Nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc mọc tự nhiên ở khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------------

NGUYỄN TUYẾT MAI

NGHIÊN CỨU NGUỒN TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC MỌC TỰ
NHIÊN Ở KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH NAM XUÂN LẠC
HUYỆN CHỢ ĐỒN – TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – Năm 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------------

NGUYỄN TUYẾT MAI

NGHIÊN CỨU NGUỒN TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC MỌC TỰ
NHIÊN Ở KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH NAM XUÂN LẠC
HUYỆN CHỢ ĐỒN – TỈNH BẮC KẠN

Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số:

60 42 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC



Tác giả

Nguyễn Tuyết Mai

i


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Các Vườn quốc gia và Khu Bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam.
Bảng 1.2. Tình hình dân số xã Xuân Lạc và xã Bản Thi.
Bảng 1.3. Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Xuân Lạc.
Bảng 3.1. Sự phân bố trong các bậc taxon của các loài cây thuốc ở khu Bảo tồn Loài
và sinh cảnh Nam Xuân Lạc.
Hình 3.1. Sự phân bố trong các bậc taxon của các loài cây thuốc ở khu Bảo tồn Loài
và sinh cảnh Nam Xuân Lạc.
Bảng 3.2. Sự phân bố các taxon của các cây thuốc thuộc ngành Ngọc lan.
Hình 3.2. Sự phân bố các taxon của các cây thuốc thuộc ngành Ngọc lan.
Bảng 3.3. Một số họ có nhiều loài cây thuốc nhất.
Bảng 3.4. Dạng thân của các loài cây thuốc tại khu Bảo tồn Loài và sinh cảnh Nam
Xuân Lạc.
Hình 3.4. Dạng thân của các loài cây thuốc tại khu Bảo tồn Loài và sinh cảnh Nam
Xuân Lạc.
Bảng 3.5. Tần số sử dụng các bộ phận làm thuốc.
Bảng 3.6. Sự phong phú về giá trị chữa bệnh của cây thuốc ở khu Bảo tồn Loài và
sinh cảnh Nam Xuân Lạc.
Bảng 3.7. Những cây thuốc nằm trong danh sách khai thác thu mua ở Việt Nam
hiện có tại khu Bảo tồn Loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc.
Bảng 3.8. Danh sách cây thuốc thuộc diện bảo tồn ở Việt Nam hiện có tại khu Bảo
tồn Loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc.

NXB

Nhà xuất bản

UBND

Ủy ban nhân dân

UNDP

United Nations Development Programme

UNEP

United Nations Environment Programme

VQG

Vườn quốc gia

WHO

World Health Organization

WWF

The World Wild Fund for Nature

iii


iv


3.2.1. Số loài cây thuốc nằm trong danh sách đang được khai thác thu mua: .....35
3.2.2. Một số loài có giá trị sử dụng cao, gặp tương đối phổ biến ở khu
Bảo tồn ...........................................................................................................38
3.3. Những cây thuốc thuộc diện cần bảo tồn ở Việt Nam đã phát hiện thấy ở
khu BT.L & SC Nam Xuân Lạc .........................................................................43
3.3.1. Số loài cây thuốc thuộc diện bảo tồn ở Việt Nam hiện có tại khu
Bảo tồn ...........................................................................................................43
3.3.2. Hiện trạng của các cây thuốc thuộc diện bảo tồn tại khu Bảo tồn ......46
3.4. Tình hình quản lý cây thuốc ở khu BT L.&SC Nam Xuân Lạc ...............61
3.4.1. Một số loài cây thuốc vẫn bị khai thác: ................................................61
3.4.2. Công tác quản lý cây thuốc gặp nhiều khó khăn: .................................61
3.5. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển tiềm năng cây thuốc ở
khu BT.L & SC Nam Xuân Lạc .........................................................................62
3.5.1. Về công tác quản lý ...............................................................................62
3.5.2. Thực hiện khai thác cây thuốc ở vùng đệm theo các tiêu chí GACP của
WHO, 2003 .....................................................................................................63
3.5.3. Phát triển trồng thêm cây thuốc ở vùng đệm ........................................63
3.5.4. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền làm nâng cao nhận thức cho
người dân .......................................................................................................64
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .....................................................................................65
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................67

v


MỞ ĐẦU
Cây thuốc có tầm quan trọng đặc biệt trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe


Xuất phát từ những thực tế trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu nguồn
tài nguyên cây thuốc mọc tự nhiên ở Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân
Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn” làm luận văn Thạc sĩ Sinh học, chuyên ngành
Thực vật học.

2


Chƣơng 1
TỔNG QUAN
1.1. Tình hình nghiên cứu về cây thuốc và bảo tồn cây thuốc trên thế giới
1.1.1 Tình hình nghiên cứu chung về cây thuốc
Từ cổ xưa, con người đã biết sử các loài thảo mộc để làm thuốc phòng và chữa
bệnh. Cách đây 3000 – 5000 năm, ở các nước có nền Y học cổ truyền lâu đời như
Trung Quốc, Ấn Độ hay từ thời La Mã cổ đại,… đã có những bằng chứng về sự sử
dụng cây thuốc [45]. Cùng với sự phát triển và tiến hóa của xã hội loài người,
những kiến thức và kinh nghiệm dùng cây thuốc của nhân loại đã trở nên vô cùng
phong phú và đa dạng. Số lượng các loại cây cỏ được dùng làm thuốc ngày càng
được ghi nhận nhiều hơn.
Ngày nay, trên thế giới ước lượng có khoảng 250.000 - 300.000 loài thực vật
bậc thấp cũng như bậc cao, trong đó có khoảng 35.000 - 70.000 loài thực vật được
sử dụng vào mục đích làm thuốc chữa bệnh ở khắp nơi trên thế giới. Theo thống kê
sơ bộ, Trung Quốc có trên 10.000 loài, Ấn Độ có khoảng 7.500 loài, Indonesia có
khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Nepal có hơn 700 loài, Sri
Lanka có khoảng 550 - 700 loài [45]. Báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO),
ghi nhận khoảng 3,5 đến 4 tỷ người trên thế giới ít nhiều đã được chăm sóc sức
khỏe bởi y học cổ truyền. Phần lớn trong số đó phụ thuộc vào nguồn dược thảo
hoặc các chất chiết suất từ dược thảo [45].
Bên cạnh phương thức sử dụng cây thuốc theo y học cổ truyền, ngày nay nhờ

Tổng số loài cây thuốc được trồng là rất ít, như ở Trung Quốc - quốc gia có
diện tích trồng cây thuốc lớn nhất, cũng chỉ có 100 – 250 loài được trồng. Ở Châu
Âu, chỉ 130 – 140 trong số hơn 1000 loài được mua bán có nguồn gốc từ trồng trọt.
Có rất nhiều nơi trên thế giới, hầu như không có bất kỳ canh tác cây thuốc nào trên
quy mô lớn [42]. Chính vì vậy, IUCN cảnh báo có tới 30.000 loài thực vật bị đe
dọa, trong đó có nhiều loài cây thuốc [45]. Alan Hamilton, thành viên của Quỹ Thế
giới Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), thống kê có tới 4.000 - 10.000 loài cây cỏ dùng
làm thuốc có nguy cơ bị tuyệt chủng [53].
Theo UNDP, ước tính có khoảng 316 loài cây thuốc ở Ấn Độ đang bị đe dọa
tuyệt chủng, gây nguy hiểm cho cuộc sống và chăm sóc sức khỏe [42].

4


Theo He Shan An và Cheng Zhong Ming thì ở Trung Quốc, một số loài
Dioscorea spp. vốn mọc tự nhiên ở nhiều nơi, vào những năm 50 có thể khai thác
300.000 tấn, đến nay đã bị giảm sút nhiều do khai thác quá mức, thậm chí phải
trồng [45].
Ngoài mục đích làm thuốc, một số loại cây thuốc đôi khi bị khai thác quá mức
để phục vụ cho mục đích khác hơn là chữa bệnh như trường hợp của cây Acacia
Senegal (trị viêm phế quản), Pterocarpus angolensis (trị nấm) đã bị thu thập vì mục
đích thương mại hơn là sử dụng [42].
Hamilton cũng cho rằng những mối đe dọa đối với các loài cây thuốc cũng
tương tự như những mối đe dọa đến đa dạng thực vật nói chung. Trong đó, mất sinh
cảnh, suy thoái môi trường sống và khai thác quá mức là những mối đe dọa nghiêm
trọng nhất [42].
Thảm thực vật trên thế giới đang bị thay đổi và bị phá hủy ở mức báo động.
Rừng ẩm nhiệt đới, nơi sống của một nửa số loài thực vật trên thế giới, đang trong
tình trạng nguy hiểm, giảm khoảng 16,8 triệu ha/năm theo UNEP/FAO [46]. Cùng
với việc khai thác, việc mất sinh cảnh đã đặt nhiều cây thuốc vào nguy cơ xói mòn

chúng (Công ước ĐDSH, 1992). Nói cách khác, đó là sự duy trì các cơ thể và các
bộ phận sống của sinh vật bên ngoài môi trường sống vốn có của chúng trong
những điều kiện, phương tiện như Vườn sinh vật, Ngân hàng hạt, Ngân hàng gen
in-vitro hoặc Ngân hàng gen đồng ruộng [45, 47, 48].
Biện pháp bảo tồn lý tưởng nhất các loài được bảo tồn và phát triển trong quần
thể tự nhiên. Tuy nhiên, các loài cũng cần được bảo tồn chuyển vị (tức là bên ngoài
môi trường sống của chúng). Hai biện pháp này nên được thực hiện đồng thời để
đảm bảo kết quả được tốt nhất. Loài được bảo tồn chuyển vị vẫn có thể bị xói mòn
di truyền và phụ thuộc vào chăm sóc liên tục của con người. Vì vậy, bảo tồn chuyển
vị không thể thay thế, mà cần phải bổ sung với bảo tồn nguyên vị [42, 43].
Theo IUCN (2008), tính đến năm 2004, trên thế giới có hơn 100.000 khu bảo
tồn thiên nhiên (trong đó có cả các Vường quốc gia), chiếm 11,7% diện tích đất liền
toàn thế giới. Vườn quốc gia chiếm số lượng và diện tích lớn nhất, tiếp đến là các
khu bảo tồn loài và sinh cảnh [51]. Trong đó có 152 vườn của 33 quốc gia là
chuyên trồng cây thuốc (có tên là vườn cây thuốc) hoặc có trồng cây thuốc cùng với
các loại cây kinh tế khác như ở Liên Xô (cũ) có 31 vườn, Nhật Bản: 26 vườn (có 10

6


vườn cây thuốc); Hoa Kỳ: 13 vườn (2 vườn cây thuốc); Ba Lan: 10 vườn (trong đó
có tới 5 vườn chủ yếu là cây thuốc); Trung Quốc: trong số 5 vườn thực vật Quốc
gia, có 2 vườn cây thuốc nổi tiếng thế giới [45]. Năm 1986, ở Sri – Lanka, một hình
thức bảo tồn cây thuốc mới được thực hiện dưới sự hỗ trợ của WHO, UNDP,
WWF, Bộ Y tế Sri – Lanka đã thiết lập một vườn ươm trồng những loại cây thuốc
thiết yếu để điều trị cho người bệnh [45].
Ngoài phương thức bảo tồn chuyển vị ở Vườn thực vật, người ta đã bắt đầu tiến
hành bảo tồn cây thuốc bằng cách bảo tồn hạt tại "Seed Bank" hoặc các hình thức
"In-vitro conservation" khác [45, 47, 48].
Hiện nay, do hoạt động sản xuất công nghiệp của các nhà máy ngày càng tăng

Liên Sơn và Trường Sơn với nhiều vùng có độ cao trên 2.000 m và các cao nguyên
nhỏ như Đồng Văn, Mộc Châu, Sơn La, Di Linh, …. Việt Nam nằm ở vành đai khí
hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, nhiệt độ trung bình năm khác nhau giữa miền Bắc và
miền Nam, lượng mưa trung bình lớn nhưng phân bố không đều trong năm [51].
Các yếu tố địa hình và khí hậu đa dạng như vậy dẫn đến Việt Nam có thảm
thực vật phong phú với nguồn tài nguyên thực vật đa dạng ước tính có khoảng
12.000 loài cây cỏ khác nhau và có người còn dự đoán có thể lên tới 13.000 đến
15.000 loài nếu được nghiên cứu đầy đủ [51].
Việt Nam là ngôi nhà chung của 54 dân tộc, thuộc 3 họ ngôn ngữ và 8 nhóm
khác nhau, trong đó có nhiều dân tộc có quan hệ gần gũi với các quốc gia trong khu
vực. Để tồn tại đến ngày nay, các thế hệ đi trước của mỗi cộng đồng đã phải trả giá
bằng cuộc sống và sức khỏe để tích lũy tri thức kinh nghiệm sử dụng cây thuốc
ngày nay. Mỗi dân tộc lại có tập quán, niềm tin, vì vậy tri thức kinh nghiệm sử dụng
cây cỏ làm thuốc là rất đa dạng.
Từ xa xưa, trước khi có sự xâm nhập vào Việt Nam của Trung y (thời kỳ Bắc
thuộc: 197 trước công nguyên – 938 sau công nguyên) và Tây y (thời kỳ Pháp
thuộc: 1884 – 1945), thì người Việt cổ trước đây và cộng đồng các dân tộc thiểu số
ở Việt Nam đã có nền y học dân gian, gia truyền bản địa phát triển rất phong phú và
đa dạng, rất nhiều loài cây thuốc đã được sử dụng để chữa bệnh [52]. Thời các Vua
Hùng (12879 - 257 trước công nguyên), cha ông ta đã biết uống nước vối, ăn gừng
giúp tiêu hóa, nhai trầu để bảo vệ răng,... Đời Thục An Dương Vương, lương y Thôi
Vỹ đã biết châm cứu để chữa bệnh. Đời nhà Lý, người dân đã trồng thuốc Nam ở

8


làng Đại Yên (Hà Nội), Nghĩa Trai (Hải Hưng). Đời nhà Trần đã thành lập Thái Y
viện và tổ chức đi tìm cây thuốc ở núi Yên Tử (Quảng Ninh) và xây dựng vườn cây
thuốc gọi là “Dược sơn” ở Chí Linh – Hải Dương [51].
Chính bởi vai trò rất quan trọng mà ngay từ thời xưa, chúng ta đã có rất nhiều

Đề cập tới cây thuốc trong hệ thực vật Việt Nam, Võ Văn Chi là người từ lâu
có rất nhiều tâm huyết nghiên cứu. Năm 1976, trong luận án phó tiến sĩ khoa học
của mình, ông đã thống kê có 1.360 loài cây thuốc, thuộc 192 họ trong ngành thực
vật hạt kín ở miền Bắc [9]. Đến năm 1989, trong báo cáo tham gia Hội thảo quốc
gia về cây thuốc lần thứ II tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, Võ Văn Chi đã giới
thiệu một danh sách các cây thuốc Việt Nam trong đó có 2.280 loài cây thuốc bậc
cao có mạch, thuộc 254 họ, trong 8 ngành. Có thể nói, công bố này đã giới thiệu
một số lượng cây thuốc lớn nhất tính tới thời điểm đó [10].
Nhắc đến các công trình nghiên cứu về cây thuốc ở nước ta thì không thể
không nhắc đến bộ sách “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” do nhiều
đồng tác giả xuất bản năm 2004. Đây là bộ sách chứa đựng một khối lượng lớn dữ
liệu khoa học toàn diện về dược liệu, đặc biệt là cây thuốc, được tập hợp từ những
kết quả nghiên cứu của các đồng tác giả, đồng thời cũng được tham khảo đúc kết từ
nhiều tạp chí khoa học có uy tín trong nước và trên thế giới. Đặc biệt, bộ sách cung
cấp những thông tin khoa học rất phong phú và cập nhật cho đến những năm gần
đây nhất về thành phần hóa học, tác dụng dược lý thực nghiệm và dược lý lâm sàng
của cây thuốc [8].
Theo kết quả điều tra gần đây nhất của Viện Dược liệu – Bộ Y tế, tính đến năm
2005, đã phát hiện có 3.948 loài thực vật và nấm lớn được dùng làm thuốc, thuộc
307 họ của 9 ngành và nhóm thực vật khác nhau. Trong đó có 52 loài Tảo biển, 22
loài Nấm, 4 loài Rêu và 3.870 loài Thực vật bậc cao có mạch [31]. Điều này cho
thấy rằng nguồn tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam vô cùng đa dạng, phong phú và
dự đoán có thể lên tới 6.000 cây thuốc nếu được nghiên cứu đầy đủ trong tương lai
[31].
Nguồn tài nguyên cây thuốc phong phú về thành phần loài và có trữ lượng lớn.
Vài chục năm trở về đây, ngoài việc người dân tự thu hái để chữa bệnh, cây thuốc
còn được khai thác trên quy mô lớn để làm nguyên liệu sản xuất dược phẩm. Nhu

10



11


tái sinh tự nhiên; do nạn phá rừng làm nương rẫy, hồ thủy điện đã hủy hoại hàng
loạt quần thể rừng, trong đó có nhiều vùng cây thuốc mọc tập trung và do các
nguyên nhân khác, như tu bổ rừng, khai thác rừng, trồng rừng mới, làm thay đổi hệ
sinh thái tự nhiên vốn có của cây thuốc [19].
Do lợi nhuận trước mắt, nhiều loài cây thuốc bị khai thác ồ ạt không chú ý bảo
vệ tái sinh, thêm vào đó là nạn phá rừng làm nương rẫy đã làm cho các loài cây
thuốc bị sa sút về trữ lượng nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng.
Theo Nguyễn Tập (1996), tất cả các vùng núi trước khi tập trung nhiều cây
thuốc, nay đã bị thu hẹp hoặc mất hẳn. Tình trạng suy giảm này, càng trở nên gay
gắt đối với những cây thuốc quý vốn hiếm gặp ở Việt Nam. Chúng bị tìm kiếm ráo
riết đến mức kiệt quệ như Sâm vũ diệp (Panax bipinnatifidus Seem.), Sâm ngọc
linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.), Tam thất hoang (Panax stipuleanatus H.T
Tsai et K.M.feng), Hoàng tinh vòng (Polygonatum kingianum Collett et Hemsl.),
Hoàng liên (Coptis spp.)... hầu hết đã và đang đang lâm vào tình trạng bị đe dọa
tuyệt chủng [21].
Bên cạnh đó là nhiều nghiên cứu của một số tác giả khác về việc bảo tồn những
loài thực vật quý hiếm và có nguy cơ bị tiêu diệt ở nước ta như Nguyễn Tiến Bân
[2, 3]; Phan Kế Lộc, Nguyễn Văn Yên [15], ....
Với nỗ lực bảo tồn các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng, ngay từ những năm đầu
thập kỷ 70 của thế kỷ trước, IUCN đã thu thập được nhiều thông tin của hơn 30.000
loài thực vật trên thế giới [31]. Căn cứ vào các thông tin này, IUCN đã 3 lần đưa ra
những tiêu chuẩn để đánh giá về tình trạng bị đe dọa đối với mỗi loài [47, 48]. Dựa
trên cơ sở các loài thực vật bị đe dọa ở Việt Nam, năm 1996, Sách đỏ Việt Nam –
Phần II – Về Thực vật đã được biên soạn, trong đó có 365 loài thực vật, thuộc 265
chi, 123 họ, 9 ngành [3] trong đó có các loài làm thuốc. Đến năm 2007, Sách đỏ
Việt Nam, phần II – Thực vật lại được bổ sung và tái bản, trong đó có đề cập tới


1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

VQG Tam Đảo
VQG Ba Bể
VQG Bạch Mã
VQG Núi Chúa
VQG Vũ Quang
VQG Bù Gia Mập
VQG Hoàng Liên
VQG Pù Mát
VQG Yor Đôn
VQG Lò Gò Xa Mát

Thời gian
thực hiện

Số loài
cây thuốc
đƣợc phát
hiện

16
7
14
6
63
17
6
1

13

Nguồn

Bảo tồn và phát
triển nguồn gen và
giống cây thuốc


11

VQG Xuân Sơn

2008

665

22

12


liên gai, 3 loài Hoàng liên ô rô, 3 loài Tế tân, 4 loài Ba gạc, 2 loài Hoàng tinh, ….
Kết hợp với quá trình bảo tồn, nhiều loài cây thuốc cũng đã được đi sâu nghiên cứu
đưa vào trồng thêm tại chỗ để khai thác như Ngũ gia bì gai, Ngũ gia bì hương, Ba
kích, Sì to,…[31]
Trong những kết quả điều tra nghiên cứu trên, điều quan trọng nhất là bước đầu
đã ghi nhận được vị trí phân bố và từng loài có tên trong Danh lục Đỏ cây thuốc ở
từng Vườn quốc gia và Khu BTTN, từ đó là cơ sở để xây dựng các biện pháp bảo
tồn thích hợp cho từng loài cây thuốc.
Từ những công trình nghiên cứu về cây thuốc ở trên cho thấy, đề tài luận văn
của chúng tôi cũng tiến hành theo định hướng này tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh
Nam Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
1.3. Vài nét về điều kiện tự nhiên và xã hội khu vực nghiên cứu
1.3.1. Điều kiện tự nhiên [29]
 Tọa độ địa lý
Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Xuân Lạc - Bắc Kạn có tọa độ địa lý:
Từ 22o17’- 22o19’ vĩ độ Bắc.
Từ 105o28’- 105o33’ kinh độ Đông.
 Phạm vi ranh giới
Khu bảo tồn Loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc được thành lập theo quyết định
số 342/QĐ-UB ngày 17/3/2004 của UBND tỉnh Bắc Kạn, với diện tích 1.788 ha,

14


diện tích vùng đệm 7.508 ha. Diện tích rừng tự nhiên chiếm trên 92% tổng diện tích
khu bảo tồn, diện tích rừng ở đây chủ yếu nằm trên núi đá. Khu Bảo tồn Loài và
sinh cảnh Nam Xuân Lạc nằm trên địa phận 4 thôn Nà Dạ và Bản Khang thuộc xã
Xuân Lạc; thôn Khuổi Kẹn, Kéo Nàng và thôn Phia Khao của xã Bản Thi, huyện
Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn [36, 37].
Khu Bảo tồn ở cách trung tâm thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn 35 km, tiếp

 Địa chất - Thổ nhưỡng
- Địa chất: Nền địa chất của Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc có nguồn
gốc trầm tích nằm trong quy luật tạo sơn của vùng Đông Bắc Việt Nam. Với các sản
phẩm trầm tích chủ yếu là bội kết và cát kết cùng với đá vôi màu đen và màu xám
sáng khó phong hóa. Khu vực này tiếp giáp với khu khai thác quặng ở xã Bản Thi
(chủ yếu là chì kẽm).
- Thổ nhưỡng: Trong khu vực gồm có hai loại đất chính :
+ Nhóm đất dốc tụ: nằm ở các thung lũng hình thành do quá trình bồi đắp phù
sa, đất tốt, tầng dày.
+ Nhóm đất trên núi đá vôi: đất tốt, màu đen, tầng mỏng.
1.3.2. Tình hình tài nguyên thực vật [18]
 Các kiểu thảm thực vật
Các kiểu thảm thực vật ở độ cao trên 700m
- Rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới
- Rừng kín thường xanh trên núi đá vôi
- Rừng hỗn giao cây lá rộng lá kim
- Thảm cây bụi lùn trên đỉnh núi
Các kiểu thảm thực vật ở độ cao dưới 700m
- Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới ở đất thấp
- Rừng kín thường xanh trên núi đá vôi
- Rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác
- Rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy
- Thảm cây bụi có hay không có cây gỗ
 Thực vật rừng
Theo Báo cáo hợp phần thực vật của Chi cục Kiểm lâm Bắc Kạn tháng 6 năm
2010, kết quả điều tra thành phần thực vật đã ghi nhận được 515 loài thực vật bậc

16



Tên xã

Số hộ

Số khẩu

Mật độ dân

1

Xuân Lạc

628

3247

số ngƣời/km2
38

2

Bản Thi

358

1503

23

986



Bảng 1.3. Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Xuân Lạc
Các loại đất đai

TT

Đơn vị (ha)

Tổng diện tích tự nhiên

8.421,13

I

Đất Nông lâm Nghiệp

5.025,2

1

Đất trồng cây hàng năm

389,65

2

Đất trồng lúa

124,49


III

4.498,42
2,94
424,35

Đất chưa sử dụng

2.971,85

- Trồng trọt
Diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ quá nhỏ so với tổng diện tích. Trong đó
đất trồng lúa, màu bình quân 383m2/khẩu. Sản phẩm trồng trọt chủ yếu là lúa nước,
ngô, lúa nương, sắn… .
Ruộng nước được phân bố nơi thấp gần khu dân cư, ven suối và một số diện
tích nhỏ ruộng bậc thang. Năng suất lúa thấp do kỹ thuật canh tác chưa cao phụ
thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, giống chưa được cải thiện. Lúa nương được
canh tác trên các sườn đồi, núi thấp. Do đất dốc và hoàn toàn phụ thuộc vào điều
kiện tự nhiên nên năng suất không cao và bấp bênh. Diện tích lúa nương thường
không ổn định do sự du canh qua nhiều vùng khác nhau quanh các điểm dân cư.
Các loại rau màu thường như Ngô, Sắn… được trồng trên nơi đất cao, bằng phẳng
nhưng không có điều kiện khai hoang ruộng nước. Do diện tích ruộng nước chỉ hơn
1 sào/người, chủ yếu là 1 vụ, người dân phải làm nương rẫy để bổ sung nguồn
lương thực. Diện tích đất nương rẫy hiện nay tuy không cao nhưng nếu luân chuyển
hàng năm thì diện tích rừng bị chuyển đổi sẽ tăng nhanh đáng kể.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status