1
I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM
CHU TH Hễ
Tờn ti:
Đánh giá tác động của ngời dân xã Bản Thi tới tài nguyên rừng
và đề xuất biện pháp bảo tồn tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh
Nam Xuân Lạc - huyện Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn khóa luận tốt nghiệp đại học
H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : Nụng lõm kt hp
Khoa : Lõm nghip
Khoỏ hc : 2010-2014 Thỏi Nguyờn, nm 2014
3
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một trong những giai đoạn rất quan trọng và cần
thiết của mỗi sinh viên trong quá trình học tập nhằm củng cố lại kiến thức lý
thuyết đã học, vận dụng nó vào thực tiễn sản xuất. Qua đó giúp cho mỗi sinh
viên có được một phương pháp nghiên cứu khoa học trước khi ra trường
nhằm đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của công việc sau này.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất trí của Ban chủ
nhiệm khoa Lâm nghiệp, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên tôi tiến
hành thực hiện khóa luận: “Đánh giá tác động của người dân xã Bản Thi tới
tài nguyên rừng và đề xuất biện pháp bảo tồn tại khu bảo tồn loài và sinh
cảnh Nam Xuân Lạc - huyện Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn”.
Sau một thời gian làm việc nghiêm túc đến nay, khóa luận của tôi đã
hoàn thành. Nhân dịp này, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo
trong khoa Lâm nghiệp - những người đã trang bị cho chúng tôi hành trang
kiến thức cơ bản về chuyên môn Nông lâm kết hợp, đặc biệt là thầy giáo Th.S
Nguyễn Việt Hưng và thầy giáo Th.S La Quang Độ - người đã tận tình chỉ
dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành bài khóa luận này. Đồng thời tôi xin chân thành
cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của cán bộ kiểm lâm của khu bảo tồn loài và sinh
cảnh Nam Xuân Lạc - tỉnh Bắc Kạn, cán bộ và nhân dân xã Bản Thi đã giúp
đỡ tôi hoàn thành khóa luận.
Do trình độ chuyên môn còn hạn chế và thời gian có hạn nên bài luận
văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Vậy tôi kính mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo trong khoa cùng toàn thể các
bạn sinh viên để khóa luận này hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
ThS.Nguyễn Văn Mạn
5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 1. ĐDSH : Đa dạng sinh học
2. KBT : Khu bảo tồn
3. VQT : Vườn quốc gia
4. KBTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên
5. LSNG : Lâm sản ngoài gỗ
6. KNXTTS : Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh
7. NLKH : Nông lâm kết hợp
6
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1. Dân số xã Bản Thi năm 2014 13
Bảng 4.1. Thống kê độ tuổi lao động ảnh hưởng đến khai thác tài nguyên rừng 23
Bảng 4.2. Tình hình khai thác và sử dụng cây gỗ 27
Bảng 4.3. Tình hình săn bắt động vật 29
Bảng 4.4. Danh lục một số loài cây thường được dùng làm củi 30
Bảng 4.5. Các loài cây được sử dụng làm thức ăn cho người và gia súc 33
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 2
1.3. Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4. Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1. Trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2. Trong thực tiễn sản xuất 3
Phần 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 4
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 7
2.3. Điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế của khu vực nghiên cứu 10
2.3.1. Điều kiện tự nhiên 10
2.3.2. Điều kiện dân sinh kinh tế - xã hội 13
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
4.3. Các nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng suy giảm tài nguyên rừng
Khu bảo tồn 37
4.4. Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực của
người dân và phát huy những tác động tích cực 39
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
5.1. Kết luận 43
5.2. Kiến nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45 1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng tự nhiên là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của cả
nước. Nó không chỉ góp phần đáp ứng nhu cầu về gỗ và các loại lâm đặc sản
khác mà còn có tác dụng phòng hộ, điều hoà không khí, bảo vệ môi trường,
điều hòa dòng chảy hạn chế tối đa tình trạng xói mòn và rửa trôi. Rừng có
được những chức năng đó là nhờ có đa dạng sinh học (ĐDSH). Thuật ngữ
ĐDSH được dùng để chỉ sự phong phú và đa dạng của giới sinh vật từ mọi
nguồn trên trái đất, nó bao gồm sự đa dạng trong cùng một loài, giữa các loài và
sự đa dạng hệ sinh thái (Hồ Ngọc Sơn, 2004) [9]. Đây cũng là nơi sinh sống của
đồng bào các dân tộc thiểu số với nguồn lợi sinh kế phụ thuộc trực tiếp vào tài
nguyên thiên nhiên trong đó chủ yếu là tài nguyên rừng và đất rừng. Trong
trong vùng lõi với 36 nhân khẩu. Về tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh
học: có khoảng 373 loài động vật, trong đó có 20 loài quý hiếm, hệ thực vật
khá phong phú gồm 515 loài thực vật bậc cao, trong đó có 30 loài quý hiếm
được ghi trong sách đỏ Việt Nam.
Có những loài tưởng như đã tuyệt chủng
trong vòng 25 năm qua như vạc hoa lại được phát hiện xuất hiện tại khu bảo
tồn này
.
Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc đã có người dân sinh
sống trong vùng lõi từ trước khi thành lập. Đời sống các hộ dân trong khu vực
còn nhiều khó khăn, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ hộ nghèo cao,
nhận thức và điều kiện canh tác còn lạc hậu, diện tích canh tác ít, thậm chí
không có đất ruộng để canh tác nên phụ thuộc nhiều vào việc khai thác
khoáng sản, lâm sản và săn bắt động vật hoang dã. Trong thời gian qua người
dân đã có những tác động không nhỏ đến tài nguyên rừng của Khu bảo tồn
loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc.
Xuất phát từ thực tiễn trên tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Đánh
giá tác động của người dân xã Bản Thi tới tài nguyên rừng và đề xuất các
biện pháp bảo tồn tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc -
Huyện Chợ Đồn - Tỉnh Bắc Kạn”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá những tác động của người dân xã Bản Thi đến tài nguyên
rừng tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc - huyện Chợ Đồn - tỉnh
3
Bắc Kạn từ đó đề xuất các biện pháp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực và
phát huy các tác động tích cực của người dân đến tài nguyên rừng.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được những tác động tích cực của người dân tới tài nguyên
rừng của khu bảo tồn.
người và rừng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình phát triển.
Đặc biệt sự tác động của con người có ý nghĩa to lớn quyết định tới rừng. Để
đánh giá đúng đắn vấn đề, người ta đã tiến hành nhiều cuộc nghiên cứu điều
tra trên nhiều góc độ về sự ảnh hưởng của con người tới các khu rừng ở nhiều
nơi trên thế giới.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo đánh giá tài nguyên rừng do FAO thực hiện (FRA) diện tích rừng thế
giới hiện nay có khoảng gần 4 tỷ hecta, chiếm 30% tổng diện tích đất trên hành
tinh. Tuy nhiên, diện tích rừng đang tiếp tục suy giảm nghiêm trọng với diện tích
rừng bị mất, trong thời kỳ 2006-2010, trung bình một năm là 13 triệu ha (FAO).
Bên diện tích bị mất, rừng thế giới cũng đang đối mặt với những thách thức khác
bao gồm đa dạng sinh học trở nên nghèo nàn, năng suất rừng thấp hơn, khả năng
thực hiện chức năng phòng hộ và đóng góp vào phát triển kinh tế , xã hội kém
hơn. Do vậy, bảo vệ và phát triển rừng cho hiện tại và các thế hệ tương lai thông
qua tìm kiếm và áp dụng các giải pháp nhằm quản lý rừng bền vững, trong đó có
chứng chỉ rừng, luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của tất cả các tổ chức
Chính phủ và phi Chính Phủ trên toàn thế giới. Để bảo vệ diện tích và chất lượng
của rừng con người đã chú trọng ngày càng nhiều tới việc quản lý rừng bền
vững. Nỗ lực đầu tiên về quản lý rừng bền vững, gắn liền với chứng chỉ, được
thực hiện là thành lập Hệ thống Rừng Trang trại Hoa kỳ (American tree Farm
System - ATFS) năm 1941, tiếp đó là Hội đồng Quản trị Rừng (Forest
Stewardship Council - FSC) năm 1993, Lembaga Ekolabel Indonesia (LEI) Forest
Certification Schemes - PEFC) năm 1999 và Hệ thống chứng chỉ gỗ Malaysia
MTCS (Malaysian Timber Certification Scheme - MTCS) năm 2001. Cho đến
5
cuối năm 2011, tổng diện tích rừng được quản lý bền vững, được cấp chứng chỉ
theo các bộ tiêu chuẩn khác nhau là 401.418.552 ha, tương đương 10% tổng diện
tích rừng toàn cầu [16].
Nghiên cứu của Liên hợp quốc (LHQ) công bố ngày 05/10/2010 được
2
rừng, lớn hơn diện tích nước Mông Cổ. Cũng trong thời gian đó
đã hình thành 800.000 km
2
rừng mới trồng. Brazil đã thành công trong việc
bảo vệ rừng. Trong khi từ 2003 đến 2004, nước này đã phá khoảng 40.000
km
2
rừng thì tới 2010 và 2011, mức độ triệt hạ rừng đã giảm một nửa.Tại
Indonesia tỷ lệ rừng bị triệt hạ tăng. Từ 2011 đến 2012 đã biến mất gần
20.000 km
2
rừng mưa nhiệt đới - tăng trên gấp đôi so với thời kỳ bắt đầu tiến
hành quan sát. Bất chấp một lệnh cấm của chính phủ ban hành năm 2011,
những tháng sau đó việc triệt hạ rừng đã diễn ra mạnh mẽ hơn. Sự mất mát
rừng ngày càng tăng còn diễn ra ở Malaysia, Paraguay, Bolivia, Sambia và
Angola. 32% diện tích rằng bị giảm trên toàn thế giới là rừng nhiệt đới.Trong
khoảng thời gian từ năm 2000-2012, ở vùng đông nam Mỹ đã khai thác 31%
diện tích rừng đồng thời song song là việc trồng lại rừng. Điều này phản ánh
việc thâm canh rừng ở Mỹ. Diện tích rừng ở vùng ôn đới chỉ giảm nhẹ, ở đây
cũng có nhiều diện tích trồng mới rừng. Tại Đức trong khoảng thời gian từ
năm 2000-2012, theo nghiên cứu này, đã có 4.980 km
2
rừng bị biến mất,
trong khi diện tích trồng mới là 2585 km
2
[18].
Các công ước quốc tế đã được ký kết nhằm mục đích bảo vệ tài nguyên
rừng và bảo tồn đa dạng sinh học như: công ước Cites 1973, IUCN
(International Union for Conservation of Nature and Natural Resources) - liên
dài trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, hầu hết các hệ sinh thái tự nhiên quan
trọng có các loài đặc hữu, nguy cấp, quý hiếm đã được bảo tồn và nằm trong
rừng đặc dụng.
Quan điểm về bảo tồn hiện nay còn nhiều bất cập: Bảo tồn không có
nghĩa là bảo vệ và duy trì tự nhiên của loài, quan điểm này bị bó hẹp, sớm
muộn loài sẽ bị tuyệt chủng; cần phải có cái nhìn tích cực hơn: Bảo tồn bao
gồm bảo vệ, sử dụng hợp lý và sử dụng biện pháp kỹ thuật phù hợp ví dụ như
Pơ mu tái sinh chỉ gặp ở nơi có độ tàn che phù hợp - có ánh sáng (cần phải
xúc tiến tái sinh) [14].
Ở Việt Nam, có sự liên quan chặt chẽ giữa vị trí của các khu bảo tồn và
vấn đề nghèo đói. Điều này không có nghĩa là ở đây có mối quan hệ nhân quả
giữa việc sống gần các khu bảo tồn và nghèo đói. Tình trạng nghèo đói của
người dân sống trong và xung quanh các khu bảo tồn là một thực tế của các
8
vùng xa xôi hẻo lánh, thường có diện tích đất canh tác hạn hẹp và ít có cơ hội
tiếp cận với thị trường [3].
Nhiều khu bảo tồn của Việt Nam là nơi sinh sống của các dân tộc ít
người. Ở Việt Nam, các dân tộc ít người chiếm khoảng 14% dân số cả nước
và tình trạng nghèo đói của họ cũng chủ yếu do các nguyên nhân như thuộc
vùng sâu, vùng xa, thiếu thị trường và diện tích canh tác. Vì vậy, các cộng
đồng này thường phụ thuộc nhiều vào các nguồn tài nguyên còn lại trong các
khu bảo tồn [3].
Nguyễn Thị Thoa và cs (2010) [7], khi đánh giá những tác động tiêu
cực của người dân xã Vũ Chấn tới tài nguyên rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên
Thần Sa - phượng hoàng, tỉnh Thái Nguyên thấy rằng do đời sống nhân dân
còn gặp nhiều khó khăn, thu nhập thấp, nên tình trạng xâm hại tài nguyên
rừng hiện nay vẫn còn xảy ra. Các tác động chính là: tự do vào rừng khai thác
gỗ về làm nhà cửa, chuồng trại, khai thác củi đun; xẻ gỗ quý hiếm đem bán,
đốt rừng làm nương rẫy, các loại lâm sản ngoài gỗ khác như: cây thuốc, săn
bắt động vật, lấy măng, lấy rau trong đó hoạt động khai thác và vận chuyển
nhiều loài động vật quý hiếm, ngoài ra khu vực này còn có vai trò là cầu
nối (hành lang) đi lại của các loài động vật từ Vườn Quốc gia Ba Bể sang
Khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang và ngược lại. Từ kết quả điều tra nghiên
cứu của Tổ chức Birdlife năm 2000 đã phát hiện được ở Nam Xuân Lạc có
283 loài động vật có xương sống trong đó (động vật có vú 26 loài, chim
198 loài, bò sát 32 loài, lưỡng cư 21 loài) và có 242 loài bướm. Đặc biệt
còn có 11 loài động vật quý hiếm có nguy cơ bị đe dọa cao và được ghi vào
trong sách đỏ Việt Nam như Voọc đen má trắng, Voọc mũi hếch, Cu li lớn,
Gấu ngựa, Gấu chó, Hổ, Cày vằn, Sơn dương…
Bên cạnh sự đa dạng phong phú về các loài động, thực vật Khu bảo
tồn loài sinh cảnh Nam Xuân Lạc là thượng nguồn của một số con suối lớn
cung cấp nước sinh hoạt, phục vụ nông nghiệp cho người dân ở khu vực.
Ngoài ra trong khu bảo tồn Nam Xuân Lạc còn có các tuyến đường do
Pháp xây dựng từ đầu thế kỷ 20 đi từ xã Bản Thi đi Xuân Lạc rất thuận lợi
cho việc phát triển du lịch sinh thái nếu được đầu tư sẽ tạo thêm công ăn
việc làm cho người dân địa phương.
Hiện nay các ảnh hưởng lớn đến khu bảo tồn là do tình trạng khai thác
gỗ, săn bắn, bẫy bắt các loài động vật hoang dã trái phép làm mất mát các loài
10
động thực vật quan trọng. Các mối đe dọa do Ban quản lý chỉ ra đã được ghi
lại trong (Bản Đánh giá nhu cầu bảo tồn 1.2).
Những vấn đề xã hội: Một số hộ dân sống ở trong Khu bảo tồn chủ yếu là
đồng bào dân tộc thiểu số Dao, Nùng, Tày và H’Mông. Ngoài ra còn có các hộ
dân đang sống tại các vùng giáp ranh với khu bảo tồn. Các mối đe dọa bắt nguồn
từ các hộ dân cư đang sinh sống trong và xung quanh khu bảo tồn cuộc sống của
họ còn gặp nhiều khó khăn, phụ thuộc nhiều vào việc khai thác tài nguyên thiên
nhiên như lấy củi, lấy gỗ làm nhà, chăn nuôi gia súc, và một số lâm sản phụ khác
Nhận thức của người dân sống ở trong và xung quanh khu bảo tồn về
quản lý bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học còn rất hạn chế, do nhiều
nguyên nhân những trong đó có các nguyên nhân cơ bản là kỹ năng tuyên
thường xảy ra hạn hán mùa mưa dễ gây lũ quét, sạt lở đất. Xã có tuyến đường
liên xã chạy qua, mặt đường đã xuống cấp nên rất khó khăn cho việc đi lại và
phát triển kinh tế, dân cư thưa thớt, không có thung lũng phù sa rộng, phát
triển nông nghiệp khó khăn.
2.3.1.3. Điều kiện khí hậu
Xã Bản Thi có những nét đặc trưng của khí hậu miền núi bắc bộ, khí
hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa đông khô và lạnh, mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều.
Nhiệt độ trung bình năm là 21,2
o
C, nhiệt độ trung bình các tháng cao nhất:
28
o
C÷29
o
C trong các tháng 6 và tháng 7. Các tháng lạnh nhất trong mùa đông
là tháng 1 và tháng 2 nhiệt độ trung bình 16,1
o
C, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối
có thể xuống (-2
o
C).
Lượng mưa trung bình năm: 1700mm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10,
lượng mưa chiếm 75 - 80% lượng mưa cả năm, tập trung vào các tháng 7 và
tháng 8, số ngày mưa trong năm vào khoảng: 150 - 179 ngày/năm. Độ ẩm trung
bình năm: 82 - 87%, lượng bốc hơi trung bình hằng năm là 750 - 800mm.
Hướng gió chính là gió mùa Đông bắc kèm theo không khí khô và lạnh,
mùa hạ có gió mùa Tây nam. Do địa hình bị chia cắt và bị che chắn bởi các
dãy núi tạo nên các hướng gió tiểu vùng dọc theo các khe suối.
Thời tiết trên địa bàn xã Bản Thi đôi khi có những trận gió lốc, hiên
tượng sương mù cũng thường xuyên xảy ra làm ảnh hưởng đến đời sống và
2.3.2. Điều kiện dân sinh kinh tế - xã hội
2.3.2.1 Tình hình dân số, dân tộc
Tính đến hết tháng 12/2013 toàn xã có tổng số dân là 1902 nhân khẩu
với 505 hộ dân trong đó 960 Nam và 939 Nữ, gồm có 8 thôn bản.
Bảng 2.1. Dân số xã Bản Thi năm 2014
TT
Dân tộc
Số hộ Số nhân khẩu
Ghi chú
Số lượng
(hộ)
Tỉ lệ
(%)
Số lượng
(khẩu)
Tỉ lệ
(%)
1 Kinh 196 38,8% 642 33,6%
2 Tày 113 22,3% 417 21,8%
3 Nùng 43 8,5% 157 8,2%
4 Dao 114 22,5% 547 28,6%
5 Hoa 37 7,3% 135 7,1%
6 H’Mông 2 0,4% 11 0,6%
7 Sán chỉ 1 0,2% 1 0,05%
8 Mường 0 0% 1 0,05%
Tổng
506 100% 1911 100%
chủ rừng 13 hồ sơ trong đó: gỗ tận dụng sau xử lý thực bì trồng rừng 6 hồ sơ bằng
56,091 m
3
; gỗ xoan vườn 4 hồ sơ bằng 84,2 m
3
; lâm sản phụ 4 hồ sơ bằng 167 m
3
,
phát động tết trồng cây xuân Quý Tỵ được 150 cây các loại.
Diện tích đăng ký trồng rừng theo dự án 147 của các thôn trên địa bàn
xã trong năm 2013 như sau: Tổng diện tích thiết kế là 59,89 ha, tổng diện tích
đã trồng được 57,24 ha trong đó diện tích trồng theo dự án là 45,45 ha (Cây
Mỡ 43,27 ha, cây Keo 2,18 ha), diện tích dân trồng theo dự án nhưng không
nằm trong hồ sơ thiết kế 11,3 ha, diện tích dân tự bỏ vốn trồng 0,5 ha (cây
Mỡ), diện tích thiết kế nhưng không thực hiện được 14,44 ha (11 hộ). Các hộ
trồng rừng theo dự án 147 năm 2014 với tổng diện tích đăng ký là 70,78 ha,
trong đó: Trồng rừng tập trung 45,44 ha = 49 hộ, trồng rừng phân tán 25,34
ha = 54 hộ. Nhờ thực hiện tốt chủ trương giao đất, giao rừng cho các hộ gia
đình nên diện tích trồng rừng ngày càng tăng và rừng được bảo vệ, khai thác
đúng theo quy định.
15
2.3.2.3. Giao thông, thủy lợi
* Giao thông
Trên địa bàn xã có 01 trục đường liên xã chạy qua trung tâm xã là 10km
mặt đường rộng 4m đường cấp phối, mặt đường đã xuống cấp trầm trọng, rất
khó khăn cho việc đi lại vào mùa mưa, nhất là khu trung tâm xã. Đường trục
thôn có 4 tuyến với tổng chiều dài 24,5km chủ yếu là đường đất nhỏ hẹp mùa
mưa còn lầy lội, trơn trượt khó đi. Việc quản lý các trục đường sau khi được đầu
tư như kiểm tra, quản lý các trường hợp xâm lấn lề đường, các dấu hiệu phá hoại
công trình giao thông trên địa bàn còn nhiều hạn chế, chưa được quan tâm đúng
phòng học và 2 phòng tạm. Cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học cho
các em còn thiếu thốn chưa đảm bảo và đáp ứng theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo
dục và Đào Tạo.
Xã hiện chưa có trường Trung học cơ sở, học sinh học tại thị trấn Bằng
Lũng và trường THCS xã Yên Thịnh.
* Y tế
Trạm y tế xã đã được xây dựng kiên cố với tổng diện tích 1.700 m
3
.
Trạm xá phục vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong xã và đã đạt
Trạm Y tế thân thiện. Ngoài ra xã Bản Thi có 1 bệnh viện đa khoa 50
giường tại thôn Bản Nhượng đã xây dựng đang chờ đưa vào sử dụng. Tỉ lệ
người dân được giao bảo hiểm y tế chủ yếu là đối tượng chính sách xã hội
như hộ nghèo, hộ dân tộc thiểu số ngoài ra một số hộ có dân tộc Kinh tự
đóng bảo hiểm tự nguyện.
2.3.2.5. Điện nước
Trong toàn xã đã có khoảng 90% số hộ đã được sử dụng nguồn điện
lưới quốc gia, có 5 trạm biến áp với tổng công suất là 955 KW chưa đạt chuẩn
cần nâng cấp và xây mới 3 trạm biến áp, xây mới 1km đường dây kw cấp điện
cho các trạm biến áp phụ tái xây mới. Nâng cấp đường điện cho 4 thôn, làm
mới 3 tuyến đường dây cho 3 thôn dài 7,5km với tổng công suất nâng lên 210
KW. Hiện tại người dân trong xã hầu hết vẫn sử dụng hệ thống nước được
dẫn từ các mạch nước ngầm. 17
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Là những hoạt động sản xuất, khai thác của