng của nạn dịch đang xảy ra trong cả nước cho nên nhiều hộ gia đình không
dám mạo hiểm đầu tư hơn nữa trong chăn nuôi lợn, và một số ít thì cầm cự lại để tạo
thu nhập trong gia đình khi cần đến. Do chăn nuôi chủ yếu theo quy mô gia đình, vì thế
mà số lượng vật nuôi không tăng trong năm qua.
Chăn nuôi trâu, bò: Hiện nay máy móc thay thế hoàn toàn sức kéo của trâu cho
nên chỉ một vài hộ giữ lại để cày kéo và người ta cũng ít nuôi để bán. Vì thế, mà đàn
trâu của xã cũng giảm trong năm qua, duy chỉ có bò người ta thường nuôi để bán cho