PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài.
Hiện nay, ở nước ta đại bộ phận người nghèo, người có thu nhập thấp
đang sống ở nông thôn, với 70% dân số Việt Nam sống dựa vào nông nghiệp,
hàng năm đóng góp 20% GDP toàn quốc[14]. Nguồn lao động ở nông thôn
rất dồi dào nhưng tình trạng thất nghiệp và bán thất nghiệp luôn xảy ra do
thiếu việc làm và tính mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp. Người nông dân
hiện vẫn làm các công việc mang tính chất thủ công và thời vụ. Đúng vụ sản
xuất nông nghiệp thì công việc của họ là thuần nông, ngoài thời vụ kể trên
phần lớn là họ chuyển sang các lao động phổ thông khác như gia công thêm
một số mặt hàng thủ công truyền thống, buôn bán nhỏ - tham gia lưu thông
hàng hoá từ nông thôn ra thành thị, tham gia vào các chợ lao động ở những
thành phố lớn như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, hoặc cũng có một số
tham gia vào thị trường xuất khẩu lao động, nhưng chưa nhiều và mức độ đáp
ứng các yêu cầu của thị trường này chưa cao Do tính chất công việc phổ
thông, mang tính thời vụ nên thu nhập của họ không cao và không ổn định.
Thực tế này tạo nên sự thiếu bền vững và tiềm ẩn những bất ổn về việc làm
đối với lực lượng lao động nông thôn nói chung, nông dân nói riêng. Dẫn đến
nông dân thiếu việc làm ngày càng tăng, thực trạng trên nếu không được khắc
phục sớm sẽ trở thành lực cản đối với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn; gia tăng các vấn đề kinh tế - xã hội…[4]
Vì vậy, tạo việc làm cho người lao động ở nông thôn, đa dạng các hoạt
động tạo thu nhập góp phần làm tăng thu nhập cho người dân nông thôn là
những chính sách quan trọng trong chiến lược CNH-HĐH nông nghiệp nông
thôn nhằm làm giảm sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị trong tiến
trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Do đó, đòi hỏi nhiều hơn nữa
những nghiên cứu về nông thôn để làm cơ sở cho việc hoạch định các chính
sách này. Các hoạt động tạo thu nhập ở nông thôn rất đa dạng, nhưng mức thu
nhập vẫn còn thấp và còn phụ thuộc nhiều vào các hoạt động sản xuất nông
nghiệp. Tuy nhiên, các hoạt động phi nông nghiệp cũng đống vai trò hết sức
quan trọng. Vì vậy, nghiên cứu các hoạt động tạo thu nhập ở nông thôn là hết
Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Tìm hiểu các hoạt động tạo thu nhập và vai trò của các hoạt động đó đối với
sinh kế người dân xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Tìm hiểu/ đánh giá các khó khăn, thuận lợi của người dân khi tham gia các
hoạt động tạo thu nhập.
2
PHẦN II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn trong nghiên cứu sinh kế.
2.1.1 Cơ sở lý luận trong nghiên cứu sinh kế bền vững.
Cơ sở của sự phát triển phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững là dựa
trên lịch sử của quá trình thay đổi những quan điểm về nghèo đói qua ba thập
kỷ. Cụ thể là, các phương pháp tiếp cận tham gia trong công tác phát triển đã
nêu bật được sự đa dạng trong những mục đích phát triển mà con người
hướng tới và sự đa dạng mà con người cần thích nghi trong các chiến lược
sinh kế của mình để đạt được thành công. Phân tích đói nghèo đã nhấn mạnh
tầm quan trọng của các tài sản sinh kế, tức là vai trò của các loại vốn trong
việc quyết định đến hiện trạng đời sống. Mặt khác việc coi trọng vai trò của
khung chính sách và thể chế, một vấn đề được quan tâm nhiều trong tư duy
phát triển đầu thập kỷ 80, một yếu tố nổi trội của các phương pháp tiếp cận
quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng là cơ sở để hình thành nên các
phương pháp tiếp cận sinh kế sau này. Tuy nhiên, trong phân tích sinh kế
ngoài việc chú trọng vai trò của thể chế và tiến trình nó còn tập trung vào việc
tìm hiểu và hỗ trợ mối liên kết của thể chế, tiến trình từ cấp vi mô tới cấp vĩ
mô, thay vì chỉ tập trung ở cấp địa phương.[3,2]
Các phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững cũng bắt nguồn từ những
hạn chế về tính hiệu quả của những hoạt động can thiệp trong công tác phát
triển. Sau khi tuyên bố cam kết về giảm nghèo, rất nhiều chính phủ và các nhà
tài trợ đã ngay lập tức tập trung nỗ lực vào các nguồn lực và cơ sở vật chất
(đất, nước, trạm y tế, công trình hạ tầng) hay tập trung vào những cơ cấu cung
cấp dịch vụ (giáo dục, thú y, các tổ chức phi chính phủ) mà không tập trung
lâm bệnh), xu hướng bao gồm cả xu hướng kinh tế xã hội và môi trường và
tính mùa vụ ( sự dao động bao gồm dao động về giá cả thi trường và việc
làm,…). Bối cảnh tổn thương bao gồm các xu hướng, các cú sốc, tính mùa vụ
hay sự dao động và mối quan hệ giữa chúng. Khi phân tích bối cảnh tổn
thương cần phân loại các nhóm kinh tế xã hội khác nhau như hộ nghèo, trung
bình, khá,…Vì các nhóm xã hội khác nhau thì sự tổn thương sẽ khác nhau.
Tài sản sinh kế là một hợp phần chính trong khung phân tích sinh kế
bền vững, đây là các loại tài sản sinh kế mà các loại hình sinh kế được xây
dựng trên đó. Các tài sản này được chia làm năm loại ( hay loại vốn), đó là:
Vốn con người, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn tự nhiên, vốn xã hội). Hay
còn được gọi là ngũ giác tài sản sinh kế được thể hiện theo hình vẽ: (Hình 1)
4
+Vốn con người: Bao gồm kỹ năng, kiến thức và sự giáo dục của từng các
nhân và các thành viên trong gia đình, sức khỏe, thời gian và khả năng làm
việc để họ đạt được những kết quả sinh kế.
+Vốn xã hội: Đề cập đến mạng lưới và mối quan hệ, các tổ chức xã hội và các
nhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con người tham gia để từ đó
được những kết quả sinh kế.
+Vốn tự nhiên: Là các nguồn lực tự nhiên (của một hộ hoặc của cộng đồng)
mà con người trông cậy vào.
+Vốn tài chính: Là các nguồn lực tài chính mà con người có được như nguồn
thu nhập tiền mặt và các loại hình tiết kiệm khác nhau, tín dụng và các luồng
thu nhập tiền mặt như lương hưu, tiền do thân nhân gửi về hay những trợ cấp
của nhà nước.
+Vốn vật chất: Bao gồm các công trình hạ tầng và xã hội cơ bản và các tài sản
của hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế, như giao thông, hệ thống cấp nước và
năng lượng, nhà ở và các đồ dùng,dụng cụ trong gia đình, các công cụ máy
móc phụ vụ sản xuất,…[3;15]
Hình 1: Ngũ giác sinh kế
Chiến lược sinh kế là những quyết định trong việc lựa chọn, kết hợp, sử
mới. Tất cả các yếu tố trên đóng góp vào gia tăng năng suất đất đai và thu
nhập của nông hộ. Sự gia tăng năng suất nông nghiệp có thể gián tiếp ảnh
hưởng lên lĩnh vực phi nông nghiệp bằng sự gia tăng thặng dư tương tự lúa
gạo và như vậy tạo ra cơ hội việc làm trong lĩnh vực chế biến ở nông thôn,
thương mại và các hoạt động vận chuyển (Mellor, 1976) từ đó có thể đóng
góp trực tiếp làm thu nhập nông nghiệp lớn hơn. Sự phát triển tài nguyên
nhân lực tuỳ thuộc cấp lớp đã đến trường của chủ hộ, có thể góp phần làm
tăng năng suất lao động các hoạt động phi nông nghiệp, từ đó thu nhập nông
hộ gia tăng. Giáo dục cũng tạo cơ hội nghề nghiệp cho thành phần lao động
gia đình thủ công, năng suất thấp (chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và các
hoạt động xây dựng) chuyển sang các hoạt động ngoài nông nghiệp như:
thương maị và dịch vụ. Tình trạng của cơ sở hạ tầng cũng đóng góp tích cực
6
vào thu nhập thông qua giá cả của đầu vào, đầu ra trong lĩnh vực thương mại
và qua việc gia tăng cơ hội lao động làm tăng thu nhập trong lĩnh vực phi
nông nghiệp ở nông thôn. Ngoài nguồn vốn tiết kiệm của gia đình, tiếp cận tín
dụng làm tăng thêm vốn cũng làm tăng thêm thu nhập của nông hộ.[3;30]
2.1.2 Cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài.
Trong những năm gần đây, khu vực nông thôn có sự quan tâm mạnh
mẽ của Đảng, nhà nước và các ban ngành hữu quan, điều này được thể hiện
trong các chủ tương và chính sách của Đảng và nhà nước ta về nông nghiệp,
nông thôn và nông dân, tuy nhiên vẫn tồn tại mâu thuẫn lớn nhất trong giai
đoạn hiện nay của phát triển là mục tiêu của nhà nước và nông dân khác nhau.
Nhà nước coi khu vực nông nghiệp là một khu cực của nền kinh tế, phải tăng
trưởng thế nào để vừa đảm bảo được an ninh lương thực, vừa có sản phẩm
thặng dư để đóng góp cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Còn nông dân sống trong xã hội nông thôn cần có đời sống ngày càng được
nâng cao cùng với mức sống của đô thị hóa. Trong xã hội nông thôn không
chỉ có nông nghiệp mà còn có tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Những nghiên
cứu gần đây về sinh kế nông thôn trên thế giới và nước ta cho thấy nông dân
nhiều nước, nhiều vùng lãnh thổ khác nhau, đặc biệt là nghiên cứu của các tổ
chức quốc tế chính thức và phi chính thức về sinh kế nông thôn, trong đó có
WB, FAO, UNDP, CARE. Với những mục tiêu khác nhau mà có những công
trình nghiên cứu của các tổ chức quốc tế chủ yếu được thực hiện ở các nước
nghèo, các nước đang phát triển, nhất là các nước ở khu vực châu Phi.
Các nghiên cứu về đời sống nông thôn và xóa đói giảm nghèo được
thực hiện ở Uganda và Tanzania (năm 2005) cho thấy rằng, các hộ gia đình
khá thường sở hữu hơn 2-3 ha đất đai, hơn 5 con dê, 2 con bò và một căn nhà
với bức tường gạch; các hộ gia đình này đảm bảo được an toàn lương thực
quanh năm, đủ tài chính để thuê lao động, con cái được học hành đầy đủ, và
tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp ( kinh doanh, xay xát, mở cửa
hàng, làm gạch, kinh doanh quầy ba) và sản xuất trang trại nhiều hơn. Các hộ
trung bình thì sở hữu ít hơn các loại tài sản này, hộ gia đình có xu hướng kinh
doanh, họ có thực phẩm hầu hết ở các năm và hộ tham gia ít hoặc không có
các hoạt động phi nông nghiệp. Các hộ nghèo thuờng có ít hơn 0,5ha đất,
không có hoặc có ít gia súc, luơng thực và thực phẩm phụ thuộc nhiều vào
việc bán hàng hoặc lao đông làm thuê [10].
8
Theo nghiên cứu của WB và truờng đại học Washington cho thấy dù đã
có những tiến bộ đáng kể trong sự đa dạng về thu nhập của các hộ gia đình
nông thôn nhưng nông nghiệp vẫn là hoạt động chủ yếu của các hộ gia đình
nông thôn ở các nuớc đang phát triển. Đây là kết luận của một nghiên cứu dựa
trên các kết quả ban đầu của dự án các hoạt động tạo thu nhập ở nông thôn,
một dự án của FAO nghiên cứu cho thấy 84% các hộ gia đình ở nông thôn
tham gia vào các họt động nông nghiệp. Tại một số nuớc, các số liệu thống kê
cho thấy con số này còn cao hơn lên tới 99%. Tuy nhiên nghiên cứu cũng đề
cập rằng các hộ gia đình ở nông thôn thu đuợc một phần lớn thu nhập từ các
hoạt động phi nông nghiệp.[12]
2.2.2 Các nghiên cứu sinh kế ở Việt Nam
Theo những nghiên cứu gần đây, hơn 80% cư dân Việt Nam sống ở
và theo đó sẽ 2.498.756 lao động nông thôn mất việc.
Trên thực tế, diện tích đất nông nghiệp chỉ có hơn 9 triệu ha, chiếm
khoảng 28% diện tích của cả nước, lực lượng lao động ở khu vực nông thôn
hiện có khoảng 33.971 ngàn người (chiếm 75,03% tổng lao động cả nước) và
sau mỗi năm lại tăng thêm khoảng 45 vạn người [1]. Vì vậy, những lao động
nông thôn đã bị thu hồi đất có rất ít cơ hội được cấp lại đất để tiếp tục sinh
sống bằng nghề cũ. Do đó, hàng triệu người, chủ yếu là nông dân lâm vào
cảnh không có hoặc thiếu việc làm, thu nhập giảm hoặc không có thu nhập.
Điều đáng chú ý trong số những người bị mất việc nhóm người bị ảnh hưởng
nhiều nhất ở độ tuổi từ 35 tuổi trở lên (chiếm khoảng 50%) - là nhóm người
thường có trách nhiệm tạo thu nhập chính cho gia đình, và ở độ tuổi của họ
vấn đề học và chuyển đổi nghề mới không dễ dàng. Đây là một bài toán khó,
một thách thức lớn đối với phát triển.[4]
Trong những năm qua, Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ
cho người dân những vùng bị thu hồi đất như chính sách định cư tại chỗ, hỗ
trợ đào tạo nghề, chuyển đổi nghề, nhưng do nhiều yếu tố khách quan và chủ
quan nên số lượng nông dân mất việc làm, thiếu việc làm vẫn chưa thể khắc
phục triệt để. Trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO),
nền kinh tế nước ta phải chấp nhận một “sân chơi” bình đẳng trong quan hệ
kinh tế quốc tế - sẽ không có sự phân biệt đối xử giữa hàng hoá, dịch vụ nội
địa và nhập khẩu; phải mở cửa thị trường, bảo hộ hạn chế, dỡ bỏ hàng rào
thuế quan và tiến tới sự minh bạch trong dự báo chính sách thương mại v.v
Đây là những thách thức lớn đối với các ngành sản xuất và dịch vụ trong
nước, đặc biệt đối với sản xuất nông nghiệp.[4]
10
Công nghệ tiên tiến ngày càng thâm nhập vào lĩnh vực nông nghiệp,
quy mô sản xuất lớn và đại trà, tạo ra sức cạnh tranh khốc liệt làm cho các cơ
sở sản xuất trong nước trong đó có những hộ kinh doanh cá thể nhỏ, lẻ, manh
mún hạn chế về trình độ công nghệ, phương pháp quản lý dễ dàng lâm vào thế
yếu, bị phá sản hoặc thu hẹp sản xuất. Quá trình này sẽ dẫn tới sự cạnh tranh
lượng mà chất lượng cũng chưa được cải thiện.
Thực trạng trên nếu không được khắc phục sớm sẽ trở thành lực cản
đối với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; gia
tăng các vấn đề kinh tế - xã hội…[4]
Nghiên cứu của IPSARD trong khuôn khổ dự án “Hộ gia đình tiếp cận nguồn
lực ở Việt Nam năm 2009” đã phác thảo nên một bức tranh toàn cảnh về các
hoạt động tạo thu nhập.
Các số liệu cho thấy có sự biến chuyển trong cơ cấu lực lực lao động
tham gia làm việc ở nông thôn trong hai năm qua.
- Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động gia vào các hoạt động tạo thu nhập
có - xu hướng giảm sau 2 năm (87% so với 89%)
- Tỷ lệ người tham gia vào nông nghiệp giảm 6%, tỷ lệ người tham gia
vào các công việc phi nông nghiệp giảm 4% so với năm 2006
- Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động tham gia các công việc khai thác
tài nguyên công cộng tăng từ 8% năm 06 lên 20% năm 08
- Nhóm giàu hơn có tỷ lệ người tham gia vào các công việc làm công
ăn lương cao hơn so với năm 2006
- Tỷ lệ người tham gia vào các hoạt động kinh doanh phi nông nghiệp
cá thể giảm mạnh ở các nhóm hộ có thể một phần do nguyên nhân sự suy
giảm kinh tế chung.[8]
12
Bảng 1: Các hoạt động của nhóm trong độ tuổi lao động theo giới tính và
nhóm chi tiêu (%)
Danh
mục
Có
làm
việc
Hoạt
động
Giàu 87,7 81,8 36,5 52,5 16,3 7,2 61,7
Năm
2008
92,4 87,5 34,4 69,6 12,7 19,7 67,6
Năm
2006
93,5 89,0 32,9 75,0 16,8 7,6 68,1
N = 4,075 (3,946 in 2006)
(Nguồn [8])
Việc làm công ăn lương chủ yếu thấy ở các tỉnh đồng bằng như Khánh
Hòa, Long An với hơn 30% các thành viên hộ trong độ tuổi lao động tham gia
vào hoạt động làm công ăn lương.
Khai thác tài nguyên công cộng chủ yếu thấy ở các tỉnh miền núi phía bắc
Hà Tây có tỷ lệ người tham gia vào các hoạt động kinh doanh phi nông
nghiệp cao nhất.
13
Nghiên cứu về tầm quan trọng của các hoạt động thông qua thời gian phân bổ
lao động và thu nhập cho thấy:
- Thời gian cho hoạt động nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng thời
gian làm việc, tiếp theo là hoạt động làm công ăn lương và kinh doanh phi
nông nghiệp.
- Năm 2008, hộ phân bổ nhiều thời gian hơn cho công việc làm công ăn
lương, và ít thời gian hơn cho kinh doanh phi nông nghiệp so với năm 2006
- Hộ giàu dành nhiều thời gian hơn cho việc làm công ăn lương và kinh doanh
phi nông nghiệp nhưng lại ít thời gian hơn cho nông nghiệp so với hộ nghèo.
- Tỷ lệ thu nhập từ nông nghiệp tăng khá trong năm 2008 so với năm 2006.
[8]
Biểu đồ 1: Tỷ lệ thời gian phân bố cho các họat động theo tỉnh (%)
(Nguồn [8])
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Tâm tại Nông trường
các rừng tự nhiên.
Thứ ba là, mặc dù vẫn phụ thuộc vào rừng, một số người dân nông thôn
vẫn có lợi ích từ việc mất rừng thông qua việc chuyển đổi đât rừng thành đất
nông nghiệp, khai thác và bán gỗ cũng như các sản phẩm từ rừng khác lấy
tiền làm vốn.[11]
Theo nghiên cứu của Ngân Hàng Thế Giới khu vực Đông Á và Thái
Bình Dương Vụ phát triển nông thôn và Tài nguyên tại Việt Nam(1998) cho
15
thấy : sự khác nhau giữa các vùng về thị trường lao động. Sự đóng góp của
hai dạng hoạt động phi nông nghiệp tại nông thôn, từ kinh doanh và làm công
có vai trò quan trọng đối với thu nhập của hộ gia đình.
Các hộ nông thôn có các nguồn thu nhập tương đối đa dạng. Do diện
tích trang trại nhỏ bé làm hạn chế thu nhập của hộ gia đình, đa dạng hóa sang
các hoạt động phi nông nghiệp tạo thêm nguồn việc làm và bổ sung thu nhập
cho nông hộ. Thậm chí, ở những nơi chủ yếu làm nghề nông vẫn có một loạt
các hoạt động sản xuất đa dạng như từ trồng cây hàng năm đến cây lâu năm,
chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Thu nhập phi nông nghiệp cũng đóng góp
vai trò quan trọng. Từ cuối những năm 90, các nguồn thu nhập đã đạt được
mức cân bằng trong các hoạt động nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng, sản
xuất lúa gạo/cây hàng năm đã giảm dần mặc dù thu nhập từ phi nông nghiệp
còn thấp hơn so với đồng bằng sông Cửu Long. [10],[15]
16
PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu.
Người dân tham gia các hoạt động tạo thu nhập tại xã Quảng Vinh bao
gồm các hoạt động như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng đánh bắt thủy sản, và
các hoạt động phi nông nghiệp khác.
3.2. Nội dung nghiên cứu.
3.2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Quảng Vinh,
3.2.3.3. Hoạt động phi nông nghiệp
3.3. Phạm vi nghiên cứu.
- Thời gian: Thực hiện nghiên cứu từ ngày 03/01/2011 đến 06/05/2011.
- Không gian: Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại 2 thôn: Phổ Lại, Sơn Tùng
của xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Số lượng mẫu điều tra: Điều tra 30 hộ gia đình trong tổng số 2600 hộ gia
đình tại xã Quảng Vinh.
3.4. Phương pháp nghiên cứu.
3.4.1. Chọn điểm nghiên cứu.
Điểm nghiên cứu được chọn tại 2 thôn Phổ Lại và Sơn Tùng là 2 thôn
có dân số đông nhất và có nhiều hoạt động tạo thu nhập khác nhau của xã
Quảng Vinh.
3.4.2. Phương pháp thu thập thông tin.
- Thu thập thông tin thứ cấp.
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo về tình hình kinh tế xã hội
của xã năm 2010, và các tài liệu như sách, báo, internet.
- Thu thập thông tin sơ cấp.
Phỏng vấn người am hiểu gồm cán bộ khuyến nông xã, trưởng thôn
Phổ Lại, Sơn Tùng, phỏng vấn bán cấu trúc 30 hộ dân tại 2 thôn Phổ Lại và
Sơn Tùng, và làm thảo luận nhóm để thu thập thông tin về các hoạt động tạo
thu nhập của người dân địa phương, vai trò của các hoạt động đó đối với đời
sống của người dân, những thuận lợi và khó khăn của các hoạt động đó.
Đi thực địa và quan sát điểm nghiên cứu nhằm hiểu biết tình hình
chung.
18
3.4.3. Phương pháp phân tích dữ liệu.
- Dùng phương pháp định tính và định lượng để tổng hợp thông tin.
- Xữ lí thông tin trên phần mềm Excel.
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Đặc điểm và điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã
xuất nông nghiệp, tuy nhiên đất bị nhiễm phèn chưa nặng, nên vẫn có thể cải
tạo được để đưa vào sản xuất, đồng thời cần phải quan tâm hơn tới công tác
thủy lợi để đất đai ngày càng được sử dụng có hiệu quả hơn.
Bảng 2 : Diện tích, cơ cấu đất nông nghiệp xã Quảng Vinh.
Chỉ tiêu Quy hoạch 2010
Diện tích (ha)
Cơ cấu
(%)
Đất nông nghiệp 1.001,69 100
1. Đất sản xuất nông nghiệp 785,85 78,85
1.1. Đất trồng cây hàng năm 785,85 100
1.1.1. Đất trồng lúa 567,79 72,25
1.1.2. Đất trồng cây hàng năm còn lại 218,06 27,75
1.2. Đất trồng cây lâu năm - -
2. Đất lâm nghiệp 188,89 18,86
2.1. Đất rừng sản xuất -
2.2. Đất rừng phòng hộ 188,89 100
2.3. Đất rừng đặc dụng -
20
3. Đất nuôi trồng thủy sản 26,95 2,67
( Nguồn: Số liệu của xã Quảng Vinh năm 2010)
4.1.2. Đặc điểm kinh tế, xã hội.
4.1.2.1. Dân số, lao động.
Tổng dân số toàn xã là 11086 người với 2600 hộ gia đình và có 5910
trong độ tuổi lao động. Trong đó lao động nông nghiệp là 3901 lao động, lao
động dịch vụ là 621 lao động, lao động ngành nghề là 1243 lao động và lao
động khác là 145 lao động. Như vậy, từ số liệu trên cho thấy nguồn lao động
của xã Quảng Vinh rất dồi dào. Qua điều tra nghiên cứu cho thấy người dân ở
đây rất cần cù chịu khó, họ có kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp. Tuy
nhiên, những năm gần đây do dân số tăng nhanh, thiếu diện tích đất nông
( Nguồn: số liệu của xã Quảng Vinh năm 2010)
22
4.1.2.2. Cơ sở hạ tầng.
- Thực trạng cơ sở hạ tầng của xã hiện nay tương đối đầy đủ, trong
tương lai để có thể phục vụ tốt hơn đời sống sinh hoạt của người dân cũng
như việc phát triển sản xuất thì cần phải bảo vệ cải tạo, mở rộng, nâng cấp,
hoàn chỉnh hệ thống cơ sở hạ tầng hiện có. Yêu cầu phải bố trí đất để phát
triển mở rộng và làm mới một số tuyến đường phục vụ dân sinh, giao lưu
hàng hóa. Các công trình thủy lợi, giao thông, hệ thống kênh mương được xây
dựng mới trong thời gian tới có yêu cầu rất lớn.
- Thực hiện chính sách “ Nhà nước và nhân dân cùng làm”, trên cơ sở
đầu tư hỗ trợ củ cấp trên và huy động nội lực tai chỗ để xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế-xã hội và đã có nhiều chuyển biến tích cực , đưa đến những thay
đổi sâu sắc trong bộ mặt nông thôn. Năm năm qua đã xây dựng và đưa vào sử
dụng các công trình như: đường cây si Sơn Tùng, đê Đông Lâm, trường Tiểu
học số 1, trường Tiểu học số 2, các cụm mẫu giáo bán trú, nhà cộng đồng, các
công trình giao thông nội đồng, cứng hóa kênh mương 3 HTX, có 11 km
đường liên thôn, 10,8 km đường xóm, 14,8 km kênh mương được bê tông;
xây dựng mới 2 trạm bơm điện; có 19,8 km đường giao thông nội đồng được
nâng cấp đổ cấp phối, nâng đầu tư đạt 106.6 tỷ đồng. Đã tiến hành khởi công
xây dựng trung tâm thương mại, dịch vụ, dân cư xã, quy hoạch sử dụng đất
chi tiết, lập bản đồ địa chính. Năm 2010 đã xây dựng các công trình như nhà
công vụ xã, cống đường trang trại, trạm bơm tại Roi, trạm bơm tại Nam
Dương, cống và đường Đông Lâm nối Nguyễn Chí Thanh, đường bụi sứ thôn
Lai Lâm, đường HTX Bắc Vinh, đường thôn Phổ Lại, đường WB2, trường
tiểu học số 2. Tổng mức đầu tư toàn xã hội đạt 26,5 tỷ đồng, tăng 1,6 tỷ đồng
so với năm 2009, trong đó: Vốn ngân sách :16,3 tỷ đồng, nhân dân: 8,9 tỷ
đồng, vốn khác: 1,3 tỷ đồng.
- Cơ cấu đầu tư: Đầu tư hạ tầng phát triển kinh tế: 3,1 tỷ đồng, văn hóa
xã hội: 1,5 tỷ đồng, y tế giáo dục: 1,4 tỷ đồng, dân sinh: 20,5 tỷ đồng.
Mẫu giáo: 387/401 cháu/13 lớp, đạt 96,5% so với kế hoạch.
+ Chất lượng:
- Trung học cơ sở đạt: Giỏi 72 em chiếm 10,1%; Khá 228 em chiếm
29,1%, Trung bình 372 em chiếm 47,5%, Yếu 99 em chiếm 12,6%, Kém 4 em
chiếm 0,5%.
- Tiểu học: Giỏi 281 em chiếm 33,17 %, Khá 277em chiếm 32,7%,
Trung bình 279 em chiếm 32,9%, Yếu 10 em chiếm 1,18%.
24
- Mẫu giáo: Bé khỏe 326 cháu đạt 84,2%, Bé ngoan 368 cháu đạt 95,1%.
Trong năm các trường đã tích cực tham gia các kỳ thi do tỉnh, huyện tổ
chức và đạt nhiều kết quả quan trọng như 2 giải ba, 5 giải khuyến khích giáo
viên dạy giỏi tỉnh, 7 giải học sinh giỏi cấp huyện…
Năm 2010 có 55 em thi đỗ vào Đại học, 53 em vào cao đẳng, 13 em
vào các trường TCCN. Hội khuyến học đã tổ chức phát thưởng nhằm động
viên kịp thời cho những em học sinh đạt kết quả cao trong năm học vừa qua
với số tiền 16,4 triệu đồng.
Trình độ học vấn của người dân không ngừng được nâng cao. Sự chênh
lệch về trình độ văn hóa của người dân không đáng kể, do trong những năm
qua có sự phát triển của phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài, tivi, hệ
thống loa phát thanh của xã, thôn thường xuyên phát sóng các chương trình
văn hóa xã hội, đăc biệt là mùa vụ cây trồng, vật nuôi. Các phương tiện thông
tin đại chúng đã cung cấp các chương trình bổ trợ kiến thức bổ ích và các
chương trình thanh niên lập nghiệp xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu.
Bên cạnh đó tăng cường công tác tập huấn cho người dân các kiến thức về các
lĩnh vực như: kỹ thuật trrồng trọt, chăn nuôi, tuyên truyền kế hoạch hóa gia
đình và phòng chống bênh tật, các chương trình chăm sóc bà mẹ, trẻ em,
phòng chóng cháy nổ, tổ chức hướng nghiệp cho các đoàn viên thanh niên.
Các chương trình này đã tạo ra những phong trào thi đua sôi nỗi trong học
tập, lao động, sản xuất góp phần phát triển kinh tế và đời sống tinh thần của
người dân xã Quảng Vinh.