Tài liệu Đề tài: Phân tích hiệu quả kinh tế về việc sản xuất Nếp của nông hộ ở xã Tân Hòa, huyện Phú Tân –An Giang - Pdf 10

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ VỀ VIỆC SẢN
XUẤT NẾP CỦA NÔNG HỘ Ở XÃ TÂN HÒA-
HUYỆN PHÚ TÂN- TỈNH AN GIANG
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Th.s HỨA THANH XUÂN PHẠM THỊ KIM PHƯỢNG
Mã số SV: 4054231
Lớp: Kinh tế nông nghiệp khóa 31
Cần Thơ, 2009
i
LỜI CẢM TẠ
Trong suốt quá trình học tập vừa qua được sự hướng dẫn của Quý thầy cô
Khoa Kinh Tế - Quản trị kinh doanh Trường Đại học Cần Thơ em đã tiếp thu
được rất nhiều kiến thức bổ ích, đặc biệt là trong quá trình thực hiện luận văn tốt
nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô Hứa Thanh Xuân
và Quý thầy cô Khoa Kinh Tế - QTKD, đã tạo điều kiện cho em thực hiện đề tài
này.
Em xin gởi lời cám ơn chân thành đến các cô chú cán bộ phòng nông
nghiệp huyện Phú Tân và cô chú cán bộ xã Tân Hòa, các bác nông dân đã tạo
điều kiện thuận lợi cho em khảo sát và thu thập số liệu tại địa bàn nghiên cứu.
Sau cùng, em cũng xin gởi lời kính chúc Quý thầy cô, các cô chú cán bộ
phòng nông nghiệp huyện cũng như các cô chú cán bộ xã, các bác nông dân luôn
dồi dào sức khỏe.
Ngày… tháng… năm 2009
Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Kim Phượng
ii
LỜI CAM ĐOAN

Họ và tên người hướng dẫn: HỨA THANH XUÂN
Học vị:
Chuyên ngành:
Cơ quan công tác: Bộ môn Kinh tế, Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh
Họ và tên sinh viên: PHẠM THỊ KIM PHƯỢNG.
Mã số sinh viên: 4054231
Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp
Tên đề tài: Phân tích hiệu quả kinh tế về việc sản xuất Nếp của nông hộ ở xã Tân
Hòa- huyện Phú Tân- tỉnh An Giang
NỘI DUNG NHẬN XÉT
1. Tính phù hợp của đề tài với chuyên ngành đào tạo
2. Về hình thức
3. Ý nghĩa khoa học thực tiễn
4. Độ tin cậy của số liệu và tính hiện đại của luận văn
v
5. Nội dung và các kết quả đạt được
Cần Thơ, ngày…tháng… năm 2009
Giáo viên phản biện
vii
MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1. Mục tiêu chung 2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 2
1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2. Không gian nghiên cứu 2
1.3.3.Thời gian 2
1.4. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 4
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 4

3.2.3. Những yếu tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu sản xuất
nông nghiệp. 24
3.2.4. Tình hình sản xuất nếp toàn huyện trong năm 2006 – 2008 24
3.2.5. Kế hoạch sản xuất nếp của huyện từ năm 2006 – 2010 28
3.3. KHÁI QUÁT VỀ XÃ TÂN HÒA- HUYỆN PHÚ TÂN-
TỈNH AN GIANG…………………………………………………………… 28
3.3.1. Vị trí địa lý 28
3.3.2. Dân số và lao động 29
3.3.3. Điều kiện tự nhiên 29
3.3.4. Cơ sở hạ tầng 29
3.3.5. Tình hình sản xuất nếp ở xã trong năm 2006 – 2008 30.
3.3.6. Kế hoạch sản xuất nếp của xã từ năm 2006 – 2010 32.
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT
NẾP CỦA NÔNG HỘ Ở XÃ TÂN HÒA, HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN
GIANG 34
4.1. MÔ TẢ CÁC NGUỒN LỰC CỦA NÔNG HỘ TRONG QUÁ TRÌNH
SẢN XUẤT NẾP 34
4.1.1. Nguồn lực lao động 34
4.1.2. Nguồn lực vốn 36
4.1.3. Nguồn lực đất đai 37
4.1.4. Kỹ thuật sản xuất 38
ix
4.2. PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU
QUẢ SẢN XUẤT NẾP CỦA VÙNG 42
4.2.1. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí sản xuất nếp
trong năm 2007 – 2008 42
4.2.2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất 47
4.2.3. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận 52
4.2.4. Phân tích hiệu quả sản xuất nếp của nông hộ 61
4.2.5. Phân tích các chỉ số tài chính để thấy được hiệu quả kinh tế của mô hình

Bảng 3 :Tổng hợp về tình hình sản xuất nếp của huyện trong
giai đoạn 2002 – 2008 27
Bảng 4. Kế hoạch sản xuất nếp của huyện giai đoạn 2006 – 2010 28
Bảng 5. Chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các khu vực 29
Bảng 6: Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của xã giai đoạn 2006 – 2008 30
Bảng 7: Diện tích, năng suất và sản lượng nếp của xã trong
giai đoạn 2006 – 2008 31
Bảng 8: Kế hoạch sản xuất nếp của xã giai đoạn 2006 – 2010 33
Bảng 9. Tổng hợp số thành viên trong gia đình, lao động trực tiếp sản xuất và
trình độ văn hóa của nông hộ 34
Bảng 10. Tỷ lệ (%) lao động trực tiếp sản xuất 35
Bảng 11. Nhu cầu vốn, lượng tiền vay, lãi suất, thời hạn vay 36
Bảng 12. Tỷ lệ (%) hộ có vay vốn để sản xuất 37
Bảng 13: Diện tích đất trồng nếp của nông hộ 37
Bảng 14: Kinh nghiệm sản xuất trong nông nghiệp 38
Bảng 15. Nguồn thông tin khoa học kỹ thuật được nông hộ tiếp nhận 39
Bảng 16. Tỷ lệ (%) hộ có tham gia tập huấn kỹ thuật 39
Bảng 17. Tỷ lệ (%) hộ áp dụng các hình thức khoa học kỹ thuật 40
Bảng 18. Khoản mục về chi phí sản xuất nếp của nông hộ trong
năm 2007 – 2008 42
Bảng 19. Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất vụ Đông Xuân
của nông hộ năm 2007 – 2008 48
Bảng 20. Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất vụ Hè Thu của
nông hộ năm 2007 – 2008 49
Bảng 21. Năng suất đạt được của nông hộ ở từng vụ trong
năm 2007 – 2008 51
xi
Bảng 22. Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận vụ Đông Xuân
của nông hộ trong năm 2007 – 2008 53
Bảng 23. Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận vụ Hè Thu của

CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.
Ngày nay, theo xu thế phát triển của các hoạt động kinh tế, nước ta đã và
đang dẫn đến việc đô thị hóa các vùng nông thôn thành những vùng chuyên canh
các mặt hàng nông sản, nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao cả về mặt số lượng
lẫn chất lượng như: Quýt Cái Bè ở Tiền Giang, bưởi năm roi ở Vĩnh Long, thanh
long Bình Thuận, gạo một bụi đỏ Hồng Dân ở Bạc Liêu…Đây là những mặt
hàng nông sản đã được biết đến từ lâu. Bên cạnh đó, An Giang cũng không kém
phần nổi tiếng với tên tuổi của những mặt hàng nông sản như: lúa, nếp…Nói đến
An Giang là nói đến vùng đất trù phú với những cánh đồng xanh cò bay thẳng
cánh, không ai có thể không biết đến sự phát triển vượt bậc của sản lượng nông
nghiệp trong 30 năm qua. Đó là một trong những tỉnh đứng đầu về việc xuất
khẩu lúa gạo trong cả nước. Để đạt được kết quả trên, An Giang cũng không
ngừng nổ lực triển khai các vùng chuyên canh như: gạo Nàng Nhen Bảy Núi, lúa
thơm Jasmine Châu Phú và nếp Phú Tân. Với diện tích khoảng 328,06 km
2
thì
Phú Tân có 38.747 ha trồng nếp chiếm tỉ lệ 55-60% tổng diện tích gieo trồng toàn
huyện, tập trung ở các vùng trọng điểm như: Phú Mỹ, Chợ Vàm, Tân Hoà, Phú
Hưng, Phú Thọ, Phú An, Bình Thạnh Đông….Do đó, để hiểu sâu hơn tại sao An
Giang lại chọn Phú Tân là vùng chuyên canh cây nếp với tên thương phẩm là
“Nếp Phú Tân”, nên tôi chọn đề tài: “Phân tích hiệu quả kinh tế về việc sản
xuất Nếp của nông hộ ở xã Tân Hòa- huyện Phú Tân- tỉnh An Giang”. Một
mặt có thể giúp tôi hiểu rõ hơn về những điều kiện tự nhiên của vùng cũng như
về mặt sản xuất của người dân đã mang lại hiệu quả kinh tế như thế nào cho gia
đình cũng như mang lại cho vùng. Qua đó, phần nào có thể phát huy và nâng cao
hơn nữa vùng thương phẩm “Nếp Phú Tân” ngày càng rộng hơn, xa hơn không
những trong nước mà còn xuất khẩu mạnh ra nước ngoài, nhằm tạo điều kiện cho
người dân có cuộc sống tốt hơn cả về mặt vật chất lẫn tinh thần.

Số liệu sơ cấp thì chỉ được thu thập trong niên vụ 2007-2008 (của ngành sản
xuất nếp). Do tính đặc trưng của đề tài nên chỉ tập trung vào 2 vụ (vụ Đông Xuân
và vụ Hè Thu của niên vụ 2007 - 2008), vì đó là những vụ nông dân mới thu
hoạch gần đây nhất (khi đó người dân mới nhớ rõ các khoảng chi phí mà mình đã
GVHD: Hứa Thanh Xuân Luận Văn Tốt Nghiệp
SVTH: Phạm Thị Kim Phượng - 3 -
bỏ ra cũng như là lợi nhuận đã đạt được cho vụ nếp), còn số liệu thứ cấp thì có
thể thu thập được trong giai đoạn 2006- 2008.
Do phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên, lựa chọn những hộ có
trồng nếp trong vùng và việc chọn hộ điều tra phụ thuộc vào cán bộ địa phương
chọn ra những hộ sản xuất điển hình trong 4 ấp của xã Tân Hòa.
1.4. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Trong quá trình thực hiện đề tài, việc lược khảo các tài liệu có liên quan là
rất hữu ích, giúp cho đề tài nghiên cứu sẽ hoàn thiện hơn, phong phú hơn. Cụ thể,
đã có sự tham khảo các đề tài sau:
+ Nguyễn Thị Thu An (2006). Phân tích hiệu quả sản xuất của việc ứng
dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất lúa của nông hộ xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú,
tỉnh Sóc Trăng. Đề tài đã được tác giả áp dụng theo phương pháp thống kê mô tả,
phương pháp phân tích hồi quy tương quan, để thấy được tính hiệu quả khi nông
hộ ứng dụng các mô hình khoa học kỹ thuật vào sản xuất cũng như các yếu tố
ảnh hưởng đến năng suất, lợi nhuận của nông hộ trên địa bàn nghiên cứu.
+ Nguyễn Thị Thu Hương (2006). Phân tích tác động của khoa học kỹ thuật
đến hiệu quả sản xuất lúa tại xã Hồ Đắc Kiện, huyện Mỹ Tú, Tỉnh Sóc Trăng.
Tác giả đã áp dụng phương pháp phân tích tần số, hồi qui tương quan và kiểm
định sự phù hợp, để phân tích hiệu quả sản xuất và xác định những thuận lợi, khó
khăn, đánh giá các chính sách đối với hoạt động triển khai và áp dụng kỹ thuật
mới trong quá trình sản xuất.
+ Nguyễn Thành Thân (2007). Thực trạng và giải pháp phát triển “Đặc sản
nếp Phú Tân”. Tác giả đã dùng phương pháp mô tả, nhằm đem lại cho sản phẩm
nếp có những hướng đi, những giải pháp phát triển tích cực và rõ ràng, bên cạnh

Dạng tổng quát: y = f(x1, x2,……,xm)
+ y là mức sản lượng (outputs)
+ x1, x2,……, xm: là các nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất (inputs).
2.1.2.Khoa học
Khoa học là sự tìm kiếm các quy luật khách quan chi phối các hiện tượng tự
nhiên, không phụ thuộc vào bất cứ sự quan tâm nào về các áp dụng kinh tế khả
dĩ, khoa học chỉ đơn giản là sự theo đuổi chân lý.
Như vậy, khoa học tập trung vào kiến thức, lý giải nguyên nhân sản sinh ra
kiến thức.
Kiến thức khoa học dễ dàng được truyền bá rộng rãi, không bị cản trở bởi
biên giới quốc gia. Kiến thức khoa học là sở hữu chung, không dễ bị chiếm hữu.
GVHD: Hứa Thanh Xuân Luận Văn Tốt Nghiệp
SVTH: Phạm Thị Kim Phượng - 5 -
Phát triển khoa học tạo ra những tri thức mang tính chất tiềm năng. Mục đích của
khoa học là phát triển tối ưu các nguồn lực phục vụ sự phát triển kinh tế – xã hội.
Hoạt động khoa học được đánh giá theo giá trị khám phá, theo giá trị nhận thức,
quy luật tự nhiên (Viện kinh tế nông nghiệp, 1995).
2.1.3. Kỹ thuật
Trong nông nghiệp những kỹ thuật tiến bộ thể hiện rõ nhất là giống cây
trồng năng suất cao, giống gia súc đã được cải tạo… nhưng công nghệ thể hiện ở
khâu vốn đầu tư nghĩa là máy móc, hệ thống tưới tiêu. Tiến bộ công nghệ đã trở
thành hiển nhiên trong trồng trọt, chăn nuôi và trình độ quản lý của người nông
dân.
Các nhà kinh tế cho rằng công nghệ là một tập hợp những kỹ thuật sẵn có
hoặc trình độ kiến thức về mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và sản lượng đầu
ra bằng vật chất nhất định. Đổi mới công nghệ là cải tiến trình độ kiến thức sao
cho nâng cao được năng lực sản xuất để có thể làm ra nhiều sản phẩm hơn với số
lượng đầu vào như cũ hoặc làm ra sản lượng như cũ với khối lượng đầu vào ít
hơn. Nhiều đổi mới công nghệ trong nông nghiệp còn nhằm để tiết kiệm lao động
(do sử dụng máy móc) hoặc tiết kiệm chi phí.

tích. Thông thường các yếu tố đầu tư bổ sung có chất lượng cao hơn, hoàn thiện
hơn và nâng cao hiệu quả hơn các yếu tố đầu tư đã sử dụng trước đó. Sự tác
động này có thể trực tiếp thông qua việc nâng cao số lượng và chất lượng các yếu
tố đầu tư bổ sung, hoặc có thể tác động gián tiếp thông qua bố trí cơ cấu mùa vụ
hợp lý hơn hay là áp dụng phương pháp phù hợp hơn. Kết quả của việc áp dụng
các tiến bộ của kỹ thuật có thể biểu hiện bằng sản phẩm hữu hình và sản phẩm vô
hình gồm:
– Số lượng, chất lượng và giá trị sản phẩm tăng lên
– Chi phí trên một đơn vị sản phẩm giảm xuống
– Cải thiện điều kiện lao động cho nhân dân
– Cải thiện đời sống cho người lao động
– Cải tạo môi trường, môi sinh
Các biện pháp kỹ thuật trong nông nghiệp bao gồm các yếu tố rất đa dạng
và phức tạp. Ngay trong từng yếu tố, tính phong phú và phức tạp cũng lớn, việc
lựa chọn những kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất nông nghiệp cần phải được cân
nhắc kỹ.
Vì vậy, nội dung của nghiên cứu này cũng nói về tác động của khoa học kỹ
thuật đến hiệu quả sản xuất của các mô hình sản xuất có áp dụng kỹ thuật: ba
GVHD: Hứa Thanh Xuân Luận Văn Tốt Nghiệp
SVTH: Phạm Thị Kim Phượng - 7 -
giảm – ba tăng, sạ hàng Một mặt, là nhằm tăng năng suất sản xuất, nâng cao
chất lượng sản phẩm, mặt khác tạo ra những sản phẩm mang tính cạnh tranh cao
so với sản phẩm của nhà sản xuất khác trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Vì
thế, việc đầu tư, nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong quá
trình sản xuất là cần thiết. Do đó, các nhà kinh tế trong quá trình đánh giá hiệu
quả sản xuất cũng ước lượng những yếu tố tác động của tiến bộ khoa học kỹ
thuật theo thời gian
2.1.5. Hiệu quả
Hiệu quả bao gồm cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có quan hệ mật
thiết với nhau như một thể thống nhất không tách rời nhau.

2.1.5.2. Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội: là mối tương quan so sánh giữa kết quả xã hội và tổng chi
phí bỏ ra. Hiệu quả xã hội nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nông
dân, tạo công ăn việc làm, giảm bớt lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp, hạn
chế tệ nạn xã hội trong nhân dân
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau,
chúng là tiền đề của nhau và là phạm trù thống nhất (Viện kinh tế nông nghiệp,
1995).
2.1.5.3. Hiệu quả sản xuất
Hiệu quả sản xuất được đo lường bằng sự so sánh kết quả sản xuất kinh
doanh với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.

Hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp được tính như sau:
Hiệu quả sản xuất = Thu nhập trên một đơn vị diện tích – Tổng chi phí sản
xuất trên một đơn vị diện tích.
=> Trong đó:
 Thu nhập trên một đơn vị diện tích = Giá bán * Sản lượng trên một đơn vị
diện tích.
 Tổng chi phí sản xuất trên một đơn vị diện tích là tổng các chi phí phát
sinh trong quá trình sản xuất trên một đơn vị diện tích. Chi phí trong sản xuất nếp
bao gồm: Chi phí chuẩn bị đất; chi phí giống; chi phí gieo sạ, cấy; chi phí phân
bón; chi phí thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ; chi phí chăm sóc; chi phí nhiên liệu,
năng lượng; chi phí vận chuyển trong sản xuất; chi phí thuê đất; chi phí lãi vay;
chi phí thu hoạch…
GVHD: Hứa Thanh Xuân Luận Văn Tốt Nghiệp
SVTH: Phạm Thị Kim Phượng - 9 -
2.1.6. Vùng chuyên canh
Chuyên canh là hiện tượng nông dân chỉ trồng một loại hoặc ít nhất một
loại cây trên một khu đất nhằm thu càng nhiều lợi nhuận càng tốt. Sản xuất
chuyên canh thường gây ra những rủi ro sau:

phân, ít bị sâu bệnh… tiết kiệm được chi phí.
Nếu giữ theo tập quán cũ như phần lớn nông dân sử dụng lúa nếp thương
phẩm làm giống với mật độ sạ duy trì ở mức khá cao (200 – 300 kg/ha), tỷ lệ lẫn
tạp cao dẫn tới năng suất và chất lượng giảm thì rõ ràng sẽ tốn nhiều giống, dễ đổ
ngã, tốn nhiều phân, dễ bị sâu bệnh tấn công… tốn nhiều chi phí.
* Giảm phân:
Theo đánh giá của các nhà khoa học có sự biến động rất lớn về nguồn đạm
được bổ sung trong đất ruộng nông dân, mức bón đạm theo qui trình nông dân
cũng thay đổi rất lớn tùy từng ruộng. Sự thay đổi mức đạm bón vào và N được
cung cấp cũng thay đổi rất lớn từ vụ này sang vụ khác, rõ ràng là nông dân chỉ
chú trọng vào phân đạm (bón đạm rất cao 100 – 135 kg/ha) vì nó là yếu tố dễ
thấy trong khi đó thường xem nhẹ vai trò của lân và kali cùng các nguyên tố vi
lượng khác mà quên rằng hàng năm cây lúa (nếp) lấy đi từ đất một lượng rất lớn
các chất dinh dưỡng trong đất. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng suy
thoái đất trầm trọng hiện nay và ngày càng nghiêm trọng hơn khi đất trồng lúa
(nếp) sản xuất 3 vụ/năm rất phổ biến.
Một thực tế nữa là khả năng hấp thu đạm vào ruộng nông dân chỉ đạt
30 – 40% so với tổng số đạm bón vào đất. Điều này đồng nghĩa với việc hàng năm
lượng phân đạm bị mất đi do bốc hơi, thẩm thấu… nên lãng phí rất lớn.
Cũng như các cây trồng khác, cây lúa (nếp) cần 16 chất trong không khí,
nước, đất, nhưng bắt buộc phải trả lại cho đất: Đạm (N), lân (P), kali (K). Nông
dân thấy bón Ure là làm cho lúa (nếp) xanh nên không chịu bón NPK, dẫn đến ba
tác hại:
- Đất bị huy động hết P và K nên mùa này bón 120 kg/ha thì mùa sau phải
bón bù 140 kg/ha lúa (nếp) mới xanh
- Bón nhiều Ure thì tán lá xanh tốt nhưng thân mảnh khảnh, chống bệnh
yếu, còn dễ bị đổ ngã, ngã thì dưỡng chất đi lên bị trở ngại.
- Tán lá to thì có những chồi ăn hại không trổ bông nhưng cũng tham gia ăn
phân
Thêm vào đó, nếu bón N với liều lượng cao trong điều kiện nhiệt độ và ẩm

2.1.7.2. Mô hình sạ hàng (máy sạ lúa theo hàng)
Mô hình sạ hàng là hình thức gieo sạ nhằm mục đích tiết kiệm giống và
đồng thời tạo thuận lợi cho quá trình chăm sóc để mang lại hiệu quả trong sản
xuất. Mô hình này là một phần được áp dụng từ chương trình ba giảm ba tăng
nhằm mục đích:
GVHD: Hứa Thanh Xuân Luận Văn Tốt Nghiệp
SVTH: Phạm Thị Kim Phượng - 12 -
– Tiết kiệm được khoảng trên 50% hạt giống
– Tăng năng suất (300 – 500 kg/ha)
– Ruộng bằng phẳng hơn.
– Dễ chăm sóc hơn
2.1.8. Lịch thời vụ
Lịch thời vụ là loại lịch nhằm giúp nông dân có định hướng sản xuất kịp
thời giữa các mùa vụ với nhau một cách đồng loạt, đồng thời nó giúp cho họ có
thể ứng phó với những khó khăn như: dịch bệnh, lũ lụt…thường xuyên xảy ra
trong sản xuất
2.1.9. Nguồn lực nông hộ
Các tài nguyên trong nông hộ rất đa dạng bao gồm đất đai, lao động, kỹ
thuật, tài chính, con người… chúng có mối quan hệ hỗ trợ lẫn nhau trong quá
trình sản xuất của nông hộ. Nếu biết tận dụng mối liên hệ này sẽ giúp nông hộ
tận dụng hợp lý các nguồn tài nguyên sẵn có, giảm chi phí và tăng hiệu quả trong
sản xuất.
2.2. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT NÔNG
NGHIỆP
2.2.1. Các yếu tố đầu vào
Trong quá trình sản xuất thì các yếu tố đầu vào luôn giữ vai trò quan trọng,
nó có ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng đầu ra, nên ta cần phải quan tâm đến các
yếu tố đầu vào hơn, các yếu tố này gồm:
* Điều kiện tự nhiên: khí hậu, nhiệt độ, lượng mưa, lượng nước cần thiết
cho tưới tiêu nông nghiệp. Đây là điều kiện rất cần thiết trong quá trình sản xuất,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status