Báo cáo tốt nghiệp ngành khoa học môi trường nghiên cứu một số mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu - Pdf 32

1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Miền núi phía Bắc là vùng rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế,
quốc phòng an ninh và cân bằng hệ sinh thái cho Việt Nam. Tuy nhiên đây là
một trong những vùng nghèo nhất ở nước ta. Có nhiều nguyên nhân gây ra tỷ
lệ nghèo cao trong vùng như sự ngăn cách về địa lý, sự bất bình đẳng về giới,
sự hạn chế trong sự tiếp cận các dịch vụ như khuyến nông, phát triển giáo
dục, y tế cũng như tiếp cận các cơ hội thị trường để phát triển kinh tế (CARE
international in Viet Nam, 2010) [27]. Nhưng những tác động bất lợi của hiện
tượng thời tiết khí hậu và biến đổi khí hậu trong những năm gần đây được xác
định là một nguyên nhân cản trở sự phát triển kinh tế xã hội của người dân
trong vùng. Đặc điểm của vùng đồi núi này là có hệ sinh thái không đồng
nhất và dễ bị thay đổi, nạn phá rừng nghiệm trọng và suy giảm tài nguyên đất.
Người dân đang phải sống trong một môi trường đang ngày một biến đổi
nhanh chóng gây ra bởi những thay đổi đáng kể của khí hậu trong thời gian
gần đây. Các yếu tố vật lý của môi trường khu vực miền núi phía bắc chẳng
hạn như: khí hậu, đất, nước, địa hình và các yếu tố sinh học, thảm thực vật và
động vật, đang bị ảnh hưởng bởi những thay đổi bất thường như sự tăng lên
hoặc giảm nhiệt độ, những trận bão bất thường, và những trận mưa lớn chưa
từng có (CARE international in Viet Nam, 2010) [27]. Chính vì vậy sản phẩm
nông lâm nghiệp của họ thường gặp phải nhiều rủi ro do những biến đổi bất
lợi của thời tiết khí hậu.
Bắc Kạn là một trong những tỉnh nghèo nhất nằm ở trung tâm miền núi
phía bắc Việt Nam đã và đang được tổ chức CARE quốc tế tại Việt Nam và
các tổ chức phi chính phủ triển khai nhiều dự án phát triển liên quan đến xóa
đói giảm nghèo, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và giảm thiểu tác động xấu
của biến đổi khí hậu. Trong 5 năm gần đây Bắc Kạn là một trong những tỉnh
bị thiệt hại lớn trong sản xuất nông nghiệp do sự xuất hiện của thời hiện

đoán, ứng phó và thích ứng với các hiện tượng thời tiết cực đoan
(HTTTTCĐ) và biến động của thời tiết khí hậu trong lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp.
- Phân tích sự hỗ trợ của chính quyền các cấp nhằm thích ứng và giảm
thiểu biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp ở địa bàn nghiên cứu thông
qua việc phân tích các chính sách liên quan.


3

- Theo dõi khả năng thích ứng của các mô hình.


4

1.4. Yêu cầu của đề tài
- Số liệu thu thập phải trung thực, khách quan, chính xác.
- Xây dựng các mô hình có tính khả thi và phù hợp với điều kiện hoàn
cảnh địa phương.
1.5. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
+ Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế
phục vụ cho công tác nghiên cứu sau này.
+ Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu.
+ Nâng cao khả năng tự học tập, nghiên cứu và tìm tài liệu tham khảo
- Ý nghĩa trong thực tiễn
+ Xây dựng các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm nâng cao
hiệu quả kinh tế nông nghiệp.
+ Giảm thiểu những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới môi trường.


- HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC23 là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC-22.
- PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm.
- SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê.


6

2.1.1.3. Một số biểu hiện của biến đổi khí hậu
- Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung.
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi
trường sống của con người và các sinh vật trên Trái đất.
- Sự dâng cao mực nước biển do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các
vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển.
- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các
vùng khác nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh
vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người.
- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển,
chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác.
- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và
thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển.
2.1.2. Thích ứng với biến đổi khí hậu
2.1.2.1. Khái niệm
Khí hậu đã và đang biến đổi và có những tác động tiềm tàng, bất lợi
đến phát triển, vì thế sự thích ứng trở nên ngày càng quan trọng. Thích ứng là
một khái niệm rất rộng và khi áp dụng vào lĩnh vực biến đổi khí hậu nó được
dùng trong rất nhiều trường hợp.
Đối với IPCC (1996) cho rằng: Khả năng thích ứng đề cập đến mức độ
điều chỉnh có thể trong hành động, xử lý, cấu trúc của hệ thống đối với những
biến đổi dự kiến có thể xảy ra hay thực sự đã và đang xảy ra của khí hậu. Sự
thích ứng có thể là tự phát hay được chuẩn bị trước. Như vậy, ở đây vấn đề

thích nghi là cao so với rủi ro hay là những thiệt hại.
- Chia sẻ tổn thất: loại phản úng này liên quan đến việc chia sẻ những
tổn thất giữa một cộng đồng dân cư lớn. Với một sự phân bố khác, các xã hội
lớn chia sẻ những tổn thất thông qua cứu trợ cộng đồng, phục hồi và tái thiết
thông qua viện trợ của các quỹ cộng đồng. Chia sẻ tổn thất cũng có thể được
thực hiện thông qua bảo hiểm xã hội.
- Làm giảm sự nguy hiểm: một hiện tượng tự nhiên như là lụt bão hay
hạn hán, những phương pháp thích hợp là gồm các công tác kiểm soát lũ lụt.
Đối với BĐKH, điều chỉnh thích hợp làm chậm tốc độ BĐKH bằng cách giảm
khí phát thải nhà kính và cuối cùng là ổn định nồng độ của khí nhà kính trong
khí quyển.


8

- Ngăn chặn các tác động: thường xuyên sử dụng các phương pháp
thích nghi từng bước một để ngăn chặn tác động của BĐKH và sự cố dao
động khác.
- Thay đổi cách sử dụng: chỗ nào có hiểm họa của BĐKH thực sự tiến
triển của các hoạt động kinh tế là không thể hoặc là quá mạo hiểm, sự tính
toán có thể mang lại thay đổi và cách sử dụng.
- Thay đổi địa điểm: cần nghiên cứu tính toán kỹ việc di chuyển địa
điểm sản xuất. Ví dụ, chuyển các cây trồng chủ chốt và vùng nông trại ra khỏi
khu vực khô hạn đến một khu vực ôn hòa hơn.
- Nghiên cứu: Quá trình thích nghi có thể phát triển bằng cách nghiên
cứu trong lĩnh vực công nghệ mới và phương pháp mới về thích nghi.
- Giáo dục, thông tin và khuyến khích thay đổi hành vi: phổ biến kiến
thức thông qua các chiến dịch thông tin công cộng và giáo dục, dẫn đến việc
thay đổi hành vi (Nguyễn Hồng Trường, 2008) [18].
Như vậy, sự thích ứng diễn ra cả ở trong tự nhiên và hệ thống kinh tế

địa được hình thành dựa vào kinh nghiệm, thường xuyên kiểm nghiệm trong
quá trình sử dụng, thích hợp với văn hóa và môi trường địa phương, năng
động và biến đổi.
Tóm lại, Kiến thức bản địa là những nhận thức, những hiểu biết về môi
trường tự nhiên, môi trường xã hội, môi trường lao động và môi trường sinh
sống được hình thành từ cộng đồng dân cư ở một nơi cư trú nhất định trong lịch
sử tồn tại và phát triển của cộng đồng ấy. Do vậy, cần nghiên cứu các kiến thức
bản địa thích ứng với các hiện tượng thời tiết cực đoan nhằm tăng khả năng ứng
phó của người dân với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp.
2.1.3.2. Đặc trưng kiến thức bản địa
Kiến thức bản địa có những đặc trưng sau:
- Kiến thức bản địa được hình thành và biến đổi liên tục qua các thế hệ
trong một cộng đồng địa phương nhất định.
- Kiến thức bản địa có khả năng thích ứng cao với môi trường riêng của
từng địa phương - nơi đã hình thành và phát triển kiến thức đó.
- Kiến thức bản địa rất đơn giản, chi phí thấp và bền vững đối với điều
kiện tự nhiên địa phương.
- Kiến thức bản địa do toàn thể cộng đồng trực tiếp sáng tạo ra qua lao
động trực tiếp.
- Kiến thức bản địa không được ghi chép bằng văn bản cụ thể mà được
lưu giữ bằng trí nhớ và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền
miệng, thơ ca, hò vè, tế lễ và nhiều tập tục khác nhau.


10

- Kiến thức bản địa luôn gắn liền và hòa hợp với nền văn hóa, tập tục
địa phương.
- Kiến thức bản địa có giá trị cao trong việc xây dựng các mô hình phát
triển nông thôn bền vững.

11

- Kinh nghiệm
Người nông dân thường tích lũy kinh nghiệm trong quá trình canh tác,
giới thiệu các nguyên liệu giống mới cho hệ thống canh tác đặc hữu. Nhiều
kết quả chữa bệnh đặc biệt được tích lũy qua kinh nghiệm sử dụng nguồn
thực vật địa phương.
- Tài nguyên sinh học
Kiến thức bản địa được thể hiện thông qua quá trình chọn giống vật
nuôi và các loại cây trồng.
- Tài nguyên nhân lực
Nhiều chuyên gia có chuyên môn cao như thầy lang, thợ rèn ... có thể
coi như đại diện của dạng kiến thức bản địa. Kiến thức bản địa trong dạng này
có thể thấy ở các tổ chức địa phương như nhóm họ tộc, hội đồng già làng
trưởng tộc, các nhóm tổ chia sẻ hoặc đổi công.
- Giáo dục
Phương pháp truyền thụ kiến thức truyền thống, cách truyền nghề cho
các thợ học việc, học hỏi thông qua sự quan sát và những thực nghiệm, thực
hành tại chỗ.
2.1.3.4. Vai trò của kiến thức bản địa trong thích ứng với BĐKH
Chương trình mục tiêu quốc gia nhằm ứng phó với BĐKH đã chỉ rõ:
Ứng phó với BĐKH là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị, của toàn xã hội,
của các cấp, các ngành, các tổ chức, mọi người dân; trong nội dung huy động
mọi tiềm năng có thể, thì việc khuyến khích áp dụng kiến thức bản địa trong
thích ứng với BĐKH là một trong những hoạt động trong chiến lược ứng phó
với BĐKH của các bộ ngành địa phương. Kiến thức bản địa (KTBĐ) là một
kho tri thức quý giá của các cộng đồng dân cư bản địa tại một khu vực cụ thể
nào đó; So với hệ thống kỹ thuật hiện đại (tạm gọi là hệ thống kỹ thuật nhập
từ bên ngoài) thì KTBĐ có đặc điểm ưu việt không thể thay thế mà các hệ
thống kỹ thuật nhập từ bên ngoài không có được, đó là: KTBĐ có khả năng

bao gồm: 7 giống cây lương thực thực phẩm, 13 giống cây rau quả, 7 giống
gia cầm và 9 giống gia súc. Tác giả cũng cho rằng các cộng đồng dân tộc
thiểu số MNPB đang quản lý và sử dụng một tập đoàn giống cây trồng và vật
nuối rất phong phú và rất có giá trị cho sản xuất nông nghiệp do có tính chống
chịu cao với các điều kiện bất lợi. Ví dụ cộng đồng người Tày ở Bắc Kạn
đang sử dụng tới 20 giống cây trồng và 3 giống vật nuôi bản địa phổ biến,
trong khi đó cộng đồng người Dao ở Bắc Kạn cũng đang sử dụng tới 19 giống
cây trồng và 4 giống vật nuôi bản địa trong phát triển sinh kế của mọi gia
đình. Các giống bản địa này đang góp phần quan trọng giúp cho sản xuất của
người dân tránh được hiện tượng thời tiết cực đoan xẩy ra mấy năm gần đây.


13

Kiến thức bản địa còn được ứng dụng nhiều trong kỹ thuật canh tác
trong điều kiện thời tiết khí hậu cực đoan. Với điều kiện canh tác chủ yếu trên
đất dốc nhiều biên pháp kỹ thuật truyền thống đã được áp dụng để han chế xói
mòn đất do mưa to như tạo ruộng bậc thang, xếp đá tạo đường đồng mức, để
bang cỏ tự nhiên theo đồng mức, trồng xen canh để che phủ mặt đất. Đặc biệt
kỹ thuật bản địa tưới nước và giữ nước trong điều kiên địa hình đồi núi phức
tạp đã được áp dụng rất phổ biến ở nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số như làm
guồng, cọn tát nước, ống bương dẫn nước. đào giếng tại ruộng giữ nước. ... đã
giúp cho cây trồng tránh được khô hạn. Đặc biệt những kiến thức về thời vụ
gieo trồng và dự báo thời tiết khi hậu bất lợi đã giúp cho các cộng đồng dân
tộc thiểu số giảm thiệu thiệt hại do thiên tai. Ví dụ người Dao cho biết “khi
thấy trâu đang thả trong rừng mà chạy bỏ về nhà là trời sắp có mưa to chuẩn
bị tránh lũ. Hay mặt nước ao đang bình thường chuyển sang màu xanh rêu 2-3
ngày là trời sẽ mưa to...” Kiến thức bản địa thực sự giúp cho việc sản xuất
nông nghiệp của cộng đồng các dân tộc thiểu số được phát triển bền vững qua
nhiều thế hệ.

phi chính phủ đang làm việc với những người sống tại các vùng gọi là chars,
tức là cồn đất có nguy cơ trở nên biệt lập vào mùa lũ, để nâng những căn
nhà của họ lên cao hơn mực nước lũ bằng cánh dời chúng lên các cột đỡ
hoặc mặt đê.
Những người nông dân ở Ê-cu-a-do đang đào các ao tích nước hình chữ
U, được gọi là albarradas, để giữ nước trong những năm nhiều mưa bổ
sung cho mực nước ngầm trong những năm nhiều mưa bổ sung cho mực
nước ngầm trong những năm khô hạn.
2.3. Tình hình nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở Việt Nam
2.3.1. Biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Theo dự đoán, Việt Nam là một trong số ít nước sẽ phải chịu hậu quả tác
động nặng nề nhất của BĐKH. Mực nước biển dâng sẽ làm mất đi một vùng đất
thấp rộng lớn - các hệ sinh thái đất ngập nước của các đồng bằng lớn nhất cả
nước - nơi ở của các cộng đồng dân cư lâu đời, cái nôi của nền văn minh lúa
nước, vùng có tiềm năng sản xuất nông nghiệp lớn nhất và các sinh cảnh tự
nhiên của nhiều loài bản địa bao gồm cả các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên
nhiên, khu dự trữ sinh quyển.
Theo Van Urk and Misdorp (1996) và Pilgrim (2007), nếu nhiệt độ tăng
2oC, mực nước biển dâng 1m, có thể làm mất 12,2% diện tích đất, là nơi cư trú
của 23% dân số (khoảng 17 triệu người). Riêng với đồng bằng song Cửu Long,
nếu mực nước biển dâng như kịch bản vào năm 2030 sẽ khiến khoảng 45% diện
tích đất của khu vực này có nguy cơ bị nhiễm mặn nặng, mùa màng bị thiệt hại


15

nghiêm trọng do lũ lụt và úng. Nếu mực nước dâng 1m mà không có các hoạt
động ứng phó, phần lớn diện tích ĐBSCL sẽ hoàn toàn bị ngập nhiều thời gian
dài trong năm, và thiệt hại tài sản ước tính lên tới 17 tỷ USD. BĐKH còn ảnh
hưởng đến các thủy vực nội địa (sông, hồ, đầm lầy…) do sự thay đổi nhiệt độ

16

thường kết thúc muộn hơn( tháng 1 đến tháng 2 năm sau). Hơn nữa số cơn
bão có cường độ mạnh hơn, quỹ đạo dịch chuyển dần về vĩ độ phía Nam và
nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thường và trái quy luật của bão và áp
thấp nhiệt đới đã xảy ra ở Việt Nam nhiều hơn trong những năm qua (Lê Thị
Hoa Sen, 2009) [13], (Trần Thục, 2009) [17].
 Lượng mưa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa
trung bình trong 9 thập kỷ vừa qua( 1911 đến 2000) không rõ rệt theo các thời
kỳ và trên các vùng khác nhau, có giai đoạn tăng lên nhưng cũng có giai đoạn
giảm xuống. Số trận mưa lớn diễn ra ngày một nhiều hơn nhưng thời gian có
mưa ngắn lại. Điều đáng quan tâm là, trong một vài năm gần đây, mưa lớn có
thể xuất hiện ở bất cứ tháng nào trong năm và mưa cực lớn vẫn có thể xảy ra
vào các tháng ít mưa.[1], (Trần Thục, 2009) [17].
 Mực nước biển: theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở
các trạm Cửa Ông và Hòn Dấu, mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng
20 cm, phù hợp với xu thế chung của toàn cầu.
2.3.1.2. Dự kiến xu thế BĐKH Việt Nam trong những năm tới.
 Mức tăng nhiệt độ:
Nhiệt độ mùa đông có thể tăng nhanh hơn so với nhiệt độ mùa hè ở tất
cả các vùng khí hậu của Việt Nam. Nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc có
thể tăng nhanh hơn so với các vùng khí hậu phía Nam. Vào cuối thế kỷ 21,
nhiệt độ trung bình năm có thể tăng lên 2,60C ở Tây Bắc, 2,50C ở Đông Bắc,
2,80C ở Bắc Trung Bộ, 1,90C ở Nam Trung Bộ, 1,60C ở Tay Nguyên và 2,00C
ở Nam Bộ so với trung bình thời kỳ năm 1980 đến năm 1999 (Trần Thục,
2009) [17], (Bùi Cách Tuyết, 2008) [20].
 Mức thay đổi lượng mưa:
Lượng mưa mùa khô có thể giảm ở tất cả các vùng khí hậu ở nước ta,
đặc biệt là các vùng khí hậu phía Nam. Lượng mưa mùa mưa và lượng mưa
năm có thể tăng ở tất cả các vùng khí hậu. Vào cuối thế kỷ 21, lượng mưa

Rất cao lũ lụt, xâm nhập mặn của
Biển dâng Nam
nước ngầm
Mùa vụ nhanh hơn, ngắn
Tăng 1-2 o C. Mùa đông
hơn trước đó, phạm vi dịch
ấm lên nhiều hơn so với
Nhiệt độ
Cao
chuyển về những khu vực
mùa hè. Tăng tần số của
vùng cao phía bắc, áp lực
sóng nhiệt
nhiệt, tăng bốc hơi
Tác động đến nguy cơ hạn
Lượng
Thay đổi theo mùa ± 10% Thấp
hán, khai thác thủy lợi
mưa
cung cấp nước
Tăng tốc độ gió, đặc
biệt là ở phía bắc.
Xói mòn đất, giảm khả
Bão gió
Rất thấp
Lượng mưa nhiều hơn
năng thẩm thấu của mưa
với cường độ cao.
Thiên tai
Sự gia tăng ở hầu hết Rất thấp Thay đổi nguy cơ gây tổn hại

Bên cạnh các chiến lược thích ứng, các nỗ lực đế giảm thiểu BĐKH cũng
được chính phủ Việt Nam coi trọng. Các chương trình trồng rừng, bảo vệ
rừng và giảm phát thải trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp đã và đang
được tuyên truyền và xem xét lồng ghép vào các chiến lược phát triển kinh tế
xã hội.
2.3.3. Các kịch bản BĐKH tại vùng Đông Bắc Bộ
Theo kịch bản BĐKH của bộ Tài Nguyên Môi Trường về kịch bản
BĐKH của khu vực Đông Bắc trong đó có tỉnh Bắc Kạn được xây dựng dựa
trên ba kịch bản phát thải BĐKH của Việt Nam. Kịch bản mức phát thải thấp
(B1), phát thải trung bình (B2) và phát thải cao (A2). Ở mức phát thải trung


19

bình, khu vực Đông bắc cũng như khu vực Bắc trung bộ và Tây Nguyên
nằm trong nhóm những khu vực có nhiệt độ trung bình năm tăng nhanh hơn
so với những nơi khác. Nhiệt độ trung bình năm tăng lên khoảng 2,5 oC vào
cuối thế 21. Các chỉ số cụ thể của các kịch bản thay đổi nhiệt độ đươc trình
bày ở bảng 2.2


20

Bảng 2.2: Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (oC) so với thời kỳ 1980 –
1999 ở vùng Đông Bắc Việt Nam
Các mốc thời gian của thế kỷ 21
Kịch bản
2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100
Kịch bản mức
phát thải thấp 0,5

A2
Nguồn: Bộ tài nguyên và môi trường, 2010
Về lượng mưa, theo các kịch bản tổng lượng mưa trung bình hàng năm
của khu vực Đông Bắc tăng lên từ 1,4 % năm 2020 đến 7,3% vào năm 2100
(bảng 4.3). Trong khi đa số các khu vực khác mức tăng phổ biến từ 10-20% .
Tuy tổng lượng mưa năm tăng lên nhưng lượng mưa vào giữa mùa khô (tháng
3 đến tháng 5) giảm từ 3-9 %.
Bảng 2.3. Mức thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ 1980-1999
ở vùng Đông Bắc Việt Nam
Các mốc thời gian của thế kỷ 21
Kịch bản
2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100
Kịch bản mức 1,4
2,1
3,0
3,6
4,1
4,5
4,7
4,8
4,8
phát thải thấp B1
Kịch bản mức
phát thải trung 1,4
2,1
3,0
3,8
4,7
5,4
6,1

đoạn 2010-2020
- Quyết định số 1114/QĐ-UBND ngày 27/6/2011 của UBND tỉnh Về
việc Phê duyệt đề cương và dự toán kinh phí Dự án: Kế hoạch hành động ứng
phó với biến đổi khí hậu của tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2011-2020.
Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, trên cơ sở các chính sách cấp
quốc gia và cấp tỉnh nhiều hoạt động ứng phó và thích ứng với BĐKH được
triển khai ở cấp cộng đồng thể hiện thông qua các văn bản chỉ đạo sản xuất
nông nghiệp như:
- Quyết định số 590/QĐ-UBND ngày 13/4/2011 của UBND tỉnh Về
việc quy định mức hỗ trợ trực tiếp về giống cây trồng, vật nuôi, thuỷ sản để
khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh trên địa bàn tỉnh
Bắc Kạn
- Quyết định số 934/QĐ-UBND ngày 3/6/2011 của UBND tỉnh Về việc
cấp bổ sung kinh phí thực hiện phòng, chống và khắc phục hậu quả hạn hán
vụ Đông - Xuân năm 2010 - 2011
- Chỉ thị số 02/CT-UBND ngày 28/1/2010 của UBND tỉnh Về việc chủ
động phòng trừ bệnh Lùn sọc đen và các bệnh virus khác trên cây lúa, ngô
- Chỉ thị số 05/CT-UBND ngày 11/3/2010 của UBND tỉnh về việc Triển
khai biện pháp cấp bách phòng, chống hạn và phòng cháy, chữa cháy rừng
- Chỉ thị số 11/CT-UBND ngày 16/6/2010 của UBND tỉnh Về công tác
phòng, chống thiên tai, lụt, bão và tìm kiếm cứu nạn năm 2010.


22

Các văn bản chỉ đạo ở đây vẫn chỉ tập trung vào các giải pháp khắc
phục hậu quả của thiên tai, đây vẫn là hành động xử lý tình huống và bị động.
Tuy nhiên, trên địa bàn tỉnh, huyện cũng đã có những văn bản chỉ đạo sản
xuất và xây dựng các phương án sản xuất nông nghiệp chủ động trong đó có
lồng ghép việc thích ứng với BĐKH như chống hạn hay phòng chống rét cho

- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm nghiên cứu và phát triển nông lâm
nghiệp miền núi - ADC
- Thời gian thực hiện: Từ ngày 06/02/2011 đến ngày 30/04/2012
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Thanh Vận
- Tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp và sinh kế của người dân
- Hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp
- Hệ thống cây trồng trên địa bàn xã và mô hình sản xuất thích ứng biến
đổi khí hậu
- Một số mô hình cây trồng thích ứng với BĐKH dựa vào kiến thức bản địa
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp thu thập thông tin
Trong quá trình nghiên cứu một số công cụ chính được sử dụng để thu
thập thập thông tin như sau:
3.4.1.1. Thu thập và nghiên cứu thông tin thứ cấp
Các thông tin thứ cấp được thu thập thông qua các tài liệu hiện có ở cấp
xã, huyện và tỉnh liên quan đến các lĩnh vực sau:
- Các báo cáo liên quan đến điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của xã
- Báo cáo thiệt hại do thiên tai hàng năm của huyện, xã
- Báo cáo kết quả sản xuất nông nghiệp 2010
- Số liệu khí tượng thủy văn của xã theo thời gian


24

- Các kịch bản biến đổi khí hậu cho VN, các tỉnh phía Bắc
- Các nghiên cứu về kiến thức bản địa và cây trồng bản địa của xã và
các vùng khác trên cả nước.
- Các chính sách phát triển nông nghiệp nói chung và ứng phó BĐKH
của huyện, tỉnh

3.4.1.3. Phỏng vấn sâu tại địa phương:
Công cụ này được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu này nhằm tìm ra
những thông tin sâu về kiến thức bản địa, kinh nghiệm của người dân trong
SXNN thích ứng với BĐKH. Tại mỗi xã các thành phần tham gia phỏng vấn
sâu bao gồm:
- Người già: 3 nam và 3 nữ
- Người am hiểu: 3 người
- Cán bộ lãnh đạo xã: 01 cán bộ Hội nông dân và 01 cán bộ Hội Phụ nữa
- 3 người hiểu biết nhất được chọn ra từ các nhóm thảo luận
3.4.2. Phương pháp thống kê và đánh giá hiệu quả
Phân tích và xử lý số liệu thu thập được nhằm đánh giá được hiệu quả
của cây trồng. Số liệu thu thập được xử lý bằng Excel.
3.4.2.1. Phân tích hiệu quả kinh tế
Chỉ tiêu đánh giá bao gồm:
- Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ sản phẩm sant xuất ra trong kỳ sử
dụng đất ( một vụ )
- Chi phí trung gian (IC): là tòa bộ chi phí vật chất và dịch vụ sản xuất
qui ra tiền sử dụng trực tiếp cho quá trình sử dụng đất( giống, phân bón, thuốc
hóa học, dụng cụ, nhiên liệu, nguyên liệu)
- Giá trị gia tăng (VA): là giá trị sản phẩm vật chất mới tạo ra trong quá
trình sản xuất, trong một năm hoặc trong một chu kỳ sản xuất, được xác định
bằng giá trị sản xuất trừ chi phí trung gian
VA = GO - IC
3.4.2.2. Phân tích hiệu quả xã hội
Các chỉ tiêu xã hội gồm có:
+ Mức thu hút lao động: nhu cầu sử dụng lao động, rạo ra việc làm của loại
cây trồng
+ Giá trị một ngày công lao động của loại cây trồng
+ Hiệu quả đồng vốn đầu tư vào sản xuất
3.4.2.3. Phân tích hiệu quả môi trường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status