PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Lịch sử xã hội loài người gắn liền với các nền văn minh, trong đó văn minh
nông nghiệp xuất hiện sớm nhất, tạo tiền đề cho các nền văn minh khác xuất hiện, đưa
xã hội loài người ngày càng phát triển. Có thể nói, nông nghiệp từ lâu đã có vai trò
quan trọng trong cuộc sống của con người. Ngày nay khi xã hội ngày càng phát triển,
khoa học công nghệ ngày càng hiện đại thì vai trò của nông nghiệp ngày càng được
nâng cao. Sản xuất nông nghiệp hiện đại không chỉ đáp ứng nhu cầu về số lượng mà
còn đáp ứng nhu cầu về chất lượng ngày càng cao của con người.
Hiện nay, song song với sự phát triển của các ngành công nghiệp thì nông
nghiệp cũng có những bước tiến khá xa so với những thập kỉ trước. Để có được sự thay
đổi đó, khoa học công nghệ là yếu tố quyết định hàng đầu. Thực tiễn cho thấy nhiều
nước trên thế giới đã ứng dụng rất thành công những thành tựu của công nghệ sinh học
vào sản xuất nông nghiệp: ứng dụng của di truyền, đã tạo ra nhiều giống mới có năng
suất cao hơn, phẩm chất tốt hơn, khả năng chống chịu sâu bệnh cao hơn, mẫu mã đẹp,
đa dạng hơn và phù hợp với thị hiếu của con người. Khoa học công nghệ đã hạn chế rất
nhiều sự phụ thuộc của nông nghiệp vào điều kiện bất lợi của môi trường: người ta có
thể trồng rau thủy canh trong môi trường không cần đất hay ở các nước ôn đới vào mùa
đông, người ta có thể trồng các loại rau, củ trong lồng kính khi không thể canh tác
ngoài đồng vì nhiệt độ quá thấp. Có thể nói: khoa học công nghệ là yếu tố then chốt
quyết định mọi thành công. Nó đã khắc phục một phần yếu tố ảnh hưởng bất lợi đến
sản xuất nông nghiệp, mang lại giá trị thu nhập từ nông nghiệp ngày càng cao. Và nông
nghiệp ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của các nước trên thế
giới.
Việt Nam là nước nông nghiệp, hơn 75% dân số ở nông thôn và khoảng 70%
dân số sống phụ thuộc vào nông nghiệp, thu nhập từ nông nghiệp chiếm khoảng 20%
tỉ trọng cơ cấu thu nhập từ các ngành kinh tế quốc dân.
Đây là ngành kinh tế quan trong của đất nước vì nó đã đảm bảo được an ninh
lương thực quốc gia. Trong thời gian qua, nông nghiệp việt nam đã có những bước tiến
mạnh mẽ: Từ một nước phải nhập khẩu lúa gạo đến nay đã vươn lên đứng thứ 2 trên
1
2
50 triệu/ha/năm, mô hình đưa giống mới vào sản xuất, mô hình chăn nuôi công nghệ
cao, mô hình trồng rau sạch….
Phù Cát cũng như nhiều địa phương khác trong tỉnh Bình Định, với dân số chủ
yếu sống ở nông thôn (trên 85%) và sống phụ thuộc vào nông nghiệp rất lớn (trên
80%), nhưng nông nghiệp Phù Cát vẫn còn lạc hậu, manh mún, nhỏ lẻ,… khả năng ứng
dụng tiến bộ kỹ thuật của người dân vào sản xuất còn thấp. Trong những năm qua đã
có rất nhiều mô hình đã triển khai thực hiện trên địa bàn huyện, do Trung tâm khuyến
nông, do Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật Duyên hải Nam Trung Bộ, và nhiều cơ
quan, tổ chức khác chủ quản. Trong quá trình thực hiện không phải mô hình nào cũng
đạt kết quả như mong đợi, có mô hình thành công, có mô hình thất bại, có mô hình
nhân rộng nhanh, có mô hình nhân rộng chậm hoặc không nhân rộng được… Vì vậy
cần có những đánh giá hiệu quả các mô hình đã được áp dụng để rút ra nhưng bài học
kinh nghiệm và những giải pháp để thực hiện mô hình tốt hơn.
Xuất phát từ thực tế nói trên, được sự nhất trí của khoa KN&PTNT và sự giúp
đỡ của GVHD, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả một số mô
hình sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phù Cát – tỉnh Bình Định trong 3 năm
2005-2007”.
1.2 MỤC TIÊU
1. Đánh giá hiệu quả một số mô hình sản xuất nông nghiệp đã triển khai trên địa bàn
huyện Phù Cát từ năm 2005-2007
2. Rút ra những bài học kinh nghiệm và giải pháp để thực hiện mô hình tốt hơn.
3. Khuyến cáo nhân rộng đối với những mô hình thành công.
3
PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHUYỂN GIAO KỸ THUẬT
TIẾN BỘ TRONG NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN
2.1.1 Chuyển giao kỹ thuật tiến bộ (KTTB) trong nông nghiệp và nông thôn
2.1.1.1 Các khái niệm
Có nhiều định nghĩa về chuyển giao TBKT
chuyển giao. Theo các tác giả Nguyễn Văn Thu và Bùi Mạnh Hải (2001) thì khả năng
ứng dụng và phổ cập của một tiến bộ kỹ thuật phụ thuộc vào “sức đẩy của công nghệ”
và “sức kéo theo nhu cầu” vì thế nên khi lựa chọn KTTB để chuyển giao không những
phải xem xét tính “tiến bộ” mà quan trọng hơn phải làm rõ được “nhu cầu” của địa bàn
sẽ tiếp thu công nghệ.
2.1.1.2 Mục đích của chuyển giao KTTB
Công tác chuyển giao KTTB nhằm giúp nông dân có khả năng tự giải quyết các
vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất để nâng cao đời sống và
dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới thông qua áp dụng thành công
KTTB bao gồm cả những kiến thức và kỹ năng về quản lý, thông tin và thị trường,các
chủ trương chính sách về nông nghiệp và nông thôn (FAO, 2001). Chuyển giao KTTB
còn phải giúp nông dân liên kết lại với nhau để phòng và tránh thiên tai, tiêu thụ sản
phẩm phát triển ngành nghề, xúc tiến thương mại, giúp nông dân phát triển khả năng tự
quản lý, điều hành và tổ chức các hoạt động xã hội nông thôn ngày càng tốt hơn (Bộ
NN và PTNT, 2002). Như vậy, mục đích của chuyển giao KTTB: Một là, Đẩy mạnh
sản xuất hàng hóa một cách bền vững, góp phần xây dựng nông thôn theo hướng công
nghiệp hóa hiện đại hóa, dân chủ hóa và hợp tác hóa; Hai là, nâng cao thu nhập của
nông dân, giúp nông dân giải quyết và đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của họ, thực
hiện xóa đói giảm nghèo; Ba là, nâng cao dân trí trong nông thôn; Bốn là, phát hiện các
vấn đề mới nảy sinh, thẩm định các kết quả nghiên cứu để hình thành chiến lược
nghiên cứu. Công tác chuyển giao KTTB chỉ có thể có hiệu quả khi kết quả chuyển
giao được nông dân chấp nhận, tồn tại bền vững trong nông dân và cộng đồng, góp
phần cải thiện cuộc sống của nông dân
2.1.1.3 Quan hệ giữa chuyển giao và nghiên cứu.
Nghiên cứu và chuyển giao KTTB trong nông nghiệp là nhiệm vụ cơ bản của
các cơ quan nghiên cứu và ứng dụng (Bộ NN&PTNT, 2000).Nghiên cứu là giải quyết
5
các vấn đề khó khăn và nhu cầu do thực tiễn đặt ra và phục vụ thực tiễn. Đối với nông
dân thì nghiên cứu chủ yếu là giải quyết các vấn đề khó khăn mà nông dân gặp phải về
kinh tế, xã hội, môi trường đảm bảo cho nền nông nghiệp phát triển bền vững. Trong
2.1.1.5 Các phương thức chuyển giao KTTB tới nông dân.
Phương thức chuyển giao là cách thức tiến hành chuyển giao KTTB tới nông
dân. Phương thức chuyển giao KTTB bao gồm phương thức tiếp cận chuyển giao và
phương pháp chuyển giao.
a, Các phương thức tiếp cận trong chuyển giao KTTB trong nông nghiệp
Theo Frank Ellis (1992), quá trình chuyển giao kỹ thuật tiến bộ trên thế giới trải
qua các phương thức tiếp cận khác nhau: Chuyển giao công nghệ (TOT), Chuyển giao
công nghệ ứng dụng (ATT), Nghiên cứu hệ thống nông nghiệp (FSR). Theo thời gian,
các phương thức tiếp cận cần chuyển giao ngày một hoàn thiện. Vào những năm cuối
của thế kỷ 20, đã xuất hiện phương pháp tiếp cận mới trong chuyển giao “Nghiên cứu
có sự tham gia của nông dân” (FPR) (Daniel, 1997).
* Phương thức chuyển giao công nghệ TOT: Phương thức tiếp cận này rất phổ
biến trên thế giới trong nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp ở thập kỷ 50
và 60 của thế kỷ 20 (Frank Ellis, 1992). Theo phương thức này, được tạo ra và lan
truyền các KTTB là một quá trình đường thẳng từ những viện nghiên cứu của các nước
giàu sang nước nghèo, và từ các viện nghiên cứu của các nước nghèo tới trung tâm
khuyến nông và cuối cùng tới nông dân. Tuy vậy, phương thức này vẫn còn khá ngự trị
trong chương trình nghiên cứu nông nghiệp các nước. Theo phương thức tiếp cận này,
người làm tốt công tác chuyển giao KTTB có những quan niệm: Một là, hiện đại là tốt
nhất; hai là, công nghệ trong nông nghiệp có khả năng chuyển giao toàn cầu không cần
tính đến các điều kiện sinh thái địa phương; ba là, nông dân ở những nước nghèo còn
lạc hậu họ cần phải áp dụng một cách nhanh chóng các kỹ thuật để trở thành nông dân
hiện đại (Paniel, 1997; Frank, 1992; Chamber, 1989). Những người áp dụng phương
thức này cho là luôn tồn tại kỹ thuật nông nghiệp phù hợp để nông dân ở các nước
nghèo chuyển giao và ứng dụng (Horton, 1984; Havertkort, 1988). Đây là cách nhìn sai
lầm. Nông dân sản xuất nhỏ đã không tiếp thu được những công nghệ đó. Trong những
điều kiện đó, chỉ có thể nông dân giàu, sản xuất quy mô lớn có thể tiếp cận và được lợi
7
từ phương thức chuyển giao này (Chamber và Ghidyal, 1985). Phương thức này nhìn
nông dân là người nhận công nghệ một cách thụ động
gia của nông dân.
* Nghiên cứu có sự tham gia của nông dân (FPR): FPR còn được gọi nhiều
khái niệm khác nhau: Nông dân dựa vào nghiên cứu nông dân (farm back to farmer
research) (Rhoabse và Booth, 1982). Nông dân là điểm đầu tiên và cuối cùng của
nghiên cứu (Chambers and Ghidyal,1985) và Phát triển công nghệ có sự tham gia
(Participatory Technology Development) (Tan, 1985). Đây là phương pháp tiếp cận
trong nghiên cứu xuất phát từ nông dân, do nông dân đặt kế hoạch và thực hiện trong
sự hợp tác giữa nông dân với cán bộ nghiên cứu (Daniel, 1997). FPR có các đặc điểm
cơ bản sau: Đặc trưng cơ bản của cách tiếp cận này là thu hút sự tham gia của nông dân
và phát triển công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng và vật nuôi. Nông
dân tham gia một cách tích cực trong toàn bô quá trình nghiên cứu. Quá trình nghiên
cứu này được tiến hành trên ruộng của nông dân. Vai trò của người cán bộ nghiên cứu
lúc này là người khám phá, người bạn và người cố vấn của nông dân. FPR được dựa
trên các tiếp cận hệ thống, yêu cầu sự hợp tác đa ngành giữa nông dân và cán bộ
nghiên cứu và nó khuyến khích phương pháp sáng tạo linh hoạt.
Trên đây là một trong những cách phân loại lịch sử của các cách tiếp cận trong
công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật. Theo Lê Hưng Quốc (1998) thì trong công tác
khuyến nông khuyến lâm có 3 cách tiếp cận chủ yếu: Cách tiếp cận theo mô hình
“chuyển giao”, Cách tiếp cận theo mô hình trình diễn, Cách tiếp cận theo khuyến nông
khuyến lâm lan rộng. Trong đó, cách tiếp cận theo mô hình “chuyển giao” là cách tiếp
cận khá phổ biến trước đây. Đây là một hình thức khuyến nông khuyến lâm mang hình
thức một chiều, có nhiều nhược điểm ngay trong nhận thức đối với cán bộ khuyến
nông khuyến lâm và quá trình thực hiện khuyến nông khuyến lâm. Đến những năm 70
thì cách tiếp cận theo mô hình trình diễn, theo hướng lấy nông dân làm trung tâm rất
phát triển. Theo cách tiếp cận này, vai trò của người dân được chú trọng từ việc xác
định nhu cầu, thực hiện, chấp nhận và phổ cập. Quá trình này cho phép vị trí của nông
dân ngày càng cao trong quá trình khuyến nông khuyến lâm. Theo thời gian, các
phương thức tiếp cận ngày càng có hiệu quả hơn, đến năm 1984 cách tiếp cận theo
khuyến nông khuyến lâm lan rộng được bắt đầu áp dụng ở nhiều nước dựa trên cách
tiếp cận từ nông dân đến nông dân. Từ năm 1995 chương trình hợp tác lâm nghiệp Việt
tiếp cận này chủ yếu nhằm thỏa mãn dịch vụ đầu vào để hoàn thành các chương trình
khuyến nông hơn là thỏa mãn nhu cầu từ người dân. Cho nên nó phát huy tác dụng rõ
10
rệt nhất ở những vùng đồng bằng, vùng dân trí cao và thường thành công đối với các
cây nông nghiệp và vật nuôi. Còn ở những vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít
người và đối với cây lâm nghiệp dài ngày thì cách tiếp cận này còn có nhiều mặt hạn
chế. Ngoài ra các nông lâm trường hoặc các công ty sản xuất kinh doanh ngành hàng
như cà phê, cao su, chè,… cũng áp dụng theo cách tiếp cận này.
Còn đối với các chương trình, dự án phát triển nông thôn có nguồn tài trợ nước
ngoài thường sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân
(PRA) trong hoạt động khuyến nông. Cách tiếp cận này nhằm thỏa mãn nhu cầu từ
người dân. PRA được coi là công cụ lập kế hoạch phát triển có sự tham gia của người
dân lần đầu tiên được áp dụng trong chương trình hợp tác lâm nghiệp Việt Nam-Thụy
Điển do SIDA tài trợ vào cuối năm 1991. Đây là chương trình sử dụng PRA một cách
hệ thống trên một địa bàn rộng trong một thời gian dài.
Ngoài hai phương pháp tiếp cận trên, các hệ thống dịch vụ vật tư nông nghiệp
và các công ty sản xuất sản phẩm vật tư nông nghiệp hoạt động khuyến nông bằng các
biện pháp hướng dẫn kỹ thuật sử dụng vật tư nông nghiệp có hiệu quả cho năng suất
cao. Thực chất đây là một trong những hình thức quảng cáo bằng các cách như: Mở hội
nghị khách hàng, xây dựng mô hình trình diễn… thông qua các tổ chức khuyến nông
nhà nước.
Một cách tiếp cận khuyến nông rất hiệu quả nữa là tiếp cận đào tạo nông dân
trên đồng ruộng (FFS). Cách tiếp cận này được áp dụng cho các chương trình IPM. Từ
năm 1992 chương trình IPM đã được triển khai ở Việt Nam. Giải pháp cơ bản của IPM
là mở các lớp học trên đồng ruộng cho nông dân với cách học thông qua việc làm thực
tế. Những nông dân đã được học qua lớp đào tạo lại trở thành giảng viên để truyền đạt
những kiến thức được cho những nông dân khác trong cộng đồng tạo ra hình thái phát
triển hình cây mở rộng được kết quả. Điểm mạnh của phương pháp IPM là nó không
phụ thuộc vào việc phải có một tổ chức khuyến nông chính thức ở các thôn bản mà
thay vào đó nó chủ yếu dựa vào các nhóm nông dân tình nguyện, những người mong
2.1.2. Tình hình chuyển giao KTTB trong nông nghiệp ở một số nước và ở Việt
Nam.[1]
2.1.2.1 Tình hình chuyển giao KTTB ở một số nước.
Chuyển giao KTTB là một nội dung chủ yếu trong chiến lược phát triển nông
nghiệp và nông thôn của các nước trên thế giới và nhất là các nước đang phát triển
(Chamber, 1990; Daniel, 1997; Niels, 1990). Công tác chuyển giao KTTB chủ yếu do
12
các Cơ quan khuyến nông nhà nước, các Viện nghiên cứu nông nghiệp, các Tổ chức
phát triển và thành phần kinh tế tư nhân tiến hành. Khoa học khuyến nông ra đời hơn
100 năm trước kia (1887) do Richard Muolton- một giảng viên của Đại học Cambridge
ở nước Anh khởi xướng. Khuyến nông được tổ chức thành hệ thống từ Trung ương đến
địa phương để giúp nông dân giải quyết các vấn đề khó khăn của chính họ. Các nước
Đông Nam Châu Á, đều có Cục khuyến nông hay các tổ chức tương tự làm nhiệm vụ
khuyến nông. Trung Quốc không tổ chức thành Cục khuyến nông nhưng có Cục truyền
bá kỹ thuật nông nghiệp. Hệ thống khuyến nông được tổ chức rộng khắp. Phương pháp
cơ bản trong chuyển giao những năm những năm cuối thế kỷ 20 là Phương pháp nhóm
(tập huấn có sự tham gia, mô hình trình diễn, tham quan, hội nghị đầu bờ), Phương
pháp cá nhân ( tập huấn và gặp gỡ, trao đổi và tư vấn). Các chính phủ của các nước
như Phi-lip-pin, Sin-ga-po, Ma-lay-sia, Thái Lan đều thực hiện chính sách trợ giá đầu
vào cho nông dân thôn qua gắn với các chương trình chuyển giao KTTB. Tuy nhiên,
trong nhiều thập kỉ trợ giá, hiệu quả của các chương trình khuyến nông không cao.
Hiện nay xu hướng chung là công tác chuyển giao KTTB được thực hiện dưới nhiều
hình thức phù hợp, giảm dần sự trợ cấp của chính phủ, tăng cường phát huy sự tham
gia của người dân.
2.1.2.2 Tình hình chuyển giao KTTB trong nông nghiệp ở Việt Nam
Việc chuyển giao kỹ thuật tiến bộ trong nông nghiệp ở Việt Nam gắn liền với sự
phát triển của nền nông nghiệp và được chia thành ba giai đoạn chủ yếu.
Giai đoạn trước năm 1988, KTTB được chuyển giao chủ yếu qua các hợp tác xã
nông nghiệp, theo hệ thống sản xuất kế hoạch hóa tập trung. Trong giai đoạn này, các
quyết định sản xuất chủ yếu do HTX tiến hành, KTTB được chuyển giao từ cơ quan
bảo quản nông sản phục vụ cho nông dân.
Về phương pháp khuyến nông, hệ thống chuyển giao của chúng ta đã áp dụng
khá đủ các phương pháp bao gồm xây dựng mô hình trình diễn, tập huấn, tham quan,
hội nghị đầu bờ, biên soạn tài liệu phổ biến, phát trên vô tuyến truyền hình. Tuy nhiên,
phương pháp mô hình trình diễn và tập huấn vẫn là chính ( Lê Hưng Quốc, 2001; Bộ
NN& PTNT, 2002). Có thể tóm tắt các mô hình khuyến nông chuyển giao thành các
dạng sau: Một là, Mô hình khuyến nông – nông dân là mô hình khuyến nông nhà nước
phối hợp với nông dân thực hiện chuyển giao; hai là, Mô hình doanh nghiệp- khuyến
nông-nông dân là mô hình chuyển giao có sự tham gia của doanh nghiệp; ba là, Mô
hình ngân hàng-khuyến nông-nông dân là mô hình chuyển giao có sự tham gia của
14
ngân hàng trong hỗ trợ và quản lý vốn vay; bốn là, Mô hình 3+1 là mô hình gồm
khuyến nông, doanh nghiệp, ngân hàng cùng liên kết với nông dân để sản xuất ra hàng
hóa (Lê Hưng Quốc, 2002). Các mô hình trên được phát triển thành “liên kết 5 nhà” để
sản xuất hàng hóa (nhà khoa học và nhà khuyến nông chuyển giao KTTB cho nhà
nông, Nhà nông làm ra hàng hóa nông nghiệp, Nhà ngân hàng cung cấp vốn cho việc
ứng dụng KTTB vào sản xuất và Nhà nước hình thành khung chính sách cho chuyển
giao và sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản hàng hóa) (Đỗ Kim Chung, 2002).
Ở Việt Nam, công tác chuyển giao KTTB đã có đóng góp quan trọng trong việc
xây dựng mô hình trình diễn, hướng dẫn nông dân sản xuất và áp dụng KTTB vào sản
xuất, từng bước chuyển từ sản xuất tự túc, tự cấp sang nền nông nghiệp hàng hóa đa
dạng và hiệu quả, hướng mạnh xuất khẩu, phát triển ngành nghề nông thôn mới, tăng
thu nhập, xóa đói giảm nghèo. Công tác chuyển giao KTTB trong thời gian qua đã đạt
được một số kết quả chủ yếu sau: Đã đáp ứng được nhu cầu chỉ đạo của Đảng và Nhà
nước, tạo được lòng tin và hưởng ứng của nông dân, đã thực hiện được chuyển giao
KTTB tới nông dân theo các chương trình khuyến nông có hiệu quả, đặc biệt trên lĩnh
vực giống cây trồng, vật nuôi có ưu thế lai, các KTTB được áp dụng thành công trong
nông nghiệp. Công tác chuyển giao KTTB góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng từ 4-
4,5%, phát triển nông sản hàng hóa, đời sống nông dân được cải thiện đáng kể. Khâu
đột phá trong chuyển giao KTTB là đưa nhiều giống cây trồng, giống vật nuôi năng
sinh thái để đem lại hiệu quả kinh tế hoặc luồn lách theo thời vụ nhằm né tránh thời tiết
khắc nghiệt. Ví dụ, các mô hình vườn đồi, mô hình trồng rau,… ở trung du và miền
núi.
- Nhằm tạo cho người dân ý thức về phát triển bền vững, nghĩa là phát triển kinh
tế phải quan tâm đúng mức tới bảo vệ môi trường, không làm cạn kiệt nguồn tài
nguyên thiên nhiên. Ví dụ, mô hình chăn nuôi kết hợp với Bioga, mô hình vườn đồi,…
- Tạo ra những hình mẫu về sản xuất để tổ chức các chuyến tham quan học tập,
các lớp tập huấn hay hội nghị đầu bờ nhằm chuyển giao các kỹ thuật tiến bộ vào sản
xuất theo cách “nông dân tự chuyển giao cho nông dân”.
- Để ứng dụng những kỹ thuật mới hoặc thuyết phục người dân trước khi phổ
biến ra diện rộng. Góp phần khẳng định tính khả thi của một phương án sản xuất để
16
giai đoạn tiếp theo chỉ cần tiếp tục bổ sung chứ không phải mày mò thử nghiệm mà có
thể yên tâm, phát triển trên diện rộng khi có vốn đầu tư và có thị trường tiêu thụ sản
phẩm.
Nghiên cứu về phương pháp chuyển giao KTTB tại 13 tỉnh miền núi phía Bắc
cho thấy: Xây dựng mô hình trình diễn là phương pháp chủ đạo để chuyển giao các kỹ
thuật tiến bộ cho người dân (93,3% số cơ quan và dự án áp dụng). Đây là phương pháp
rất thành công, nhất là với đồng bào các dân tộc thiểu số. Kết quả nghiên cứu cũng cho
thấy, hầu hết cán bộ và nông dân được phỏng vấn ở 13 tỉnh đều cho rằng: Mô hình
trình diễn là rất quan trọng vì: một là, nông dân chỉ làm theo khi họ thấy được kết quả;
hai là, mô hình là nhằm để khẳng định tính phù hợp của KTTB tại địa phương.
2.2.3 Một số nguyên tắc khi thực hiện mô hình trình diễn
- Phải đáp ứng các nhu cầu đích thực của nông dân và mang lại hiệu quả kinh tế
cho họ.
- Người dân cần xác định rõ trách nhiệm của mình khi tham gia các mô hình.
Phải làm cho dân hiểu: làm mô hình là vì lợi ích của chính họ, không phải làm “cho”
dự án
- Khuyến khích sự tham gia của người dân càng nhiều càng tốt, đó chính là điều
kiện để đảm bảo tính bền vững của mô hình.
lai thương phẩm đã triển khai ở 39 tỉnh với hơn 250.000 hộ nông dân tham gia trên
tổng diện tích mô hình là: 2.258.355ha. Kết quả chương trình đã góp phần phát triển
mạnh mẽ diện tích lúa lai từ vài hecta ở những năm đầu thập kỷ 90, đến nay diện tích
lên trên 600.000ha/năm, góp phần tăng sản lượng lương thực của cả nước, góp phần
quyết định giữ vững ANLT cho các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc nói riêng và cả
nước nói chung. Tham gia vào việc tự túc sản xuất hạt lúa lai F1 trong nước khoảng
25% và khống chế giá nhập nội.
18
2.3.1.2 Chương trình khuyến nông phát triển ngô lai
Chương trình đã triển khai hầu hết các tỉnh, nhiều nhất là vùng Trung du và
miền núi phía Bắc, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Với sự tham gia của hơn 9.000 hộ
nông dân trên 12.000 ha mô hình, góp phần tăng năng suất ngô từ 21.1 tạ/ha lên 32.2
tạ/ha. Giá thành sản xuất hạt giống trong nước chỉ bằng 50% so với giá giống nhập nội,
góp phần tiết kiệm được 20 triệu USD nhập giống hàng năm.
2.3.1.3 Chương trình khuyến nông chuyển đổi cơ cấu mùa vụ
Chương trình đã triển khai hầu khắp các tỉnh trong cả nước với tổng diện tích
mô hình 6.410ha. Chương trình đã góp phần thúc đẩy mở rộng diện tích, chuyển đổi
trên 600.000 ha từ cây trồng kém hiệu quả, chế độ canh tác cũ sang cây trồng, chế độ
canh tác mới hiệu quả cao, làm tăng thêm thu nhập trên mỗi ha từ 1.3 đến 5 lần, thậm
chí có nơi trên 100 lần với giá trị tương đương từ 5 đến 200 triệu đồng. Chương trình
còn góp phần né tránh thiên tai bất thuận cho cây trồng.
2.3.1.4 Chương trình khuyến nông phát triển cây công nghiệp dài ngày ( café, chè, cao
su, tiêu điều,…).
Chương trình được triển khai trên nhiều tỉnh nhất là ở vùng Tây Nguyên và
Trung du miền núi phía Bắc thu hút trên 15.000 hộ nông dân tham gia trên tổng diện
tích mô hình 10.013ha. Kết quả đã góp phần mở rộng diện tích theo qui hoạch và cung
cấp nguyên liệu cho cơ sở chế biến và tham gia xuất khẩu.
Chương trình khuyến nông trồng trọt đã phát huy sáng tạo, năng động về sử
dụng những giống cây lương thực mới chất lượng cao, những giống có ưu thế lai…
phục vụ chiến lược phát triển sản xuất, đảm bảo ANLT quốc gia và nông sản hàng hóa
Chương trình đã thu hút trên 482.000 hộ nông dân tham gia ở gần 50 tỉnh,
thành. Kết quả đã đào tạo 700 dẫn tinh viên chính qui, trên 2000 dẫn tinh viên cấp
huyện và 6.000 khuyến nông viên chăn nuôi thú y, huấn luyện kỹ thuật cho 51.400 lượt
hộ. Các giống bò ngoại RedSindhi, Sahiwal, Brehman đã được lai với bò vàng Việt
Nam làm tăng tỷ lệ bò lai cả nước từ 10 lên 25% để nâng khối lượng bò cái từ 170kg
lên 220-250kg, tỷ lệ thịt xẻ tăng từ 40% lên 47%. Chương trình khuyến nông chăn nuôi
cải tạo đàn bò góp phần nâng cao tầm vóc đàn bò vàng Việt Nam làm cơ sở cho việc
20
lại tạo tiếp theo hướng chuyên thịt hoặc sữa và giúp gần nửa triệu hộ chăn nuôi bò lai
có thu nhập tăng trên 1.000 tỷ đồng.
2.3.3.3 Chương trình khuyến nông chăn nuôi gia cầm
Chương trình đã triển khai trên toàn quốc và đã chuyển giao được trên 650.000
gia cầm giống mới cho các hộ nông dân (gà Lương Phượng, Kabin, Sasso, JA-57,
Lương Phượng lai gà Ri, BT1, BT2…các giống vịt, ngan Super M, ngan Pháp dòng
R51, R71…). Chương trình đã giúp nâng tỷ lệ sống và tốc độ tăng trọng của gia cầm;
cung cấp con giống tại chỗ cho các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, tạo thêm việc làm
và tăng thu nhập cho bà con nông dân. Thực tế cho thấy nuôi 100 con gà, vịt, ngan…
giống mới có thể thu lãi 0.3-0.5 triệu đồng thậm chí có những hộ lãi 0.9-1.0 triệu đồng
sau 2-3 tháng chăn nuôi.
Các chương trình chăn nuôi đã góp phần nâng cao trình độ dân trí, trình độ kỹ
thuật, đưa ngành chăn nuôi từ manh mún, nhỏ lẻ dần dần trở thành ngành sản xuất
hàng hóa chính, tập trung, có hiệu quả kinh tế và tính cạnh tranh cao góp phần chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người nông dân, nhất là nông
dân ở các tỉnh khó khăn, tỉnh miền núi.
Bên cạnh những chương trình, những mô hình ở Viêt Nam đã triển khai thực
hiện thành công và nhân rộng tốt. Còn không ít chương trình triển khai một cách ồ ạt,
không kế hoạch đã làm thất thoát rất nhiều tiền của nhà nước và gây thiệt hại kinh tế
của nông dân rất nhiều, chẳng hạn như các chương trình: mía đường, phát triển bò sữa,
mô hình nuôi tôm trên cát…
Theo nguồn từ báo điện tử Kinh tế nông thôn, số ra ngày thứ hai, 11/9/2006 đưa
miền Trung để xây dựng ao nuôi tôm trên cát. Nhưng mặt trái của phương thức nuôi
tôm trên cát ngày càng lộ dạng, gây tác hại lớn đến môi trường. Đặc điểm của mô hình
này là sử dụng rất nhiều nước, đặc biệt là nước ngọt, đây là nguồn nước khan hiếm ở
vùng cát nên chủ yếu là sử dụng biện pháp khoan nước ngầm. Việc khai thác nước
ngầm một cách ồ ạt như hiện nay đã làm phá vỡ mạch nước ngầm, hệ sinh thái vùng
cát, tăng hiện tượng sụt lún địa tầng và xói mòn đất cát ven biển, gây sa mạc hóa cục
bộ, nhiễm mặn sâu vào tầng đất bên trong… đã quan sát thấy hiện tượng cây phi lao
phòng hộ ở Ninh Thuận đã bị chết khô do khai thác qua mức mạch nước ngầm để nuôi
tôm. Mặc khác, lượng chất thải do nuôi tôm gây ra cũng rất lớn, ước tính mỗi năm 1ha
thải ra 8 tấn chất rắn: vỏ tôm, thức ăn thừa…và nhiều hóa chất xử lý ao nuôi. Những
chất thải này đa số được thải trực tiếp ra bên ngoài, gây ô nhiễm môi trường xung
22
quanh ao nuôi, làm cho dịch bệnh phát sinh nhiều, do đó chi phí đầu tư cho ao nuôi
tôm cứ tăng dần. Thực tế, trong 3 năm trở lại đây đã ghi nhận hiện tượng các hộ nuôi
tôm ở các tỉnh khu vực Nam Trung Bộ bị thất bại liên tiếp.
2.4 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC CHUYỂN GIAO TBKT [10]
2.4.1 Ý nghĩa của đánh giá
Theo J. Seepersad và T.H.Henderson, đánh giá là một hoạt động của chúng ta
hàng ngày, bởi vì chúng ta luôn luôn cần phát hiện chính giá trị hay kinh nghiệm của
những vấn đề chúng ta làm. Đánh giá hoạt động khuyến nông có thể được coi là một
quá trình liên tục và có hệ thống đánh giá hoặc tiềm năng của chương trình khuyến
nông.
Theo E.Grober và V.Hoffmann, đánh giá nhằm mục đích đưa ra được những chỉ
dẫn và những khả năng cải tiến hoạt động khuyến nông. Nó so sánh tình trạng ban đầu
với tình trạng hiện nay, trong đó có đến mức nào, hoặc không có tác động của hoạt
động khuyến nông.
2.4.2 Chức năng của đánh giá
Có 4 chức năng sau:
a, Giúp đỡ cán bộ khuyến nông cải tiến công tác
b, Kiểm tra chương trình khuyến nông: Chỉ ra cho cơ quan khuyến nông những
tiên tiến, nông dân chậm tiến, nông dân trung bình, đại diện các tổ chức quần chúng,
đại diện các cấp bộ đảng và chính quyền. Phỏng vấn về thực hiện mục tiêu và các biện
pháp của chương trình khuyến nông.
- Trưng cầu ý kiến: Đối với toàn bộ chương trình, đối với từng loại phương pháp
khuyến nông. Có thể trưng cầu ý kiến tại nhiều buổi họp phạm vi hẹp hoặc rộng, bằng
cách lấy ý kiến hoặc bằng phát phiếu. Trong những bản ghi trắc nghiệm, nên dùng
những từ, cụm từ đơn giản như “có”, “không”, “không ý kiến” hay tự do “giải đáp” đẻ
trả lời. Khi dùng phương pháp này cần chú ý:
+ Nội dung thật đơn giản, nhưng cụ thể và khách quan.
+ Từ ngữ rõ ràng, dễ hiểu
+ Yêu cầu người trả lời, giải đáp đúng sự thật
+ Những thuật ngữ kỹ thuật cần được chú thích rõ.
24
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những mô hình đã triển khai và thực hiện trên địa bàn huyện Phù Cát trong 3
năm từ 2005-2007
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài khóa luận tốt nghiệp tiến hành nghiên cứu ở địa bàn huyện Phù Cát trong
thời gian từ 31/1/2007 đến 10/04/2007.
3.3 Nội dung nghiên cứu:
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Phù Cát
3.3.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện từ 2003-2005
3.3.3 Tình hình thực hiện mô hình trên địa bàn tỉnh Bình Định từ 2001-2006
3.3.4 Tình hình thực hiện mô hình trên địa bàn huyện Phù Cát từ 2005-2007
3.3.5 Bài học kinh nghiệm và giải pháp.
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người
dân(PRA) để thu thập thông tin: