Nghiên cứu tính đa dạng thực vật ở các trạng thái thảm thực vật tại KBT loài & sinh cảnh Nam Xuân Lạc - huyện Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

MA DOÃN GIANG Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT
Ở CÁC TRẠNG THÁI THẢM THỰC VẬT TẠI KHU
BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH NAM XUÂN LẠC
HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Văn Mạn Thái Nguyên, năm 2014
LỜI CẢM ƠN

Trên quan điểm “Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn”

ĐDSH : Đa dạng sinh học
Hvn : Chiều cao vút ngọn
KBT : Khu bảo tồn
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
ODB : Ô dạng bản
OTC : Ô tiêu chuẩn
QĐ-BNN : Quyết đinh - Bộ nông nghiệp

MỤC LỤC

Phần 1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài 2
Phần 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và thế giới 5
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 5
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 14
2.3. Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế của khu vực nghiên cứu 15
2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 15
2.3.2. Tình hình dân cư kinh tế 18
2.3.3. Tình hình sản xuất nông nghiệp 18
2.3.4. Nhận xét chung về những thuận lợi và khó khăn của địa phương 18
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . 20
3.1. Đối tượng và phạm vi 20
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 20
3.3. Nội dung nghiên cứu 20
3.4. Phương pháp nghiên cứu 20
3.4.1. Phương pháp kế thừa tài liệu có sẵn 20

Bảng 4.4. Cấu trúc tổ thành thực vật thân gỗ kiểu rừng kín thường xanh trên
núi đá vôi độ cao trên 700 m 39
Bảng 4.5. Cấu trúc tổ thành thực vật thân gỗ kiểu rừng hỗn giao cây lá rộng lá
kim có độ cao trên 700 40
Bảng 4.6. Cấu trúc tổ thành thực vật thân gỗ kiểu rừng kín thường xanh trên
núi đá vôi có độ cao 500 - 700m 40
Bảng 4.7. Chỉ số đa dạng thực vật thân gỗ kiểu rừng kín thường xanh mưa
mùa á nhiệt đới độ cao trên 800 m 41
Bảng 4.8. Chỉ số đa dạng thực vật thân gỗ kiểu rừng kín thường xanh mưa
mùa á nhiệt đới độ cao từ 600 đến 800 m 42
Bảng 4.9. Chỉ số đa dạng thực vật thân gỗ kiểu rừng kín phục hồi sau nương
rẫy đới độ cao từ 600 đến 800 m 42
Bảng 4.10. Chỉ số đa dạng thực vật thân gỗ kiểu rừng kín thường xanh trên
núi đá vôi độ cao trên 700 m 42
Bảng 4.11. Chỉ số đa dạng thực vật thân gỗ kiểu rừng hỗn giao cây lá rộng lá
kim có độ cao trên 700 m 43
Bảng 4.12. Chỉ số đa dạng thực vật thân gỗ kiểu kín thường xanh trên núi đá
vôi có độ cao 500 - 700m 43
1
Phần 1
MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Ngày nay ĐDSH là mối quan tâm lớn của hành tinh trong đó có Việt
Nam. Như chúng ta đã biết Việt Nam là một quốc gia có tính ĐDSH cao và là
một trong những điểm nóng về bảo tồn đa dạng sinh học trên thế giới.
Cuộc sống của con người đang bị đe dọa bởi khí hậu trên trái đất đang
thay đổi, nhiệt độ tăng lên, hiệu ứng nhà kính đang làm thay đổi tầng ozôn.
Một trong những nguyên nhân là lớp thảm thực vật màu xanh bao phủ trên bề
mặt trái đất bị phá hoại ngiêm trọng. Vì vậy mỗi chúng ta cần phải có trách

Qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên sẽ được thực hành nghiên cứu
khoa học, biết phương pháp phân bổ thời gian hợp lý và khoa học trong công
việc để đạt được hiệu quả cao trong công việc đồng thời là cơ sở để củng cố
những kiến thức đã học.
Các kết quả nghiên cứu và đề xuất của đề tài có thể áp dụng vào việc
quản lý và bảo tồn thực vật thân gỗ tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam
Xuân Lạc và các địa bàn có điều kiện tương tự.
3
Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Thuật ngữ "đa dạng sinh học" (Biodiversity hay biological diversity) lần
đầu tiên được Norse and McManus (1980) giới thiệu, bao gồm hai khái niệm có
liên quan với nhau là đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một
loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật).
Trong Công ước về đa dạng sinh học, thuật ngữ đa dạng sinh học được
dùng để chỉ sự phong phú và đa dạng của giới sinh vật từ mọi nguồn trên trái đất,
nó bao gồm sự đa dạng trong cùng một loài, giữa các loài và sự đa dạng hệ sinh
thái (Gaston and Spicer, 1998).[3] Như vậy đa dạng sinh học là toàn bộ các dạng
sống trên trái đất, bao gồm tất cả các nguồn tài nguyên di truyền, các loài, các hệ
sinh thái và các tổ hợp sinh thái. Đa dạng sinh học thường được thể hiện ở 3 cấp
độ: đa dạng trong loài (đa dạng di truyền), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ
sinh thái (đa dạng hệ sinh thái).
Vì thế giới sự sống chủ yếu được xem xét ở khía cạnh các loài, nên
thuật ngữ ĐDSH thường được dùng như một từ đồng nghĩa của "đa dạng
loài", hay "sự phong phú về loài", thuật ngữ dùng để chỉ số lượng loài trong
một vùng hoặc một nơi cư trú. ĐDSH nói chung thường được hiểu là số
lượng các loài thuộc các nhóm phân loại khác nhau trên toàn cầu.
Tính đến thời điểm năm 1982, các nhà sinh vật học đã biết được tất cả

đuợc khoảng 7.000 loài thực vật bậc cao, 800 loài rêu và 600 loài nấm. Tính
đặc hữu của hệ thực vật rất cao, có ít nhất là 40% số loài đặc hữu, không có
họ thực vật đặc hữu, nhưng có tới 3% số chi thực vật đặc hữu. Các khu vực:
Hoàng Liên Sơn, Tây Nguyên, Bắc và Trung Trường Sơn được coi là trung
tâm các loài đặc hữu. [13]
Như chúng ta đã biết, tính đa dạng sinh học của một hệ sinh thái tiêu
biểu hay một vùng lãnh thổ nào đó đều được biểu hiện trong các phạm trù
khác nhau. Trước hết là sự đa dạng các taxon (ngành, lớp, họ, chi, loài…); sau
đó là sự đa dạng trong cấu trúc của hệ sinh thái, mối quan hệ tương hỗ giữa
các quần hệ, quần xã, tạo nên sự cân bằng sinh thái bền vững, tồn tại một cách
tự nhiên; và cuối cùng là vai trò của con người tác động vào sự đa dạng đó để
duy trì, phát triển, phá vỡ, huỷ hoại sự cân bằng đó. Việt Nam nằm ở Đông
Nam bán đảo Đông Dương có phần đất liền rộng khoảng 330.000 km
2
, với bờ
biển dài khoảng 3200 km, phần nội thuỷ và lãnh hải gần với bờ biển rộng
khoảng hơn 22.600 km. Ba phần tư diện tích của cả nước là đồi núi với đỉnh
núi cao nhất là Phan Xi Păng 3143m ở phía Tây Bắc. Nơi đây các dãy núi cao
được hình thành do sự kéo dài của dãy núi Hymalaya. Mặc dù có những tổn
thất quan trọng về diện tích rừng trong một thời kỳ kéo dài nhiều thế kỷ
nhưng hệ thực vật nước ta vô cùng phong phú và đa dạng về chủng loại…
6
Điều đặc biệt là hệ thực vật nước ta giàu những loài cây gỗ, cây bụi, dây leo
gỗ…và rất nhiều đại diện cổ tồn tại từ kỷ đệ tam. Theo dự đoán của các nhà
thực vật học (Takhtajan, Phạm Hoàng Hộ, Phan Kế Lộc) số loài ít nhất sẽ lên
đến 12.000 loài thực vật bậc cao, trong đó có khoảng 2.300 loài được sử dụng
làm nguồn lương thực, thực phẩm, làm thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc,
lấy gỗ, lấy tinh dầu, dầu béo và nhiều loại nguyên liệu khác (Nguyễn Nghĩa
Thìn, 1997) [10], mặt khác hệ thực vật Việt Nam có mức độ đặc hữu cao. Tuy
rằng hệ thực vật Việt Nam không có các họ đặc hữu mà chỉ có các chi đặc

nhau, sau đây chúng tôi chỉ điểm qua một vài công trình chủ yếu. Nguyễn
Hoàng Nghĩa (1997, 1999) đã đề cập rất chi tiết đến bảo tồn nguồn gen cây
rừng. Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) với “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh
vật” đã cung cấp các phương pháp nghiên cứu đa dạng sinh vật và cách nhận
biết nhanh các các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam. Hàng loạt các nghiên cứu,
điều tra, đánh giá sự phong phú của tài nguyên sinh vật phục vụ cho việc qui
hoạch, xây dựng các khu bảo tồn thiên nhiên đã được tiến hành. Với sự giúp
đỡ của các dự án quốc tế do các tổ chức như IUCN, WWF, Bird Life,
UNDP… nhiều nghiên cứu chuyên đề về ĐDSH cũng đã được tiến hành ở các
Vườn quốc gia. Nhiều luận án tiến sĩ cũng đã được hoàn thành liên quan đến
vấn đề nghiên cứu bảo tồn ĐDSH, Cao Thị Lý (2007) với luận án: “Nghiên
cứu bảo tồn ĐDSH: những vấn đề liên quan đến quản lý tổng hợp tài nguyên
rừng ở một số khu bảo tồn thiên nhiên vùng Tây Nguyên” đã đề cập đến một
hệ thống phương pháp tiếp cận kết hợp kỹ thuật với xã hội để nghiên cứu
giám sát trong quản lý, bảo tồn tài nguyên rừng và đã đề xuất hai giải pháp cụ
thể phục vụ quản lý tài nguyên rừng nhằm giải quyết hài hoà hai mục tiêu:
sinh kế của dân cư vùng đệm và quản lý bền vững tài nguyên bảo tồn. Ngô
Tiến Dũng (2007) với luận án “Tính đa dạng thực vật của VQG Yok Đôn,
tỉnh Đak Lak” đã mô tả sự biến đổi thảm thực vật thông qua điều tra theo
8
tuyến với 5 kiểu thảm, 21 ưu hợp và 4 kiểu trảng và hoàn thiện danh lục thực
vật của VQG Yok Đôn với 129 họ, 478 chi, 858 loài thực vật bậc cao có
mạch, trong đó tác giả đã bổ sung 21 họ, 188 chi và 292 loài.
Về mặt địa sinh học, Việt Nam là giao điểm của các hệ động thực vật
thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc và Inđônêxia – Malaysia.
Cùng với các yếu tố địa lý, địa hình, khí hậu thủy văn đã tạo cho nơi đây trở
thành một trong những khu vực có tính đa dạng sinh học cao của thế giới (Bộ
Nông nghiệp và PTNT, 2002 – Báo cáo quốc gia về các khu bảo tồn và phát
triển kinh tế). ĐDSH có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu
trình tự nhiên và cân bằng sinh thái. Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh

2.3.2. Tình hình dân cư kinh tế 18
2.3.3. Tình hình sản xuất nông nghiệp 18
2.3.4. Nhận xét chung về những thuận lợi và khó khăn của địa phương 18
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . 20
3.1. Đối tượng và phạm vi 20
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành 20
3.3. Nội dung nghiên cứu 20
3.4. Phương pháp nghiên cứu 20
3.4.1. Phương pháp kế thừa tài liệu có sẵn 20
3.4.2. Phương pháp thu nhập tài liệu hiện trường 20
3.4.2. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 23
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
4.1. Các trạng thái thảm thực vật 25
4.2. Đặc điểm cấu trúc tổ thành ở các trạng thái thảm thực vật. 36
4.2.1. Rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới độ cao trên 800 m 36
10
Phân tích tổ thành thực vật Vườn quốc gia Ba Vì cho thấy: thành phần
loài ở đai cao Ba Vì khá phong phú, có nhiều chi và loài thuộc các họ thực
vật phân bố chủ yếu ở á nhiệt đới và ôn đới. Đã phát hiện có 417 loài, thuộc
323 chi, 136 họ thực vật bậc cao có mạch. trong đó ngành hạt kín chiếm chủ
yếu với 377 loài. Có một số loài quý hiếm như: Bách xanh (Calocedus
macrolepis), phỉ (Cephalotaxus mannii), thông tre (Podacapus neriifilius), ba
gạc (Rauwolfia vertieilata), sến mật (Madhuca pasquieri), vàng tâm
(Manglietia conifera), Trên vùng cao Ba Vì còn tồn tại hai kiểu chính: kiểu
rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp và kiểu rừng hỗn hợp cây lá
rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp. Kiểu rừng thứ nhất chiếm phần lớn diện
tích khu vực nghiên cứu, là một phức hợp những loài ưu thế: Re vàng, vàng
tâm, kháo lá to, bản xe giả, bời lời Ba Vì, trám trắng, bạc tán, dẻ đấu nứt, vỏ
mản, tổ kén, re lá bạc, Kiểu rừng thứ hai phân bố ở vị trí cao hơn và thể
hiện qua sự hiện diện của một số loài cây hạt trần và họ đỗ quyên, rừng

- Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp (Rka):
Kiểu rừng này phân bố ở đai cao trên 700m: Chợ Rã (Bắc Cạn), Nguyên
Bình (Cao Bằng), Quản Bạ, Đồng Văn (Hà Giang), và vùng Tây Bắc Đặc điểm
nổi bật là thực vật thuộc ngành Hạt trần có tỷ lệ tương đối lớn và tập trung, có các
loài như Thông Pà cò, Sam Kim hỷ, Trắc bách Quản bạ, ở độ cao 1000m thuộc
vùng Tây Bắc, xuất hiện ưu hợp Kiêng + Heo (Burretiodendron brilletti + Croton
pseudoverticillata) thuộc kiểu phụ thổ nhưỡng kiệt nước trên đất rendzina giàu
chất dinh dưỡng.
- Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng, lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp (Rkh)
ở Hà Giang, Tuyên Quang và Ninh Bình ở độ cao dưới 700m, với ưu hợp
Nghiến + Kim giao + Hoàng đàn (Burretiodendron hsienmu + Podocarpus
latiofolia + Cupressus terulus) cùng một số loài cây thuộc các họ Thích, Dẻ,
Ngoài ra, tại những khu vực sau hoạt động nương rẫy hoặc những khu rừng
đã bị khai thác nhiều lần đến cạn kiệt ở nhiều tỉnh như Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà
12
Giang, Hoà Bình, Quảng Bình , xuất hiện một dạng thực bì có diện tích tương
đối lớn với những loài cây bụi, cây gỗ nhỏ như Ô rô, Mạy tèo, Xẻn gai, Dạng
thực bì này được gọi là Quần lạc cây bụi, cây gỗ rải rác trên núi đá vôi.
Trần Ngũ Phương (1970) [14], khi đề cập đến rừng ở miền Bắc Việt Nam
đã xếp rừng trên núi đá vôi vào: (1) đai rừng nhiệt đới mưa mùa với kiểu rừng
nhiệt đới lá rộng thường xanh núi đá vôi, kiểu này có 4 kiểu phụ thổ nhưỡng
nguyên sinh 1-2 tầng cây gỗ, trong đó Nghiến là loài cây ưu thế; (2) đai rừng á
nhiệt đới mưa mùa với kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đá vôi, kiểu này có 3
kiểu phụ một tầng, trong đó các loài Vân sam (Keteeleria calcarea), Hoàng đàn
(Cupressus terulus) và Kim giao (Podocarpus latiofolia) chiếm ưu thế.
Ngoài ra, Theo Nguyễn Bá Thụ (1995) [5], rừng trên núi đá vôi ở Cúc
Phương được xếp vào quần hệ phụ rừng rậm nhiệt đới thường xanh mưa mùa
cây lá rộng trên đất thấp (dưới 500 m so với mặt nước biển) thoát nước phong
hoá từ đá vôi và quần hệ phụ này bao gồm 6 quần xã, trong đó các loài cây chính
tham gia gồm Chò đãi, Sấu, Nhội, Vàng anh, Chò nhai, Mạy tèo, Sâng, Dẻ gai,

Đánh giá tính đa dạng thực vật trên núi đá vôi phía đông bắc khu bảo
tồn thiên nhiên Hữu Liên – Hữu Lũng – lạng Sơn, Nguyễn Nghĩa Thìn và
cộng sự đã điều tra trong diện tích khoảng 48 km
2
, và đã xác định được 554
loài, 334 chi, 124 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch là: Thông đất -
Licopodiophyta, Cỏ tháp bút - Equisetophyta, Dương xỉ - Polypodiophyta,
Thông nghiệp (Hạt trần) - Pinophyta (Gymnospermae), Mộc lan (Hạt kín) -
Magnoliophyta (Angiospermae).
Khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trên núi đá vôi tại ba địa
phương ở miền Bắc Việt Nam tác giả Bùi Thế Đồi (2001) cho rằng: Trong tất
cả các quần xã thực vật rừng nghiên cứu ở ba địa phương, chỉ có <10 loài cây
tham gia trong công thức tổ thành, cao nhất ở Tân Hoá - Quảng Bình và thấp
nhất là ở Tự Do – Cao Bằng. Các loài cây chính tham gia trong các QXTV
4.2.2. Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi thấp từ 600 – 800 m 37
4.2.3. Kiểu rừng phục hồi sau nương rẫy 38
4.2.4. Rừng kín thường xanh trên núi đá vôi có độ cao trên 700 38
4.2.5. Rừng hỗn giao cây lá rộng lá kim có độ cao trên 700 39
4.2.6. Rừng kín thường xanh trên núi đá vôi có độ cao 500 - 700m 40
4.3. Đặc điểm chỉ số đa dạng loài ở các trạng thái thảm thực vật. 41
4.4. Biện pháp bảo tồn và phát triển hệ thực vật thân gỗ 44
4.3.1. Chính sách hỗ trợ vùng đệm 44
4.3.2. Giải pháp bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng 44
4.3.3. Giải pháp về tổ chức quản lí 44
4.3.4. Chính sách về tài chính đầu tư 44
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
5.1. Kết luận 45
5.2. Kiến nghị 45

15

diện tích KBT, diện tích rừng ở đây chủ yếu nằm trên núi đá. Khu bảo tồn loài
và sinh cảnh Nam Xuân Lạc nằm chủ yếu trên địa phận hai thôn Nà Dạ và
thôn Bản Khang xã Xuân Lạc - huyện Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn, có tọa độ địa
lý 220
0
17’- 22
0
19’ và 105
0
28’- 105
0
33’E [2].
- Phía Bắc giáp thôn Bản Eng và Bản Tưn xã Xuân Lạc - huyện Chợ
Đồn - tỉnh Bắc Kạn.
- Phía Tây giáp xã Thanh Tương và Vĩnh Yên - huyện Na Hang - tỉnh
tuyên Quang.
- Phía Đông giáp Thôn Cốc Tộc xã Đồng Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
- Phía Nam giáp thôn Phia Khao, thôn Khuổi Kẹn xã Bản Thi - Chợ Đồn -
Bắc Kạn.
2.3.1.2. Điều kiện khí hậu, thủy văn
* Khí hậu: Theo số liệu khí hậu thuỷ văn của huyện Chợ Đồn thì khu
vực xã Xuân Lạc và xã Bản Thi có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa hè từ
tháng 4 đến tháng 10, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
- Nhiệt độ trung bình hàng năm là 20.1
0
C
- Lượng mưa trung bình là 153mm phân bố không đều giữa các tháng
trong năm.
- Sương muối mùa đông thường xuất hiện 1 đến 2 đợt.
* Thuỷ văn: Trong khu vực có một con suối chính bắt nguồn từ xã Vĩnh

Aquilaria crassna Trầm hương EN
Lithocarpus finetii Sồi đấu đứng EN
Manglietia fordiana Vàng tâm VU
Nageia fleuryi Kim giao EN
Anoectochilus setaceus Kim tuyến EN
Paphiopedilum henryanum Hài henry CR
Nervilia fordii Thanh thiên quỳ EN
Gynostemma pentaphyllum Dần toòng EN
Lysimachia chenii Trân châu chen EN
(Nguồn:Báo cáo về tài nguyên thiên nhiên của KBTL & SC Nam Xuân Lạc)
18
* Về động vật
Theo các kết quả điều tra đã thống kê về khu hệ động vật và ghi nhận sự có
mặt của 29 loài thú thuộc 04 bộ, 12 họ, 47 loài chim thuộc 09 bộ, 21 họ và 12 loài
bò sát thuộc 06 họ. Chính sự có mặt của các loài này đã làm cho KBT loài và sinh
cảnh Nam Xuân Lạc trở thành một trong những khu vực được ưu tiên bảo tồn cao
ở miền Bắc Việt Nam
2.3.2. Tình hình dân cư kinh tế
Khu bảo tồn nằm trên địa bàn của xã Xuân Lạc và xã Bản Thi với tổng số
986 hộ, 4750 khẩu, phần lớn là đồng bào Dao và Tày. Trong đó tỷ lệ hộ nghèo
chiếm 45,13%. Cư dân trong vùng chủ yếu sống tập trung thành các bản, những
hộ ở trên cao rải rác đã chuyển xuống thấp sống cùng bản làng.
2.3.3. Tình hình sản xuất nông nghiệp
Diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ quá nhỏ so với tổng diện tích. Trong
đó đất trồng lúa, màu bình quân 383m
2
/khẩu. Sản phẩm trồng trọt chủ yếu là lúa
nước, ngô, lúa nương, sắn Trong khu vực không có hoạt động sản xuất lâm
nghiệp của các Lâm trường. Khai thác gỗ của nhân dân mà chủ yếu là thu hái lâm
sản tự phát. Trước đây, lâm sản chính do người dân khai thác từ rừng chủ yếu là

Bảng 4.9. Chỉ số đa dạng thực vật thân gỗ kiểu rừng kín phục hồi sau nương
rẫy đới độ cao từ 600 đến 800 m 42
Bảng 4.10. Chỉ số đa dạng thực vật thân gỗ kiểu rừng kín thường xanh trên
núi đá vôi độ cao trên 700 m 42
Bảng 4.11. Chỉ số đa dạng thực vật thân gỗ kiểu rừng hỗn giao cây lá rộng lá
kim có độ cao trên 700 m 43
Bảng 4.12. Chỉ số đa dạng thực vật thân gỗ kiểu kín thường xanh trên núi đá
vôi có độ cao 500 - 700m 43

Trích đoạn Rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới độ cao trên 800m Chính sách về tài chính đầu tư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status