tìm hiểu vai trò của htx nông nghiệp đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân xã hương toàn, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Từ lâu, kinh tế HTX là một hình thức tổ chức sản xuất phổ biến ở các nước
trên Thế giới, bản thân nó xuất phát từ sự tự nguyện hợp tác của các cá nhân
mong muốn làm tăng hiệu quả công việc. Trong nông nghiệp, kinh tế HTX
đóng vai trò đặc biệt quan trọng bởi lẽ hoạt động nông nghiệp vốn đòi hỏi sự
hợp tác của nhiều người trong quá trình sản xuất. Kinh tế HTX trong nông
nghiệp ở nước ta hình thành khá sớm do nhu cầu tập thể hóa sản xuất và
muốn xây dựng một nền nông nghiệp có trình độ cơ giới hóa cao. Do đó nó đã
trở thành đối tượng được khuyến khích phát triển trong các chính sách nông
nghiệp của nước ta.
Những năm gần đây, nền kinh tế thị trường ở nước ta phát triển rất mạnh mẽ,
cùng với xu thế hội nhập kinh tế Quốc tế nên việc phát triển kinh tế nhiều
thành phần đang là mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta. Ở khu vực nông thôn
nước ta thành phần kinh tế HTX trong nông nghiệp đang đóng vai trò nòng
cốt trong quá trình chuyển dịch nền kinh tế tiểu nông tự cung tự cấp sang nền
kinh tế hàng hóa quy mô lớn, góp phần cải thiện đời sống của người dân ở
vùng nông thôn.
Từ khi Luật HTX có hiệu lực đến nay, qua hơn 20 năm đổi mới, hầu hết các
HTX trên cả nước đều tiến hành đổi mới hoạt động để phù hợp với nhu cầu
phát triển chung của thời đại. Số lượng HTX làm ăn kém hiệu quả đã giảm đi,
thay vào đó là xuất hiện nhiều HTX điển hình trong sản xuất, kinh doanh hiệu
quả. Đặc biệt từ sau khi Luật HTX sửa đổi năm 2003, ngày càng có nhiều
HTX sản xuất, kinh doanh hiệu quả, hoạt động kinh doanh của nhiều HTX đã
có nhiều chuyển biến đáng kể, phát triển và dần đi vào ổn định. Ở nhiều nơi,
HTX đóng vai trò làm đầu mối trong việc tham gia các chương trình kinh tế -
xã hội của Nhà nước, góp phần không nhỏ vào việc xóa đói giảm nghèo đặc
biệt ở các khu vực vùng sâu vùng xa. Trong quá trình phát triển các HTX đã
liên minh lại với nhau để sản xuất, kinh doanh tạo nên một sức mạnh mới cho
1

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận về kinh tế hợp tác
2.1.1. Các khái niệm liên quan đến kinh tế hợp tác và HTX
Hợp tác là hình thức tất yếu trong lao động sản xuất và hoạt động kinh tế của
con người. Hợp tác bắt nguồn từ tính chất xã hội của hoạt động nói chung,
của lao động và hoạt động kinh tế nói riêng của con người. Do vậy, sự phát
triển của hợp tác gắn liền và bị quy định bởi tiến trình nâng cao trình độ xã
hội hóa sản xuất và hoạt động kinh tế. Trong lao động sản xuất, hợp tác có tác
dụng làm tăng năng suất lao động. Sự phát triển của các hình thức và thính
chất thích hợp của hợp tác có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế.
Kinh tế hợp tác là phạm trù hẹp hơn, phản ánh một phạm vi hợp tác - hợp tác
trong lĩnh vực kinh tế. Kinh tế hợp tác là một hình thức quan hệ kinh tế hợp
tác tự nguyện, phối hợp, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế, kết
hợp sức mạnh của từng thành viên với ưu thế và sức mạnh của tập thể để giải
quyết tốt hơn những vấn đề của sản xuất kinh doanh và đời sống kinh tế,nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động và lợi ích của mỗi thành viên.
Trong lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ thì
kinh tế hợp tác là một hình thức kinh tế mà nhờ đó các chủ thể kinh tế tự chủ
có điều kiện phát triển. Như vậy, quan hệ kinh tế hợp tác phải được xây dựng
trên nguyên tắc: tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và tính tự chủ độc lập của
các thành viên tham gia. Hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp là nhu cầu khách
quan. Quá trình hợp tác được thực hiện bằng nhiều hình thức từ đơn giản đến
phức tạp, từ đơn ngành đến đa ngành. Trình độ xã hội hóa sản xuất càng phát
triển thì nhu cầu hợp tác càng tăng, mối quan hệ hợp tác càng sâu rộng, do đó
tất yếu hình thành và ngày càng phát triển các hình thức kinh tế hợp tác ở
trình độ cao hơn. [1, 11-13]
HTX là một tổ chức kinh tế tập thể do cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau
đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp
sức lập ra theo quy định của luật này để phát huy sức mạnh của tập thể của
từng xã viên tham gia HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt

4
Trên phạm vi toàn xã hội hợp tác lao động giữa các chủ thể độc lập đáp ứng
nhu cầu đa dạng về sản phẩm cho sản xuất và tiêu dùng của con người. Từ đó,
nó tác động mạnh mẽ trở lại thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động xã
hội, làm xuất hiện những ngành nghề mới, mở rộng mối quan hệ giao lưu
kinh tế. Đồng thời nó cũng tạo ra sự cạnh tranh về sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm có hiệu quả nhất. [4]
2.1.3. Tính tất yếu khách quan về sự xuất hiện, tồn tại và phát triển của
vấn đề hợp tác hóa trong nông nghiệp
Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn quá trình phát triển kinh tế hàng hóa
diễn ra trên Thế giới đều chỉ rõ kinh tế hợp tác và HTX là đòi hỏi khách quan
của sản xuất hàng hóa. Sản xuất hàng hóa càng phát triển, sự cạnh tranh trong
kinh tế thị trường càng gay gắt thì người lao động riêng lẻ, các hộ sản xuất cá
thể, các doanh nghiệp nhỏ và vừa càng có yêu cầu phải liên kết, hợp tác với
nhau trong sản xuất kinh doanh, nếu không thì khó có thể tồn tại và phát triển.
Phát triển kinh tế hợp tác và HTX còn là con đường để giải quyết mâu thuẫn
giữa sản xuất nhỏ, manh mún với sản xuất hàng hóa lớn nhằm đáp ứng yêu
cầu của quá trình công nghiệp hóa. Chính vì vậy, kinh tế hợp tác và HTX đã
có một quá trình lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu trong lòng các nước
tư bản chủ nghĩa và ngày nay tại các nước phát triển, kinh tế HTX phát triển
rất rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. [3]
Những hộ tiểu nông cá thể không thể không liên kết lại trước những diễn biến
phức tạp của điều kiện tự nhiên, trước sự chèn ép của các cơ sở kinh doanh
lớn trong lĩnh vực cung ứng vật tư kỹ thuật và tiêu thụ nông sản phẩm Sự
liên kết tự nhiên đó đã gắn bó những người sản xuất nhỏ trong các tổ chức
kinh tế (được gọi là HTX) theo yêu cầu sản xuất của họ.
C.Mác cho rằng đối với “nghề nông hợp lý” thì phải có “Bàn tay của người
tiểu nông sống bằng lao động của mình” hoặc phải có “sự kiểm soát của
những người sản xuất có liên quan với nhau”. Khi nói về sự liên kết giữa
những người nông dân, F.Ănghen chỉ rõ: “Liên hiệp kinh tế của nông dân với

tầm nhìn hạn hẹp của người sản xuất nhỏ tiểu nông. F.Ănghen cho rằng:
“Phải để cho người nông dân có thời giờ suy nghĩ trên mảnh đất của họ”.
Trong tác phẩm Bàn về chế độ hợp tác, mặc dù cho rằng “HTX là bước quá
độ sang một chế độ mới bằng con đường đơn giản nhất, dễ dàng nhất, để tiếp
thu nhất đối với nông dân” nhưng V.I Lênin đã nhắc nhở phải kiên trì giáo
dục, thuyết phục người nông dân và khi nói về sự nôn nóng vội vàng đưa
6
nông dân vào HTX V.I.Lênin đã cảnh báo rằng: “Chính sách đó sẽ bị phá sản
đối với một Đảng nào muốn dùng nó”.
Từ đặc điểm trên cho thấy hợp tác hoá trong nông nghiệp là một vấn đề cực
kỳ phức tạp nên không thể nóng vội mà phải kiên trì và điều quan trọng là
hợp tác hoá phải được tiến hành trước hết trên cơ sở tôn trọng lợi ích và sự tự
nguyện của nông dân.[2]
2.2. Tình hình phát triển của hợp tác hóa trong nông nghiệp trên Thế giới
và ở Việt Nam
2.2.1. Trên Thế giới
Trên thế giới, tỷ lệ nông dân tham gia HTX chưa phải là cao (ở Philipin chỉ có
khoảng 10% nông dân hoạt động trong các HTX, tỷ lệ này ở Thái Lan là 4 -
5%, ở Hàn Quốc là 15%, ở Nhật Bản là 18% ). Tuy nhiên điều quan trọng là
tính thiết thực của vấn đề; các HTX không nhất loạt ra đời cùng một lúc mà
được thành lập vào thời điểm khác nhau tuỳ theo sự chín muồi của chúng.
Nông dân chỉ vào HTX khi cần thiết (ở Đài Loan lúc đầu các hộ nông dân khá
giả thường chưa vào HTX, nhưng sau này khi kinh tế HTX phát triển, thị
phần của HTX lớn dần thì những người này mới lại muốn gia nhập HTX);
Các HTX thường phải giải quyết những khâu mà bản thân một nông dân riêng
lẻ khó có thể tự đảm nhận như áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, chế biến và
tiêu thụ nông sản, tín dụng, Thông thường khi đã đăng ký hoạt động HTX
thường được sự hỗ trợ ban đầu của Chính phủ về kỹ thuật và tài chính [2]
Một số mô hình phát triển HTX ở các nước
Tại Nhật Bản

Tại Hà Lan
Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp Hà Lan rất phát triển, mỗi trang trại thường
tham gia nhiều hoạt động của nhiều HTX. Các HTX dịch vụ phục vụ nông
nghiệp ở Hà Lan ra đời cuối thế kỷ 19, khi kinh tế trang trại bắt đầu đi vào
sản xuất hàng hóa và phát triển cho đến ngày nay. HTX cung ứng đầu tiên ra
đời từ năm 1877, HTX sữa từ năm 1886, HTX tiêu thụ rau quả từ năm 1887
và năm 1896 HTX tín dụng nông nghiệp đầu tiên được thành lập cùng với
HTX chế biến củ cải đường và bột.
Đến thời kỳ 1939-1945, mạng lưới HTX dịch vụ phục vụ nông nghiệp và
nghề làm vườn ra đời theo hướng chuyên ngành theo từng loại sản phẩm và
phần lớn hộ nông dân thường tham gia vào 3 - 4 HTX.
8
Trong quá trình phát triển, các HTX trong nữa thế kỷ gần đây giảm nhiều về
số lượng, cụ thể HTX tín dụng từ 1.322 cơ sở, HTX cung ứng từ 1.160 cơ sở
thời gian 1949-1950 đã giảm xuống còn 935 cơ sở (tín dụng) và 107 cơ sở
cung ứng. Việc giảm số lượng HTX, sáp nhập HTX quy mô nhỏ thành quy
mô lớn để tập trung nguồn vốn và các điều kiện khác đã tạo năng lực kinh
doanh hiệu quả dịch vụ của HTX đối với nông dân, tạo ưu thế cạnh tranh của
HTX trên thị trường trong nước và vươn ra thị trường nước ngoài.
Vì vậy kim nghạch xuất khẩu nông sản có sự tham gia của các HTX chiếm
25% khối lượng kim nghạch xuất khẩu của Hà Lan. Các HTX xuất khẩu các
mặt hàng chủ yếu: thịt bò, thịt gia cầm, sữa, trứng, rau quả, hoa tươi. Riêng về
hoa, Hà Lan chiếm 60% thị trường thế giới. Ngoài ra các HTX tham gia nhập
khẩu ngũ cốc và nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc.[4]
2.2.2. Thực trạng về hợp tác hóa trong nông nghiệp ở Việt Nam
2.2.2.1.Thực trạng chung
Ở Việt Nam sau cải cách ruộng đất Đảng và Chính phủ ta đã hướng nông dân
tham gia các HTX sản xuất nông nghiệp. Trong thời gian ngắn (1958 - 1960),
85% nông dân miền Bắc đã vào HTX và tỷ lệ đó cũng đã khá cao đối với cả
nước sau này. Sự tiến triển của phong trào hợp tác hoá nông nghiệp Việt Nam

1984 (mặc dù điều kiện tự nhiên không thuận lợi) nhưng sản lượng lương
thực tăng lên liên tục, nông nghiệp được phát triển hơn.
Sự không bền vững của cơ chế quản lý cũ cộng với sai lầm của chính sách
Giá - Lương - Tiền năm 1985 đưa kinh tế Việt Nam lâm vào tình trạng khủng
hoảng nghiêm trọng và tất yếu dẫn đến đòi hỏi phải đổi mới triệt để.
 Sau “Đổi mới”
Sự thay đổi của nông nghiệp nông thôn Việt Nam được kể đến như là một
thành tựu từ sau khi có Nghị quyết 10 BCT (13/4/1988) của Bộ chính trị về
Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp. Theo tinh thần đó, hộ nông
dân được coi là một đơn vị kinh tế tự chủ, được tự quyết định lấy mọi hoạt
động kinh tế của mình. Từ đấy mọi hoạt động của hộ trở nên thiết thực hơn và
mọi nhu cầu hợp tác của nông dân cũng bắt nguồn từ yêu cầu sản xuất của họ.
- Theo tinh thần Nghị quyết 10 BCT, hoạt động của các HTX nông nghiệp đã
có sự thay đổi căn bản:
+ Hộ xã viên được quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh với diện tích đất
được giao tạm thời (5 năm), được quyền lựa chọn các yếu tố đầu vào, tự quyết
định việc bán sản phẩm Quan hệ giữa HTX và xã viên không phải là quan
10
hệ chỉ huy và bị chỉ huy như trước mà xã viên được chủ động lựa chọn dịch
vụ từ HTX hoặc từ các thành phần kinh tế khác.
+ HTX không quản lý tập trung các tư liệu sản xuất như trước, không điều
hành từng khâu, từng việc, từng thời gian như trước mà chức năng chỉ huy đã
được thay thế bằng chức năng dịch vụ cho kinh tế hộ.
+ Bộ máy quản lý của HTX gọn nhẹ hơn (phổ biến giảm 40 - 50% cán bộ
quản lý), từ đó chi phí quản lý giảm, tệ tham ô lãng phí giảm, hiệu quả sản
xuất kinh doanh của xã viên tăng lên.
+ Quy mô HTX được điều chỉnh (chia tách các HTX quá lớn hay sáp nhập
một số HTX nhỏ).
Trong những năm đầu thực hiện Nghị quyết 10 BCT kinh tế hộ phát triển khá
nhanh chóng, nhưng vẫn còn không ít các HTX khá lúng túng trước cơ chế

làm cơ sở để xây dựng các HTX mới nhằm thực hiện các dịch vụ sau thu
hoạch và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân.[4]
2.2.3. Tình hình phát triển HTX Nông nghiệp ở tỉnh Thừa Thiên Huế
2.2.3.1. Thực trạng tình hình HTX NN ở tỉnh Thừa Thiên Huế trước
năm 1997
Phong trào hợp tác hóa ở tỉnh Thừa Thiên Huế bắt đầu vào thời kỳ
1977-1978. Tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, đại bộ phận nông dân hăng
hái gia nhập HTX đi theo con đường làm ăn tập thể mà Đảng và Nhà nước đã
dẫn dắt. Quá trình hình thành và phát triển HTX đã góp phần làm ổn định tình
hình kinh tế, chính trị, xã hội ở nông thôn.
Do áp dụng theo mô hình HTX kiểu cũ vốn chứa đựng nhiều khuyết tật như:
tập thể hóa tư liệu sản xuất một cách cao độ, ruộng đất HTX quản lý, các
khâu công việc HTX điều hành tập trung, bộ máy quản lý HTX cồng kềnh và
kém hiệu lực, chế độ phân phối công điểm, bao cấp nặng nề, vốn quỹ của
HTX sử dụng không đúng mục đích kinh tế, bản thân người lao động không
được làm chủ tư liệu sản xuất, không làm chủ trong quá trình sản xuất nên
không khai thác hết tiềm năng lao động, đất đai không phát huy được hiệu
quả sản xuất.
Khắc phục tình trạng trên, từ năm 1981, thực hiện Chỉ thị 100 của Ban bí thư
về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động nông dân phấn khởi đón
nhận, khơi dậy sinh khí mới cho nông thôn, gợi mở hướng tìm tòi mới. Tuy
vậy đây chỉ là bước đột phá của giải pháp tình thế.
12
Thực hiện nghị quyết 5 của ban chấp hành Trung ương Khóa VII về tiếp tục
đổi mới và phát triển xã hội ở nông thôn, thực hiện Nghị quyết 64 CP về giao
đất nông nghiệp cho hộ nông dân sử dụng lâu dài, những quan điểm mới về
kinh tế hợp tác của Nghị quyết 5 là cơ sở ra đời nhiều hình thức hợp tác đa
dạng có hiệu quả ở nông thôn, hợp tác từng khâu dịch vụ, điều hành sản xuất.
Tất cả trên nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi và quản lí dân chủ.[8]
2.2.3.2. Hiện trạng các HTX NN thực hiện Luật 1997 đến năm 2003

- Địa điểm nghiên cứu: Tại HTX nông nghiệp Tây Toàn và HTX nông nghiệp
Đông Toàn, xã Hương Toàn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Nội dung nghiên cứu: Vai trò của HTX nông nghiệp đối với hoạt động sản
xuất nông nghiệp của xã viên.
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1.Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Hương Toàn
3.3.2. Tổng quan tình hình sản xuất, kinh doanh dịch vụ của HTX nông
nghiệp Tây Toàn và Đông Toàn
3.3.2.1. Quá trình thành lập và phát triển của 2 HTX
3.3.2.2. Tình hình số lượng xã viên, nhân sự và cơ cấu tổ chức 2 HTX
3.3.2.3. Nguồn vốn và cơ sở vật chất
3.3.3. Các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ của 2 HTX
3.3.3.1. Hoạt động sản xuất
- Trồng trọt: năng suất, sản lượng của sản xuất lúa và hoa màu của 2 HTX
- Chăn nuôi: tổng số lượng đàn gia súc, gia cầm và nuôi trồng thủy sản của 2 HTX
3.3.3.2. Hoạt động kinh doanh dịch vụ
- Dịch vụ sức kéo, thủy lợi
- Dịch vụ cung ứng vật tư đầu vào
- Dịch vụ hỗ trợ vốn sản xuất
- Bảo vệ thực vật
- Các hoạt động dịch vụ khác: bảo vệ nông, khuyến nông, chuyển giao các mô
hình kỷ thuật mới…
14
3.3.4. Đóng góp của 2 HTX vào quá trình phát triển nông thôn mới của
địa phương
3.3.5. Những đóng góp tích cực của HTX đối với đời sống sinh hoạt hàng
ngày của xã viên
- Hỗ trợ gia đình chính sách, neo đơn, nghèo khó vào các dịp lễ tết, giáp hạt
- Trợ tang, phúng điếu xã viên qua đời
- Lập quỹ khuyến học, quỹ hỗ trợ An ninh quốc phòng

3.4.4. Xử lí số liệu
- Đối với các thông tin mang tính chất định tính thì tiến hành tổng hợp, so
sánh rồi rút ra các nhận định, nhận xét.
- Đối với các thông tin mang tính chất định tính thì tiến hành mã hóa và xử lí
số liệu bằng phần mềm Excel sau đó rút ra các nhận xét.
16
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Hương Toàn
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Xã Hương Toàn thuộc huyện Hương Trà nằm ở vị trí phía Bắc TP Huế và
theo Quốc lộ 1A 9Km, cách trung tâm huyện về phía Tây Nam 6Km.
Có toạ độ địa lý :
Phía Đông giáp xã Hương Vinh, Hương Sơ.
Phía Tây giáp xã Hương Xuân.
Phía Nam giáp xã Hương Chữ.
Phía Bắc giáp xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền.
Tổng diện tích tự nhiên 1.220 ha, toàn xã có 12 đơn vị thôn, giáp.
Là một xã đồng bằng của huyện Hương Trà chủ yếu là diện tích ruộng thấp
trũng, có chiều dài 5km tuyến đường tỉnh lộ 8B đi qua đã được xây dựng hoàn
thành năm 2000 chạy dọc từ làng Hương Cần đến Nam Thanh khá thuận lợi
cho việc vận chuyển hàng hoá.
4.1.1.2. Địa hình
Hương Toàn là một xã có địa hình, địa thế đơn giản giới hạn độ cao so với
mực nước biển không quá 2,2m; thấp nhất 0,2m. Hình dạng bề mặt chủ yếu là
bằng phẳng, đều được cấu tạo bởi trầm tích trẻ gồm chủ yếu là đất phù sa
được sông bồi đắp, thành phần cơ giới thịt trung bình, tầng đất canh tác
thường dày >10cm, rất thuận lợi cho lúa và rau màu phát triển.
4.1.1.3. Khí hậu

- Thuỷ văn : Ranh giới phía Bắc của xã là lưu vực sông Bồ. Lưu lượng nước
mùa mưa lớn, mực nước lũ trung bình hàng năm lên tới 1,5m, riêng mực nước
lũ tháng 11 năm 1999 lên tới trên 3m, lòng sông hẹp, quanh co, nhưng không
dốc, do đó nước trong mùa mưa thoát chậm, gây ngập úng. Lưu lượng nước
lớn cho nên gây hiện tượng sạt lở bờ sông. Ngoài ra trong xã có nhiều con hói
nhỏ góp phần điều hoà nguồn nước, thuận lợi cho cung cấp nước đồng ruộng.
( Nguồn: Kế hoạch phát triển nông nghiệp xã Hương Toàn)
4.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội
Toàn xã có hơn 85% dân số sống về nông nghiệp và các ngành nghề thủ
công như nấu rượu gạo, làm cốm, chằm nón, làm bún và các ngành nghề dịch
vụ. Trên địa bàn xã hiện có 2 HTX nông nghiệp đang hoạt động và giữ vai trò
quan trọng đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp của xã, thúc đẩy kinh tế
nông hộ ngày một phát triển.
Người dân có mức sống trung bình, thu nhập hằng năm khoảng 7 triệu
đồng/người/năm.
Tỷ lệ hộ nghèo khoảng 7,239%
18
4.1.2.1. Về kinh tế
 Nông nghiệp
-Trồng trọt
Toàn xã có 653,36ha đất nông nghiệp, trong đó diện tích trồng cây hàng năm
635,4ha, chiếm 97,25%; diện tích lúa nước: 555,72ha; đất màu: 78,88ha
- Chăn nuôi
Ngành chăn nuôi của xã vẫn còn nhỏ lẻ, chủ yếu là chăn nuôi hộ gia đình để
tận dụng các sản phẩm phụ từ sản xuất nông nghiệp. Hiện nay trên địa bàm xã
có 4 trang trại trồng trọt và chăn nuôi kết hợp nhưng quy mô còn hạn chế.
Hiện tại trên địa bàn đủ lượng thịt so với nhu cầu tiêu dùng tại chỗ, nhưng
nông dân sản xuất chăn nuôi thu nhập vẫn đang còn thấp do giá cả thị trường
bấp bênh và không có đầu ra ổn định.
- Nuôi trồng thủy sản

ứng nhu cầu phát triển KT-XH trong thời gian tới, đồng thời tìm việc
làm cho số lao động nông nhàn góp phần nâng cao thu nhập và giữ vững
trật tự địa phương.
 Xã hội
- Hiện tại đội ngũ cán bộ xã đến các thôn giáp tương đôí ổn định có khả năng
đảm đương công tác. Tình hình hoạt động các tổ chức trong hệ thống chính trị
thường xuyên và năng nổ, tuy nhiên cần phải có kế hoạch đào tạo cán bộ mới
đáp ứng kịp trong thời đại công nghiệp hoá - hiện đại hóa hiện nay.
- Tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tương đôí ổn định, là đơn vị hai năm
liền nhận được bằng khen của tỉnh.
- Người dân đa số theo Phật giáo chiếm hơn 50% dân số, riêng thôn Dương
Sơn 100% tín đồ theo đạo Thiên chúa giáo với 217 hộ gồm 1289 nhân khẩu,
có nhà thờ và tu viện nữ tu lâu đời.
20
4.2. Tổng quan tình hình sản xuất, kinh doanh dịch vụ của HTX nông
nghiệp Tây Toàn và Đông Toàn
4.2.1.Quá trình thành lập và phát triển
Hai HTX nông nghiệp Tây Toàn và Đông Toàn thuộc xã Hương Toàn, huyện
Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế được thành lập năm 1978 dưới sự chỉ đạo
của UBND huyện Hương Điền (nay là huyện Hương Trà và Quảng Điền) và
xã Hương Toàn, hiện nay mỗi HTX gồm có 6 đội sản xuất (là 6 thôn, giáp của
xã). Qua quá trình hoạt động của mình, kể từ khi thành lập hai HTX đã có
đóng góp đáng kể vào sự phát triển nông hộ nói riêng và của xã nói chung. Từ
sau khi có Luật HTX năm 1997 thì đến năm 1998 cả hai HTX đều tiến hành
đổi mới cho phù hợp với yêu cầu phát triển chung. Với sự đổi mới về cả bộ
máy quản lý lẫn tổ chức sản xuất, kinh doanh thì trong những năm vừa qua cả
hai HTX đã thu được nhiều kết quả tích cực. Hiện nay, cả hai HTX đều chưa
thuộc liên minh HTX tỉnh Thừa Thiên Huế.
4.2.2. Tình hình số lượng xã viên, nhân sự và cơ cấu tổ chức hai HTX
4.2.2.1. Về xã viên

kiểm soát hoạt động độc lập với BQT HTX. Ngoài ra, cả 2 HTX đều có các
đổi trưởng và đội phó làm việc ở các đội sản xuất, trực tiếp điều hành mọi
hoạt động của xã viên.
Do đó bộ máy tổ chức quản lý của 2 HTX cũng có điểm khác nhau
22
Chú thích:
Quan hệ lãnh đạo
Quan hệ chỉ huy, chỉ đạo
Quan hệ kiểm tra, kiểm soát
Sơ đồ 1b: Bộ máy tổ chức quản lý của HTX NN Tây Toàn
Ban chủ
nhiệm
Đại hội xã viên
BQT HTX
Các đội sản
xuất
Các bộ phận
chức năng
Hộ xã viên
Ban kiểm soát HTX
23
Ban chủ
nhiệm
Đại hội xã viên
BQT HTX
Các đội sản
xuất
Các bộ phận
chức năng
Hộ xã viên

của xã viên.
24
Bảng 6a: Cơ sở vật chất của HTX NN Tây Toàn
Danh mục
Đơn vị
tính
Số lượng Ghi chú
Nhà làm việc
m
2
100
Nhà cấp 4
Nhà kho
m
2
250 Đảm bảo lưu trữ
Máy tính, máy in cái 2 -
Hệ thống phát thanh hệ thống
1 Mỗi đội sản xuất có 2-3
loa phát thanh
Bàn, ghế, … bộ 5 -
Tủ đựng tài liệu, sổ sách cái 3 -
Tổng diện tích đất NN ha 379,000 -
Máy bơm nước cái
29 Hợp đồng với tư nhân
(22 cái)
Máy cày cầm tay cái 36 Hợp đồng với tư nhân
Hệ thống kênh mương km 20,992 -
Bảng 6b: Cơ sở vật chất của HTX NN Đông Toàn
Danh mục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status