phân tích hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất nấm rơm trên địa bàn xã phú lương, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nấm rơm là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao có thể coi như
những loài rau sạch, thịt sạch. Ở những nước phát triển nghề trồng nấm rơm
có từ lâu đời và ngày càng được cơ giới hóa, đang trở thành một nghề sản
xuất lớn theo hướng công nghiệp. Đối với Việt Nam nghề trồng nấm mới phát
triển 10 năm trở lại đây. Nguồn nguyên liệu chính để trồng các loại nấm là
các sản phẩm phụ nông nghiệp, lâm nghiệp như: Rơm rạ, mùn cưa… Những
nguyên liệu này rất sẵn có ở những vùng nông thôn Việt Nam, hơn nữa sau
khi được dùng trồng nấm, các loại phế thải này lại được dùng làm phân hữu
cơ bón cho một số cây trồng khác.
Sản xuất nấm rơm giúp bà con nông dân tận dụng được một số lượng
lớn rơm rạ sau mỗi vụ gặt tận dụng được mọi khoãng không gian, ngoài vườn
trên tầng cao…Tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động kể cả người già, trẻ
em, tận dụng được lao động gia đình đặc biệt là trong lúc nông nhàn. Với chi
phí đầu tư ban đầu không lớn, thời gian quay vòng vốn ngắn, thu hồi vốn
nhanh, mang lại giá trị kinh tế cao. Từ những giá trị dinh dưỡng và kinh tế mà
các loại nấm ăn mang lại cùng với điều kiện khí hậu thời tiết nóng ẩm, thuận
lợi cho việc trồng nấm rơm ở nước ta thì hoạt động trồng nấm đã trở thành
một nghề thiết thực, cho thu nhập khá ổn định ở khu vực nông thôn, là nghề
đang phát triển mạnh và có thể trở thành một yếu tố mới, góp phần phát triển
nông nghiệp nông thôn Việt Nam.
Phú Lương là một xã nằm ở phía tây huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên
Huế, nhiệt độ trung bình đạt 25
0
C, lượng mưa trung bình năm lớn 1.500 mm -
2.000 mm trên năm nên độ ẩm tương đối trung bình năm 85 - 86
0
C. Thuận lợi
cho việc sản xuất nấm rơm. Tuy nhiên với những điều kiện và thế mạnh sẵn

Yếu tố đầu vào: Chi phi vật tư, chi phí trung gian, khấu hao tài sản cố
định
Yếu tố đầu ra: Giá trị sản xuất, thu nhập, lợi nhuận
Như vậy người sản xuất muốn có lợi nhuận thì phải bỏ ra những khoản
chi phi nhất định. Sau mỗi quá trình sản xuất chúng ta so sánh kết quả đó thì
xác định được hiệu quả kinh tế. Sự chênh lệch này càng cao thì hiệu quả kinh
tế càng lớn và ngược lại. Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế là tối đa hóa kết quả
đạt được hoặc tối thiểu hóa chi phi bỏ ra dựa trên các nguồn nhân lực và vật
lực hiện có. [1]
Trong thực tế kết quả đạt được rất phong phú và đa dạng có thể trên
phương diện kinh tế, tài chính và có thể kết quả thu được trên phương diện xã
hội như giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo, cải thiện môi trường Và cũng có
thể kết quả đạt được trên cả hai phương diện kinh tế - xã hội. Vì vậy hình
thành nên khái niệm hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế - xã
hội như sau:
Hiệu quả kinh tế: Là sự tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt
được và chi phí bỏ ra, nó thể hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế như: Giá trị tổng
sản xuất lợi nhuận tính trên lượng chi phí đã bỏ ra.
Hiệu quả xã hội: Là tổng quan so sánh một bên là chi phí bỏ ra và kết
quả xã hội đạt được như: Tạo thêm công ăn việc làm, giảm tỷ lệ đói nghèo,
cải tạo môi trường sinh thái
Hiệu quả kinh tế - xã hội: Là tương quan so sánh giữa chi phí bỏ ra và
kết quả đạt được cả về mặt kinh tế và xã hội. Phát triển kinh tế và phát triển
xã hội có mối quan hệ mật thiết, ngắn bó chặt trẽ với nhau. Mục tiêu của phát
triển kinh tế là phát triển xã hội và ngược lại, chúng là tiền đề của nhau và là
3
phạm trù thống nhất. Do đó phát triển kinh tế cần được hiểu trên khái niện
hiệu quả kinh tế - xã hội.[1]
b. Bản chất của hiệu quả kinh tế:
Bản chất của hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh tương đối và

n
i
QiPi
1
.
Trong đó: Q
i
:

Khối lượng sản phẩm thứ i
4
P
i
: Đơn giá sản phẩm thứ i
n : Số sản phẩm
Thu nhập hỗn hợp: MI (Mixed Income) là phần thu nhập thuần túy
bao gồn cả công lao động của gia đình tham gia sản xuất.
MI = GO – Chi phí trung gian – Chi phí tài chính - Thuế
Chi phí trung gian: IE (Intermediate Expenditure) trên một đơn vị
diện tích bao gồm chi phí meo giống, rơm, tu sửa, xử lý vòm, thuê lao động
và chi phí khác.
Chi phí tài chính: FC (Finance Cost) là chi phí trả tiền lãi vay và chi
phí cho việc vay lượng vốn đó.
Lợi nhuận kinh tế: EP (Ecocmic Profit) Là phần lãi ròng trong thu
nhập trên một đơn vị diên tích:
Lợi nhuận= Thu nhập hỗn hợp – Chi phí lao động –
Khấu hao TSCĐ – Chi phí hiện vật của hộ
Thu nhập từ trồng nấm rơm so với một số cây trồng chính.
Giải quyết việc làm cho lao động nông nhàn:
• Số lao động có việc làm

càng phát triển mạnh mẽ. Nó đã trở thành một ngành công nghiệp thực sự
mang lại hiệu quả về mặt kinh tế xã hội cho các quốc gia:
Bảng 1: Quy mô và sản lượng nấm trên thế giới ngày càng tăng qua các
năm.
Đvt sản lượng: Tấn
Năm 1975 1979 1986 1990 1994 2005
Sản
lượng
925.00
0
1.210.00
0
2.182.00
0
3.763.00
0
4.909.00
0
20.000.000
[4].
Các nước trên thế giới hiện nay tập trung nghiên cứu và sản xuất nấm
mỡ, nấm hương, nấm sò, nấm rơm là chủ yếu. Đến năm 1990 thì sản lượng
nấm trên thế giới đã đạt 3.763.000 tấn, trong đó nấm mỡ là 1.424.000 tấn,
nấm hương là 393.000 tấn. Năm 1994, tổng sản lượng nấm trên thế giới là
4.909.000 tấn, trong đó cụ thể các loại nấm được thể hiện qua bảng số liệu 2
dưới đây:
6
Bảng 2: Sản lượng các loại nấm cụ thể trên thế giới được sản xuất trong
năm 1994.
Đvt sản lượng: Tấn

7
trồng nấm đã thực sự đi vào từng hộ dân. Sản lượng nấm củng tăng lên đáng
kể thể hiện năm 1994 sản lượng nấm của một số nước ở bảng 4:
Sản lượng nấm của các nước chủ yếu là nấm mỡ, còn nấm hương thì do
Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc sản xuất là chính.
Hiện nay Trung Quốc là nước sản xuất nấm lớn nhất thế giới, năm
1995 sản lượng nấm của Trung Quốc đạt 3.000.000 tấn chiến 60% tổng sản
lượng, riêng tỉnh Phúc Kiến là 800.000 tấn, chiếm 26,67% cả nước và 6,4%
toàn thế giới.
[5, 21 – 23].
Bảng 4: Sản lượng nấm của một số nước thuộc khu vực Châu Á năm
1994.
Đvt sản lượng: Tấn
Tên quốc gia Trung Quốc Nhật Bản Inđônêxia Hàn Quốc
Sản lượng 2.850.000 360.000 118.000 92.000
[5].
2.2.3. Tình hình sản xuất nấm ở Việt Nam.
Vấn đề nghiên cứu và phát triển sản xuất nấn ăn ở Việt Nam bắt đầu từ
những năm 70. Năm 1984 thành lập trung tâm nghiên cứu nấm ăn thuộc Đai
Học Tổng Hợp Hà Nội. Năm 1985 được tổ chức FAO tài trợ và UBND thành
phố Hà Nội quyết định thành lập trung tâm sản xuất Giống Nấm Tương Mai
Hà Nội (sau đó đổi tên thành công ty sản xuất giống, chế biến và xuất khẩu
nấm Hà Nội).
Năm 1986 tổ chức FAO tài trợ UBND thành phố Hồ Chí Minh quyết
định thành lập xí nghiệp nấm Thành Phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra còn một số
đơn vị: Công ty nấm Thái Bình (tỉnh Thái Bình), Xí Nghiệp Nấm ( thuộc tổng
công ty rau quả Vegetexco), các công ty liên doanh sản xuất và chế biến nấm
ở Việt Nam. Một số đơn vị tham gia sản xuất và xuất khẩu nấm: Tổng công ty
rau quả (Vegetexco), tổng công ty xuất nhập khẩu máy (Technomport),
Uninex Hà Nội, Phong trào trồng nấm mỡ trong các năm 1988 – 1992 đã

trồng rất phổ biến. Nấm mỡ và nấm sò trồng tại Đà Lạt song rất khó khăn về
nguyên liệu, chiến sản lượng chưa đáng kể.
Trong những năm 1985 – 1995, tổng ngân sách nhà nước và các địa
phương đã đầu tư hàng trục triệu đồng cho việc nghiên cứu và triển khai sản
xuất nấm mỡ ở các tỉnh phía Bắc, song kết quả đạt được lại rất thấp. Nhiều
đơn vị và cơ sở sản xuất nấm thua lỗ làm mất vốn của nhà nước, chưa tạo
9
được uy tín trên thị trường thế giới mặc dù tiềm năng để phát triển nghề này
là rất lớn.
Những nguyên nhân chưa thành công của nghề trồng nấm đối với các
tỉnh phía Bắc trong giai đoạn 1985 – 1995 là:
Việc tổ chức sản xuất nấm của các đơn vị chuyên trách về nấm còn
nhiều yếu kém.
Công tác nghiên cứu về trọn tạo giống, công nghệ nuôi trồng các loại
nấm ăn chưa đạt năng suất cao, giá thành hạ, công nghệ bảo quản chế biến đạt
chất lượng ở các trung tâm nghiên cứu và cơ sở sản xuất nấm chưa được chú
trọng đúng mức.
Thiếu cán bộ kỹ thuật nuôi trồng nấm, nhân dân sản xuất chủ yếu dựa
vào kinh nghiệm học được từ bà con lối xóm là chính. Dẫn đến năng suất chất
lượng không tăng mà con có xu hướng giảm.
Việc tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn về giá trị dinh dưỡng và cách
làm ăn trên các phương tiện thông tin đại chúng còn quá ít.
Các thiết bị, công nghệ trồng nấm nhập khẩu từ nước ngoài không phù
hợp với tình hình sản xuất của địa phương. [5, 18 – 20].
2.2.4. Tình hình sản xuất nấm ở Thừa Thiên Huế.
Nghề trồng nấm ở Thừa Thiên Huế phát triển từ những năm 90 song
quy mô nhỏ lẻ, chủ yếu mang tính tự phát. Hiện nay hầu hết các huyện đều có
người trồng nấm. Các loại nấm chủ yếu được trồng ở Thừa Thiên Huế như:
Nấm rơm, nấm linh chi, mộc nhĩ, nấm sò. Cho tới những năm gần đây nghề
trồng nấm mới được quan tâm. Nấm ăn bắt đầu phát triển và đem lại nguồn

Pham vi về không gian: Tập chung nghiên cứu 3 thôn sản xuất nấm
rơm có quy mô lớn ở xã.
3.2. Nội dung nghiên cứu:
3.2.1. Những thông tin chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã
Phú Lương.
Điều kiện thời tiết khí hậu: Nắng mưa, nhiệt độ, độ ẩm…
Diên tích và cơ cấu các loại đất: Đất tự nhiên, đất nông nghiệp, đất ở,
đất chưa sử dụng.
Dân số và lao động: Tổng số hộ, tổng nhân khẩu, số lao động, nghề
nghiệp.
Giao thông thủy lợi: Số Km đường bê tông, số trạm bơm, kênh tưới
tiêu.
Các loại mô hình trồng trọt có hiệu quả của xã, diện tích và hiệu quả.
Văn hóa, giáo dục, y tế.
3.2.2. Thực trạng sản xuất nấm rơm tại xã Phú Lương.
Quy mô sản xuất nấm hiện nay của xã.
Số lượng hộ tham gia sản xuất nấm.
Năng xuất, sản lương nấm trên địa bàn xã.
Nguyên vật liệu cho sản xuất nấm.
Kỹ thuật sản xuất nấm rơm ở xã.
Hình thức tiêu thụ.
12
3.2.3. Hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất nấm rơm tại xã.
Chi phí đầu vào cho sản xuất nấm rơm: Chi phí nguyên vật liệu, giống,
vòm nấm, khấu hao tài sản cố định, và một số chi phí khác…
Năng xuất sản lượng, quy mô…
Tình hình thu nhập: Giá bán, lợi nhuận….
Hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất nấm rơm so với một số cây
trồng chính của xã
3.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng xuất nấm rơm.

Dùng một số hàm cơ bản như: Hàm sum, hàm average…
14
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Điều kiện tự nhiên của xã Phú Lương.
4.1.1. Vị trí địa lý.
Phú Lương nằm về phía tây của huyện Phú Vang và cách trung tâm
huyện 3km. Phú Lương có vị trí địa lý như sau:
Phía đông: Giáp xã Phú Xuân
Phía tây: Giáp xã Phú Hồ
Phía Nam: Giáp xã Thủy Thanh Huyện Hương Thủy
Phía Bắc: Giáp xã Phú Xuân
4.1.2. Khí hậu thời tiết.
Phú Lương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa mưa
nắng rỏ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 năm trước và kết thúc vào tháng 3
năm sau, mùa nắng từ tháng 4 đến tháng 8. Đồng thời Phú Lương chịu ảnh
hưởng trực tiếp bởi hai loại gió chính đó là gió mùa đông bắc và gió tây nam.
Gió đông bắc hoạt động từ tháng 10 năm trước và kết thúc vào tháng 3 năm
sau, thường gây mưa, lụt vào tháng 10, 11. Gió tây nam hoạt động từ tháng 4
và kết thúc vào tháng 8, thường gây nóng và khô.
Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm đạt 25
o
C. Từ tháng 11 đến tháng 3
năm sau nhiệt độ giao động từ 23 - 29,9
o
C, thấp nhất vào tháng 12, tháng 1,
tháng 2 năm sau nhiệt độ xuống 10,2
o
C. Nhiệt độ cao tuyệt đối năm lên tới
40,1

0
C, mua nhiều gây lũ lụt thường xuyên làm cho nấm
chết và không phát triển.
4.1.3. Các nguồn tài nguyên.
a. Tài nguyên đất:
Đất cát: Diện tích 494,7 ha, chiếm 27,32% diện tích đất tự nhiên.
Nhóm đất này có 2 đơn vị đất đó là đất cát biển và đất cồn cát, loại đất này
được phân bố chủ yếu ở các xứ đồng giáp xã Phú Xuân, do gần Phá Tam
Giang, phần lớn còn để hoang hóa chưa được sử dụng. Một số nơi có thể quy
hoạch trồng rừng phòng hộ, có thể trồng phi lao ở những nơi có tầng nước
ngầm nông.
Đất phù sa: Diện tích là 113,73 ha, chiếm 6,28% diện tích tự nhiên.
Đất phù sa có diện tích không lớn và phân bố dọc sông Lợi Nông - Đại Giang,
loại đất này rất có ý nghĩa cho sản xuất nông nghiệp và thực tế đã được nông
dân khai thác một cách khá triệt để vào sản xuất hoa màu lương thực cũng
như cây công nghiệp ngắn ngày bởi những đặc điểm khá ưu việt của nó như:
Tỷ lệ đạm, mùn trung bình khá cao, thành phần cơ giới thì nhẹ, dễ thoát nước,
địa hình bằng phẳng, tập trung.
16
Đất biến đổi do trồng lúa: Diện tích 1.152,23 ha, chiếm 63,62% diện
tích đất tự nhiên. Đây là loại đất được hình thành do sản phẩm phong hóa đá
mẹ khác nhau, được nhân dân địa phương cải tạo lâu đời, nên hình thành các
chân ruộng để sản xuất nông nghiệp. Loại đất này được phân bố ở hầu hết các
vùng trong xã.
Đất khác: Bao gồm mặt nước đầm phá, kênh mương và sông hồ Diện
tích là 50,34 ha chiếm 2,78% diện tích tự nhiên.
b. Tài nguyên nước:
Nước mặt: Con sông chính cấp nước cho xã Phú Lương là sông Lợi
Nông và sông Đại Giang dài 6 km lấy nước qua cống Phú Cam. Về mùa hè
tối đa cũng chỉ lấy vào khoảng 8 m

dân chiếm 80%. Giống lúa có chất lượng cao như nếp BJ 352, HT1 đạt 20%.
Mặc dù năm 2007 công tác sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã gặp rất nhiều
khó khăn, đầu vụ đông xuân mưa lớn kéo dài và cuối vụ ảnh hưởng của tiểu
mãn vào thời điểm lúa đang trổ bông đã làm một số diện tích lúa đến lúc thu
hoạch đã bị đen hạt. Nhưng UBND xã tích cực chỉ đạo các HTX NN triển
khai sản xuất đúng lịch thời vụ, quan tâm đến công tác dự tính dự báo thời tiết
để thông báo cho nhân dân thực hiện tốt việc chăm sóc lúa và phòng trừ các
loại sâu bệnh cũng như đẩy mạnh phong trào diệt chuột có hiệu quả, nên năng
suất cuối vụ đạt và vượt kế hoạch đề ra.
Chăn nuôi:
Tiếp tục triển khai tốt chương trình phát triển chăn nuôi gia súc, gia
cầm trên địa bàn xã. Tăng cường hơn nữa công tác tiêm phòng, phun thuốc
cho các hộ chăn nuôi đạt kế hoạch, nhằm làm tốt công tác phòng dịch, để từ
đó ổn định được đàn gia súc gia cầm.
Hiện nay trong xã tổng đàn trâu có 163 con giảm 69 con so với năm
2006. Đàn bò có 95 con giảm 5 con so với 2006. Tổng đàn lợn có 2400 con,
trong đó lợn nái mẹ 200 con. Đàn gia cầm có 64.000 con, trong đó đàn gà có
12.000 con. Tổng đàn thủy cầm 52.000 con trong đó vịt đẻ 3000 con.
Đối với công tác chuyển đổi diện tích lúa có năng xuất thấp sang nuôi
cá nước ngọt, UBND xã đã chỉ đạo 3 HTX xây dựng kế hoạch từ đầu năm,
nhưng đến nay chỉ thực hiện được 50% trên tổng diện tích được quy hoạch là
29 ha.
b. Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ:
Phú Lương là một xã độc canh nông nghiệp nên thời gian nhàn rỗi của
người dân khá nhiều. Chính vì vậy người nông dân nơi đây đã tìm đủ mọi
18
nghề để mong kiếm thêm nguồn thu nhập trong thời gian nhàn rỗi như: Trồng
nấm rơm, nghề mộc, may mặc, vận chuyển làm đất, tuốt lúa Dịch vụ phân
bón thuốc trù sâu, dịch vụ giống cây trồng ngày càng phát triển. Giá trị sản
xuất tiểu thủ công nghiệp theo giá thực tế khoảng 8 tỷ đồng. Trong đó kinh tế

bê tông với tổng kinh phí 238.000.000đ,
trong đó nhà nước hỗ trợ 140.000.000đ, số còn lại nhân dân đóng góp. Các
19
tuyến đường trong thôn hầu như được bê tông hóa nên đã cải thiện được phần
nào nhu cầu đi lại của người dân trong xã.
c. Hệ thống thủy lợi:
Hệ thống thủy lợi của xã tương đối hoàn thiện, các hệ thống hói đào
dẫn nước từ sông Như Ý và sông Đại Giang về tưới tự chảy và bơm tưới cho
toàn bộ diện tích đất nông nghiệp của xã.
HTX Phú Lương 1 có một trạm bơm điện công xuất 3000 m
3
/h, hàng
năm HTX hợp đồng với công ty tưới tiêu cả hai vụ sản xuất để bơm nước cho
diện tích lúa mỗi khi mùa khô đến. Hệ thống tưới tiêu gồm có mương tiêu dài
3.900 m và 7 cống ngăn nước. Mới đây năm 2007 HTX NN Phú Lương 2 xây
dựng hoàn thành 2 cống thoát nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, tổng số
tiền 38.000.000đ.
Trong năm 2007 UBND xã chỉ đạo các HTX NN thực hiện tốt công tác
thủy lợi kết hợp với giao thông nội đồng và tổng chi cho công tác này lên tới
261.854.000đ với tổng khối lượng đào đắp 41.202,66m
3
cụ thể từng HTX như
sau:
HTX NN Phú Lương 1 thực hiện 19.819,66m
3
.
HTX NN Phú Lương 2 thực hiện 10.833m
3
.
HTX NN Phú Lương 3 thực hiện 10.550m

53
1
83
100
84,55
4,31
4,31
0,08
6,75
4. Số nhân khẩu bq/hộ Người/hộ 4,73 -
5. Số lao động bq/hộ Người/hộ 2,30 -
6. Mật độ dân số Người/km
2
321,00 -
7. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên % 1,20 -
[8]
Qua bảng 6, số liệu cho ta thấy tổng dân số của toàn xã năm 2006 là
5.813 người, giảm so với năm 2005 là 358 người (tương ứng giảm 5,8%) đây
là một thành tích của xã trong việc quản lý dân số và công tác kế hoạch hóa
gia đình.
Tổng số lao động của xã là 2.608 người chiến 44,86% trong tổng dân
số, đây là nguồn nhân lực chủ yếu cho hoạt động sản xuất của xã. Mật độ dân
số bình quân là 231 người/km
2
giảm so với năm 2005 là 20 người/km
2
, là xã
nằm trong nhóm xã có mật độ dân số thấp của huyện Phú Vang.
Toàn xã có 1.237 hộ trong đó hộ nông nghiệp chiến tỷ trọng cao nhất
trong tổng số hộ: Chiếm tới 1.040 hộ tương ứng với 84,55%, sở dĩ số hộ nông

hội.
4.2.4. Văn hóa – giáo duc – y tế.
a. Văn hóa:
Phú Lương luôn đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa, góp phần làm chuyển biến tích cực đời sống ở nông thôn.
Trong năm 2007 ban chỉ đạo xây dựng đời sống văn hóa của xã đã cấp giấy
chứng nhận cho 320 gia đình văn hóa, và đề nghị cấp trên phê duyệt 02 đơn
vị văn hóa (trường mẫu giáo và thôn Đông B). Tuy vậy, hoạt động của các
ban điều hành làng văn hóa ở các thôn chưa mạnh, chưa có nề nếp, hiện tượng
vi phạm quy ước làng văn hóa vẫn còn sảy ra ở một số thôn.
22
b. Giáo dục:
Về lĩnh vực giáo dục, năm 2005 – 2006 chất lượng dạy và học ở các
trường có chưyển biến tích cực, cơ sở hạ tầng trường học, lớp học được nâng
cấp và tăng cường dụng cụ học tập. Năm 2006 – 2007 huy động được 692 học
sinh đạt 97,46% so với năm học trước. Hạn chế được tình trạng học sinh bỏ
học giữa trừng, nâng cao tỷ lệ học sinh khá giỏi. Làm tốt công tác phổ cập
giáo dục trung học cơ sơ và tiểu học đúng độ tuổi.
c. Y tế:
Chỉ đạo trạm y tế thực hiện tốt các chương trình Quốc Gia về y tế, làm
tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân. Trong năm 2006 trạm
y tế đã duy trì tốt chế độ khám và điều trị tại trạm, đã khám cho 5.000 lượt,
trong đó trẻ em dưới 6 tuổi là 1.100 lượt. đồng thời triển khai thực hiện đạt
100% kế hoạch tiêm chủng mở rộng cho trẻ em, kế hoạch uống Vitamin A và
một số chương trình khác của nghành. Năm 2007 xã đã triển khai chiến dịch
truyền thông dân số lồng ghép dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế
hoạch hóa gia đình 3 đợt trong năm. Tiếp tục xây dựng mô hình không sinh
con thứ 3 tại các thôn Giang Trung, Đông A, Lê Xá Trung. Tăng cường công
tác bảo vệ bà mẹ sau sinh và trẻ em có hiệu quả.[9].
Văn hóa, giáo dục, y tế ở xã tạo điều kiện cho người dân hiểu biết thêm

khoảng cách hàng cách hàng là 15 - 20 cm, mùa đông thì có thể xếp các hàng
24
Nguyên liệu rơm
đươc tầm ướt
bằng nước vôi
1%
Ủ đống
Đảo đống ủ
lần 1
Đạp rơm ủ
vào khuôn,
cấy meo
giống, ủ
bánh rơm
Mở ni lông,
gác bánh
rơm
Chăm sóc
giữ ấm và
thu hoạch
gần nhau. Xếp song tủ ni long lại, tốt nhất là ủ bánh rơm nơi có mái tre để
nhiệt độ trong bánh rơm ít bị biến đổi bởi thời tiết.
Gác bánh rơm vào vòm: Sau khi ủ bánh rơm 7 - 8 ngày bánh rơm đã
có mốc meo giống như meo giống thì tháo ni lông và gác bánh rơm vào vòm.
Cách gác: Gác mỗi tầng 2 - 3 lớp bánh rơm để trồng lên nhau. Tùy theo
mùa mà có thể gác nhiều tầng hay ít tầng. Các bánh rơm được xếp sát vào
nhau, nấm rơm sẽ phát triển ở hai đầu bánh rơm. Ưu điểm của cách gác này là
các bánh rơm xếp trồng lên nhau sẽ giữ ấm cho nhau vào mùa lạnh, nấm sẽ
hút dinh dưỡng của những bánh bên cạch tương đối rễ dàng.
Chăm sóc và tưới đón nấm: Chủ yếu là theo dõi nhiệt độ (trong suốt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status