PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Song vẫn lấy nông
nghiệp làm nền tảng trong phát triển kinh tế. Tại buổi gặp mặt các nhà khoa
học của cả nước ở Hà Nội (1997) nguyên tổng bí thư Đỗ Mười đã yêu cầu các
nhà khoa học rằng: "Nhiệm vụ của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa
đất nước trước hết phải công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông thôn, nông
nghiệp nước ta" [1]. Chính vì vậy, vấn đề đầu tư vào nông nghiệp đóng vai trò
vô cùng quan trọng trong nền kinh tế của nước nhà. Đặc biệt là sau khoán 100
của ban bí thư ra đời và nghị quyết 10 của bộ chính trị (4/1988) đã soi sáng
cho nền nông nghiệp và mở ra những thử thách và cơ hội mới. Tiếp theo với
luật đất đai của nhà nước ban hành, chủ trương giao đất, giao quyền sử dụng
đất lâu dài cho từng hộ nông dân, Nghị quyết của đại hội VIII Đảng Cộng Sản
Việt Nam khẳng định tiếp tục phát triển sản xuất nông nghiệp nông thôn, đưa
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước vì dân giàu nước mạnh, xã hội công
bằng dân chủ văn minh. Các địa phương có chính sách khác nhau để tổng hợp
các nông hộ ở nông thôn có điều kiện phát triển sản xuất nông nghiệp đồng
thời kết hợp việc xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, tạo
điều kiện thuận lợi cho các nông hộ xây dựng và phát triển kinh tế hộ với
nhiều mô hình sản xuất khác nhau. Từ đây đã có những đóng góp đáng kể vào
tổng giá trị sản xuất của ngành nông - lâm - ngư.
Đã tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động nông thôn.
Chính vì vậy việc xây dựng mô hình sản xuất nông, lâm nghiệp là hướng đi
đúng đắn, phù hợp với điều kiện kinh tế hiện nay của đất nước. Trong những
năm gần đây được sự quan tâm của Bộ Nông Nghiệp Phát Triển Nông Thôn,
các chương trình, dự án chính sách đầu tư vào nông nghiệp ngày một tăng lên.
Đã làm thay đổi dần bộ mặt nông thôn Việt Nam, đặc biệt là vùng sâu, vùng
xa, vùng đặc biệt khó khăn. Điển hình với các dự án 135, 327, sind hóa đàn
bò, dự án trồng mía, trồng dứa… Đã làm bộ mặt nông thôn thay đổi từng
ngày từng giờ với những thành quả thu được từ các chương trình, dự án đã hỗ
ảnh hưởng đến chất lượng nông sản và ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế
của các mô hình. Vấn đề đặt ra là phải xác định được thế mạnh để phát huy và
tìm ra mặt hạn chế mà khắc phục, giúp các mô hình sản xuất nông lâm nghiệp
trong toàn xã đem lại hiệu quả cao hơn nữa. Để hiểu rõ hơn về mặt tích cực,
2
về hiệu quả kinh tế cũng như mặt hạn chế của các mô hình nông lâm nghiệp
đã và đang thực hiện trên địa bàn xã Phú Lâm chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: "Đánh giá tác động của một số mô hình sản xuất nông lâm nghiệp
đến thay đổi thu nhập của người dân xã Phú Lâm, huyện Tĩnh Gia, tỉnh
Thanh Hóa".
1.2. Mục tiêu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung
Tìm hiểu và đánh giá tác động của một số mô hình trồng cây ăn quả,
chăn nuôi bò, trồng rừng đến thay đổi thu nhập của người dân xã Phú Lâm -
Tĩnh Gia - Thanh Hóa.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
• Tìm hiểu điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu.
• Tìm hiểu việc thực hiện và đánh giá hiệu quả kinh tế của của các mô
hình: trồng cây ăn quả, chăn nuôi bò, lâm nghiệp trong địa bàn xã Phú Lâm,
huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.
• Tìm hiểu thuận lợi và khó khăn của các mô hình: trồng cây ăn quả,
chăn nuôi bò, lâm nghiệp.
• Đề xuất giải pháp để thực hiện tốt các mô hình trong địa bàn xã Phú
Lâm
• Bài học kinh nghiệm trong thực hiện các mô hình.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Những nghiên cứu về các mô hình sản xuất trong nông nghiệp và phát
triển kinh tế địa phương
hoạch tương đối tốt. Khi đó nếu tính mỗi cây quế cho 5 kg quế, với giá 5000 -
6000 đồng/kg (giá năm 1993) thì hàng năm nông trại anh cho thu hoạch từ
quế là 50 - 60 triệu đồng. Đến nay giá trị thu hoạch đã hơn 100 triệu. Cùng
với quế còn có doanh thu từ nông sản khác chủ yếu là lương thực, thực phẩm
cho chi dùng hàng ngày.
Ở đồng bằng Sông Hồng và một số đồng bằng ở miền Trung, bình quân
ruộng đất rất thấp (mỗi nông hộ chỉ có 0,3 ha đất canh tác). Tuy nhiên cũng
có những hộ có ý chí làm giàu vượt khỏi "cái xiềng" 0,3 ha/hộ để phát triển
mô hình theo hướng chuyên môn hóa. Trong đó có mô hình nông trại của anh
Ngô Văn Kích ở huyện An Hải, Hải Phòng. Anh nhận hợp tác xã 4,8 ha đất
xấu không ai còn quan tâm để đưa vào sản xuất lúa. Anh đầu tư trang thiết bị
công nông, máy bơm, máy xay xát và phát triển chăn nuôi 30 đầu lợn thịt
trong năm. Kết quả hàng năm mô hình của anh có tổng thu 184 triệu đồng.
Đồng bằng Sông Hồng đất chật người đông, nhưng ai có chí lập nghiệp, biết
khai thác các nguồn đất xấu, bùn lầy, cồn bãi… để cải tạo thì chuyện làm giàu
không phải là khó [7].
2.1.2. Mô hình lâm nghiệp
Nước ta với điều kiện tự nhiên diện tích đồi núi chiếm tới 3/4 diện tích cả
nước. Trong những năm gần đây thực hiện theo chủ trương, chính sách và các
dự án giao đất giao rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc của nhà nước và
chương trình PAM, đặc biệt dự án trồng 5 triệu ha rừng ở giai đoạn 1 và giai
đoạn 2 có tên là chương trình 661. Nhiều mô hình lâm nghiệp hình thành độc
lập và lâm trại hình thành trong các lâm trường đã xuất hiện với diện tích lên
đến 2000 ha. Tiêu biểu có mô hình sau:
Mô hình lâm nghiệp của ông Nguyễn Hữu Giảng ở gò đồi Thanh Cao,
Ngọc Thanh, Mê Linh, Vĩnh Phúc. Năm 1989 sau khi được hạt kiểm lâm giao
đất sử dụng theo hợp đồng 30 năm, với phương thức nhà nước cấp 250 kg gạo
cho 1 ha làm lương thực ăn để trồng rừng và quy định người trồng rừng được
hưởng 80 % sản phẩm cây rừng và 100 % sản phẩm dưới tán rừng. Ông đã
đầu tư 60 triệu đồng (có 10 triệu vay ngân hàng) và thuê 20 lao động quy
đất, giao rừng và sự hỗ trợ của huyện về vốn, kỹ thuật, anh quyết định hình
thành trang trại trên đồi. Thực hiện chủ trương lấy ngắn nuôi dài, mấy năm
6
đầu anh trồng chè, cây ăn quả, nuôi cá. Sau đó có vốn mở rộng diện tích trồng
rừng (bồ đề, bạch đàn), trồng quế tạo ra cơ cấu kinh doanh gồm: vườn cây ăn
quả, ao nuôi cá 1,5 ha, chè 2 ha, quế 2 ha, rừng 3 ha, đồng thời còn trồng xen
cây lương thực với cây dài ngày khi chưa khép tán.
Để xây dựng được nông - lâm trại, ngoài lao động gia đình còn phải thuê
từ 12 - 20 lao động, theo dự tính của gia đình nếu mở rộng sản xuất thì phải
thuê 5 lao động thường xuyên trong gia đình. Theo ước tính hàng năm tổng
doanh thu khảng 100 - 150 triệu và trừ chi phí còn 30 - 50 triệu đồng/năm [7].
2.1.5. Mô hình sản xuất nông - lâm - dịch vụ
Nhiều hộ gia đình có lợi thế với các mô hình được xây dựng gần các khu
du lịch sinh thái hay chính mô hình đó là nơi dừng chân của khách du lịch. Từ
đây họ có thể kinh doanh các loại hình dịch vụ, tuy nhiên số lượng này không
nhiều, do chọn được vị trí hợp lý không phải là chuyện dễ dàng.
Mô hình anh Nguyễn Minh Hiến ở Đạo Đức, Vị Xuyên, Hà Giang quy mô
40,5 ha. Khi có chủ trương giao đất, giao rừng, anh nhận 40,5 ha làm lâm trại,
trong đó có 30 ha đất trống đồi trọc để trồng rừng, cây ăn quả và 10,5 ha đất
tự nhiên để tu bổ bảo vệ, trong đó có cả thú rừng như: khỉ, gấu…Thêm vào đó
lâm trại có nhiều cảnh đẹp, giáp quốc lộ, giáp suối Nậm Má, đền thờ "Hai Cô"
nên dịch vụ du lịch được mở ra ở đây. Do đặc điểm tự nhiên, xã hội đó,
phương hướng kinh doanh của mô hình này là nông - lâm - dịch vụ (du lịch).
Trong đó lâm nghiệp gồm có chăm sóc bảo vệ 10,5 ha rừng tự nhiên và cũng
là một nguồn lợi để kinh doanh khai thác sản phẩm phong lan cho thị trường
biên giới Việt Trung. Trồng rừng kinh doanh trên diện tích 25 ha loại cây mỡ
và quế xen nhau. Ngoài ra có thêm 4 ha cây ăn quả và 1 ao cá.
Anh dự định xây dựng khu du lịch sinh thái để phục vụ khách thăm
quan. Để thực hiện phương hướng này, anh đã đầu tự theo hình thức lấy ngắn
nuôi dài và vay ngân hàng 30 triệu đồng trong thời hạn 5 năm.
hướng: vừa phát triển kinh tế hàng hóa vừa phân cực thành nông hộ giàu và
nông hộ nghèo. Nông hộ giàu từng bước phát triển thành những mô hình sản
xuất hành hóa có quy mô kinh doanh hợp lý [7].
8
2.2.2. Vai trò của mô hình sản xuất nông lâm nghiệp
Các mô hình (hay nông trại, lâm trại, ngư trại…) là tế bào của nền
nông nghiệp hàng hóa, là bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống nông
nghiệp, là hình thức doanh nghiệp trực tiếp sản xuất ra nông sản phẩm
nông nghiệp cho toàn xã hội phù hợp với đặc điểm sản xuất nông nghiệp,
với quy luật sinh học và các quy luật sản xuất hàng hóa là đối tượng để tổ
chức lại nền nông nghiệp, đảm bảo thực hiện chiến lược phát triển nền
nông nghiệp hàng hóa thích ứng với sự hoạt động của quy luật. Nó đã và
đang "đánh thức" dậy nhiều vùng đất hoang hóa, đồi núi trọc, sử dụng một
phần sức lao động dư thừa tại chỗ để sản xuất ra nông sản hàng hóa. Nó có
vai trò quan trọng trong việc khôi phục, bảo vệ và phát triển môi trường,
xây dựng và phát triển nông thôn mới.
2.2.3. Đặc trưng chủ yếu của mô hình sản xuất nông lâm nghiệp
Một là chuyên môn hóa, tập trung hóa sản xuất hàng hóa và dịch vụ theo
nhu cầu thị trường có lợi nhuận cao. Đây là đặc trưng cơ bản so với kinh tế
hộ. Trong đó giá trị tổng sản phẩm và sản phẩm hàng hoá là chỉ tiêu trực tiếp
đánh giá về quy mô trang trại nhỏ, vừa, lớn. Quy mô các mô hình này thường
lớn hơn nhiều lần so với kinh tế hộ có tỉ suất nông sản hàng hóa hơn 85%.
Ngoài ra còn có chỉ tiêu gián tiếp như ruộng đất, vốn, lao động. Riêng về quy
mô ruộng đất chẳng những nhiều gấp nhiều lần (tùy theo phương hướng và
kinh doanh) mà còn tập trung, liền vùng, liền khoảnh.
Hai là về thị trường đã sản xuất hàng hóa thì hàng hóa luôn gắn với thị
trường, do đó thị trường cho sản phẩm và mua vật tư là nhân tố có tính chất
quyết định chiến lược phát triển sản xuất sản phẩm hàng hóa cả về số lượng,
chất lượng và hiệu quả kinh tế. Vì vậy trong quản lí, vấn đề tiếp cận thị
trường, tổ chức thông tin thị trường đối với kinh doanh của các mô hình là
0,3 ha/hộ thì chậm hơn nhiều.
Nhìn chung nước ta tùy thuộc vào phương hướng kinh doanh mà có thể
hình thành quy mô mô hình sản xuất, hiện nay từ trên dưới 50 ha, đất canh tác
có thể trên dưới 30, 40, 50 ha hoặc hàng trăm ha nơi gò đồi và đất lâm nghiệp.
Trong đó có mô hình độc lập có thể là mô hình hợp tác hay 2 nhóm nhà kinh
doanh.
10
•Người chủ mô hình sản xuất phải có định hướng (sản xuất sản phẩm gì?
sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? lợi ích ra sao?) và có năng lực tổ chức
sản xuất dịch vụ và quản lí các hoạt động kinh doanh. Có thể chon cho mình
một hướng chuyên môn hóa, sản phẩm đặc trưng riêng cho mô hình của mình.
Có như thế mới cạnh tranh và đem lại hiệu quả kinh tế cao.
•Có thị trường tiêu thụ ổn định: Thực tế trong những năm gần đây thị
trường Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm như tiêu thụ cá
ba sa, cà phê hay mùa trái cây năm 2007 làm người dân không hết bàng hoàng
khi tìm nơi tiêu thụ sản phẩm.
•Có vốn: Phải tạo ra một lượng vốn tương ứng với yêu cầu mở rộng
kinh doanh bằng nhiều cách khác nhau và nhiều nguồn. Đây là nguồn lực mà
hầu hết các hộ làm ăn lớn đều thiếu thốn.
•Về kĩ thuật: Có khả năng trang bị và áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật
từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao.
2.3. Nghiên cứu về tác động của việc thực hiện các mô hình sản xuất nông,
lâm nghiệp
Tác động là một quá trình làm thay đổi một hoặc một số yếu tố của một
bối cảnh nào đó. Sự tác động này xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân như các
yếu tố tự nhiên (thời tiết, khí hậu ) hoặc do con người tạo ra (thực hiện các
chương trình, dự án, chính sách…) tại một địa phương nào đó. Tác động có
nhiều loại khác nhau tùy theo khía cạnh xem xét của nhà nghiên cứu [3].
• Xét theo chiều hướng tác động có 2 loại:
Tác động tích cực: Loại tác động này theo ý muốn chủ quan của con
một lại tác động quan trọng và luôn đi kèm với tác động trực tiếp.
• Xét theo các yếu tố bị ảnh hưởng tác động được chia làm 3 loại tác
động sau:
Tác động kinh tế: Là loại tác động làm thay đổi các kết quả hoạt động
kinh tế của con người. Sự tác động này có thể xảy ra chiều hướng tích cực
hoặc tiêu cực. Tác động tiêu cực về kinh tế thường do sự tác động tự nhiên
(thiên tai, hạn hán…) tác động tích cực về kinh tế thường do con người tạo ra
(thực hiện các dự án phát triển, dự án kinh tế…)
12
Tác động xã hội: Là tác động làm thay đổi các yếu tố văn hóa xã hội như
y tế, giáo dục, đạo đức, nếp sống… Sự tác động xã hội thường do con người
tạo ra và nó có thể xảy ra theo 2 chiều hướng tích cực và tiêu cực.
Tác động môi trường: Là tác động gây thay đổi các yếu tố thuộc về môi
trường như không khí, nguồn nước, đất đai, tầng ozon… Tác động về môi
trường ngày nay rất được thế giới quan tâm và đang cố gắng đưa nó theo
chiều hướng có lợi.
Đối với một chương trình phát triển cộng đồng, tác động được xem xét
theo 2 khía cạnh chiều hướng và các yếu tố ảnh hưởng và chỉ thành công khi
nó tác động đến cả 3 khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường theo chiều hướng
có lợi [3].
Đánh giá tác động là một phương pháp đo lường kết quả của một chương
trình trên cơ sở tách biệt các nhân tố. Phương pháp đo lường trong đánh giá
tác động bao gồm các phép đo định lượng, định tính và so sánh. Trong đó
phương pháp so sánh được sử dụng nhiều và tỏ ra hiệu quả nhất. Các phép so
sánh thường dùng trong đánh giá tác động là:
So sánh vùng bị và vùng không bị tác động: Phương pháp này dùng khi
các lưu trữ ban đầu của một chương trình không còn tác dụng các phương
pháp khác không thực hiện được.
So sánh trước và sau khi bị tác động. Đây là phương pháp cơ bản trong
đánh giá, thực chất là xem xét những tác động mà chương trình đã taọ ra sau
động nông nghiệp chỉ nuôi được 4 - 5 người. Dù Việt Nam vẫn thuộc vào
nước đang phát triển nhưng có rất nhiều tiềm năng cho phát triển các mô hình
nông lâm nghiệp [10,8 - 10].
2.5. Tình hình phát triển các mô hình sản xuất nông lâm nghiệp ở Việt Nam
Các mô hình nông lâm nghiệp ở Việt Nam có từ lâu đời, về hình thức
và mức độ khác nhau, được hình thành và phát triển nhất ở thời gian gần
đây. Nó đóng một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt các
hộ gia đình sản xuất cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu như cà phê, cao
su, hồ tiêu…, nhờ vào hoạt động kinh tế này mà nước ta đã xuất khẩu nhiều
loại nông sản hàng hóa, đóng góp lớn cho công cuộc xây dựng đất nước,
mấy năm gần đây đã xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới, xuất khẩu cà
phê, cao su thu về ngoại tệ cho đất nước. Ngoài ra còn cung cấp nguyên vật
14
liệu cho công nghiệp chế biến, tạo công ăn việc làm và xóa đói giảm
nghèo, thực hiện công bằng xã hội ở nông thôn và bảo vệ môi trường sinh
thái. (Đào Thế Tuấn, 1995) [10].
Đổi mới và tốc độ, quy mô phát triển mô hình nông lâm nghiệp trong
kinh tế thị trường nước ta. Để đổi mới kinh tế, đại hội VI 12/1986: Đảng ta
chỉ ra, trong thời kì qua độ ở nước ta phải là "nền kinh tế có cơ cấu nhiều
thành phần” và tiếp đến (4/1989) trong nông nghiệp có nghị quyết 6 (khoá
VI) năm 1989 Đảng ta đã chỉ ra rằng "gia đình xã viên trở thành những đơn vị
kinh tế tự chủ", đồng thời, luật doanh nghiệp tư nhân cũng được công bố
3/1/1991. Đó chính là những cơ sở để hệ thống mô hình sản xuất nông lâm
nghiệp phát triển với quy mô ngày càng cao hơn.
Thực tế, từ năm 1989 đến nay, ai tới Nam Bộ, huyện Mộc Hóa (thuộc
vùng Đồng Tháp Mười) hoặc đến các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long, Tây
Nguyên, đồng bằng Bắc Bộ, sẽ thấy ở đó hình thành hàng loạt mô hình sản
xuất. Các mô hình này chuyên môn sản xuất lúa, mía, cà phê, cao su, cây ăn
quả… và chăn nuôi các loại gia cầm, gia súc. Quy mô diện tích đất kinh
doanh từ 5 - 10 - 20 ha, thậm chí lên đến hàng trăm, hàng nghìn ha. Đặc biệt
Bình Phước, Bình Dương… đã phát triển rất mạnh, hiện nay Yên Bái vẫn là
tỉnh có nhiều mô hình trang trại nhất cả nước. Nhưng theo kết quả điều tra thì
giá trị tổng sản phẩm thấp (33,25 triệu đồng/mô hình trang trại). Có tình hình
đó là do Yên Bái cũng như một số tỉnh khác do hiện nay chưa có sự thống
nhất tiêu chí phân định ranh giới rõ ràng giữa kinh tế hộ gia đình và kinh tế
mô hình trang trại [7].
Phú Lâm một vùng có nhiều tiềm năng cho việc thực hiện các mô hình
sản xuất nông lâm nghiệp nếu phát huy được thế mạnh này chắc chắn sẽ làm
thay đổi cuộc sống của người dân nơi đây rất nhiều. Tuy nhiên trước mắt
đang gặp rất nhiều khó khăn về trình độ dân trí, về khoa học kỹ thuật, về thị
trường đầu ra cho sản phẩm… Để hiểu rõ về các mô hình sản xuất và những
tác động đến thu nhập của người dân địa phương, chúng tôi đã tiến hành đề
tài góp phần đánh giá các mô hình sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn và
đề xuất được giải pháp thích hợp, nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống
cho người dân.
2.6. Quan điểm định hướng và phương hướng phát triển mô hình sản xuất
nông lâm nghiệp ở xã Phú Lâm trong những năm tới.
16
+ Quan điểm định hướng: Căn cứ vào vai trò của kinh tế hộ gia đình, thực
trạng tiềm năng của vùng, căn cứ vào nội dung đường lối, nghị quyết của
đảng về mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa, của kinh tế cả nước nói
chung, tỉnh Thanh Hóa và huyện Tĩnh Gia, trước hết là công nghiệp hóa hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn, để phát triển mô hình sản xuất ở xã Phú Lâm
trong những năm trước mắt cần phải quán triệt các quan điểm sau:
- Coi phát triển mô hình sản xuất nông lâm nghiệp là động lực thúc đẩy
phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa hiện
đại hóa.
Tại Nghị quyết 15 hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương Đảng khóa IX
ghi rõ: "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công
thôn là quá trình diễn ra phức tạp, lâu dài từ cơ cấu kinh tế nông nghiệp chiếm
ưu thế sang phát triển công nghiệp và dịch vụ, nhằm mang lại hiệu quả kinh tế
xã hội cao hơn, thúc đẩy sự hình thành và phát triển thị trường hàng hóa, thị
trường vốn và thị trường lao động. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là con đường
tất yếu phát triển một cách toàn diện kinh tế nông thôn trong đó phát triển các
mô hình có ý nghĩa quan trọng. Trong những qua hình thức sản xuất nhỏ lẻ đã
giảm dần do tác động tích cực của mô hình sản xuất nông lâm nghiệp hình
thức đầu tư thâm canh theo chiều sâu làm cho năng suất cây trồng tăng lên,
phát triển các mô hình làm quá trình phân công lao động trong các hộ gia đình
thay đổi không còn lao động dư thừa mà chuyển sang lĩnh vực công nghiệp và
dịch vụ, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
nông thôn theo hướng CNH, HĐH.
- Đa dạng hóa các mô hình phù hợp với từng điều kiện tự nhiên kinh tế xã
hội, nhằm khai thác những thế mạnh lợi thế của từng vùng.
Một thực tế các vùng sinh thái nhỏ khác nhau cũng có những lợi thế khác
nhau về đất đai, địa hình tạo nên. Mỗi vùng phù hợp với từng loại cây
trồng,vật nuôi khác nhau ở mỗi xã, mỗi thôn. Việc bố trí các mô hình phù hợp
với từng vùng cụ thể khác nhau của xã giúp cho các hộ tham gia khai thác đất
đai và các nguồn lực khác một cách hiệu quả. Sự đa dang các mô hình không
có nghĩa là phát triển tự phát mà là phải có quy hoạch, kế hoạch để có sản
phẩm đặc trưng của vùng.
18
- Lồng ghép phát triển với việc thực hiện các chương trình dự án từng
địa phương. Để giảm sự phân hóa giữa các vùng thì nhà nước cần có sự đầu
tư để điều hòa lợi ích giữa các vùng. Các chương trình, dự án trong những
năm qua đã có tác dụng to lớn trong việc thực hiện các mục tiêu phấn đấu
của Đảng và nhà nước ta như chương trình 327, 135, 661. Tuy nhiên, thực tế
ở các địa phương chưa thực sự có sự lồng ghép giữa các chương trình các dự
án nói trên với việc phát triển kinh tế ở từng vùng cụ thể, đầu tư có tính dàn
trải chia đều, chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trong những năm tới cần
Gia - Thanh Hóa.
- Phạm vi không gian: đề tài được thực hiện tại 6 thôn của xã Phú Lâm.
- Phạm vi thời gian: Từ ngày2/1/2008 - 2/5/2008.
3.2. Nội dung nghiên cứu
• Tìm hiểu những điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến hoạt
động của các mô hình trồng cây ăn quả, chăn nuôi bò, trồng rừng và
phát triển kinh tế tại xã Phú Lâm.
• Nghiên cứu tình hình thực hiện của các mô hình trồng cây ăn quả, chăn
nuôi bò, trồng rừng của các hộ gia đình.
• Tìm hiểu thuận lợi và khó khăn trong thực hiện mô hình.
• Đưa ra giải pháp và đề xuất để đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho
các mô hình.
• Tìm hiểu để đưa ra bài học kinh nghiệm khi thực hiện các mô hình.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Chọn điểm, chọn mẫu
20
• Chọn điểm:
+ Xã Phú Lâm, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa là địa bàn có nhiều tiềm
năng cho phát triển các mô hình sản xuất nông lâm nghiệp. Song nhìn xa và
thực tế còn nhiều yếu tố hạn chế làm giảm hiệu quả kinh tế của các mô hình
để tìm ra hướng đi đúng đắn nhất và tìm hiểu về mặt thuận lợi cũng như mặt
chưa đạt được trong thực hiện các mô hình thì Phú lâm là địa bàn phù hợp để
tiến hành đề tài.
+ Đề tài thực hiện trên 6 thôn những nơi có điều kiện để các hộ thực
hiện mô hình.
• Chọn mẫu:
+ Tiêu chí chọn hộ: Các hộ tham gia vào 1 trong 3 mô hình hoặc có cả 3
mô hình (trồng cây ăn quả, trồng rừng, chăn nuôi bò). Có cả hộ trung bình và
hộ khá.
+ Dung lượng mẫu: 42 hộ chia đều 6 thôn
Đây là tuyến đường quan trọng nhằm thúc đẩy tiềm năng ngành công nghiệp
của huyện trong tương lai nói chung và xã Phú Lâm nói riêng.
Phú Lâm có ranh giới với các đơn vị hành chính như sau:
- Phía Đông giáp xã Trúc Lâm
- Phía Tây giáp xã Phú Sơn (xã có nhiều diện tích đồi núi)
- Phía Nam giáp xã Tùng Lâm
- Phía Bắc giáp xã Nguyên Bình
Là một xã nằm cách xa khu trung tâm huyện 12 km, cộng với tuyến
đường xuống cấp trầm trọng đây cũng là khó khăn trong việc lưu thông, giao
lưu và phát triển kinh tế xã nhà. Đặc biệt là trong việc tiếp nhận khoa học kỹ
thuật, giống mới cho người dân tham gia sản xuất nông nghiệp.
4.1.1.2. Đặc điểm địa hình, đất đai
+ Địa hình, đất đai: Phú Lâm một xã miền núi thuộc vùng bán sơn địa,
với tổng diện tích đất tự nhiên là 2095,39 ha, bốn bên là núi bao bọc, với diện
22
tích đồi núi là 1229 ha. Thông qua quốc lộ 1A nối liền với đường kinh tế Nghi
Sơn chạy dài trên địa bàn toàn xã 7 km, địa hình khá phức tạp, không bằng
phẳng, đất dễ bị rửa trôi và xói mòn. Nên việc sản xuất nông nghiệp ở đây gặp
nhiều khó khăn nhất là việc cải tạo lại đất gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên do
địa hình nhiều đồi núi khá lớn nên thuận lợi cho nhiều hoạt động sản xuất như
chăn thả trâu bò, trồng rừng, trồng cây ăn quả.
• Thành phần cơ giới của đất rất đa dạng chủng loại bao gồm:
+ Đất đỏ vàng: Nằm chủ yếu ở các đồi núi và các chân đồi có độ dốc trên
14 độ, phù hợp cho trồng cây bạch đàn.
+ Đất thịt pha cát: Tập trung nơi khu dân cư thuận lợi cho trồng rau màu.
+ Đất cát nằm ở chân ruộng màu thuận lợi cho trồng lạc, ngô, khoai, sắn.
• Đất thịt nằm ở chân ruộng lúa, diện tích đất này thường gần các đập
nước nên nhiều dinh dưỡng.
Bảng 1: Tình hình sử dụng đất của xã Phú Lâm năm 2007
Hạng mục Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
sống hộ nói riêng và xã nói chung. Theo nguồn số liệu của xã thu nhập từ
trồng trọt chiếm 37 % do hình thức làm ăn tự phát bây giờ đã chuyển sang mô
hình làm ăn lớn nên hiệu quả kinh tế mang lại cao hơn, nhiều hộ được cấp
giấy chứng nhận trang trại hoặc là hội viên hội làm vườn Việt Nam. Đất nuôi
trồng thủy sản là 3,96 ha chiếm diện tích rất nhỏ. Thực vậy Phú Lâm là xã
miền núi nên không có diện tích nước mặn như mấy xã gần biển, thêm vào đó
nuôi trồng thủy sản vẫn chưa phát triển, người dân chưa đầu tư vào hoạt động
nuôi trồng hoặc có ra chỉ là đấu thầu những hồ đập lớn của xã. Vì vậy chính
quyền cần tu bổ và hoàn thiện lại hệ thống đê kè để người dân có thể yên tâm
tin tưởng vào việc đấu thầu của mình nhằm phát huy được hết tiền năng của
đất nuôi trồng thủy sản nói riêng và đất sản xuất nói chung.
4.1.1.3. Đặc điểm khí hậu thời tiết
24
Theo số liệu dự báo của trung tâm khí tượng thủy văn Thanh Hóa đây là
vùng nóng ẩm, mưa nhiều, chịu ảnh hưởng của khí hậu trung du, cụ thể như
sau:
- Nhiệt độ: Tổng nhiệt độ trong năm là 8400 - 8500
0
C, nhiệt độ bình
quân 23 - 25
0
c, nhiệt độ thấp nhất 5
0
c ( đợt rét đầu năm 2008
) đã làm tổn hại
diện tích lớn lạc và lúa, gây khó khăn cho nhiều gia đình không còn giống để
gieo, trồng.
Biên độ nhiệt độ năm 11 - 12
0